**
Khi tâm bạn dừng tạp niệm là đã vào cận định, lúc nầy đừng nghĩ ngợi gì về đắc thiền, quang tướng, âm tướng, hương tướng, tất cả các điều trên đây đều do sự tích tụ điện vũ trụ (prajna) +không khí mà ra, nếu là quang tướng sẽ xuất hiện ở phía dưới mủi sáng như cái bông gòn và to dần, (còn ánh sáng mà bạn thấy trước mặt là huệ quang, không phải quang tướng), chỉ cần tập trung nó và hiệp nhất nó với điểm xúc chạm, đừng tưởng nghĩ về nó một mình, nó (nimitta) + khí + thân hiệp lại thành một và lúc nào cũng giữ đều chánh niệm, nếu ở trạng thái nầy 3 thời thiền liên tiếp , mỗi thời trên 1 giờ 30 phút , bạn sẽ vượt qua sơ thiền, lúc đó tâm và thân an lạc, xung hỹ toàn thân,người như muốn chực bay lên, chỉ còn có cảm giác ở cái đầu là của mình,cái mủi là của mình, tất cả thân mình, chân tay như tan biến, hoặc phình to ra, hơi thở nhỏ dần, lúc nầy bạn cứ tiến vào thiền quán tứ niệm xứ, bạn sẽ tự hỏi lúc đó tôi đã cận định còn niệm đâu mà niệm, không đâu lúc nầy là cái thô tâm bị kềm theo khuông của "chánh niệm chỉ" nên cần phải dụng "chánh niệm quán " , nhưng vi tế tâm bắt đầu khởi, bạn tứ tiến hành dò từng xứ một .
- Xin cho hỏi, vậy tác ý đến hơi thở để cho hơi thở hoà nhập vào ánh sáng HS thấy và thân an tĩnh mà không tác ý tới cảnh xung quanh thì sẽ đắc Sơ thiền phải không ạ? Tâm an lạc, thân hỷ sung mãn, người nhẹ mất trọng lượng, chỉ còn ý thức ở mũi và sự chú ý là những cái HS có. Đúng là cái tâm vi tế nếu không nhờ Tuệ quán thì không thấy được, còn quán niệm xứ nhất là quán Tâm thì thấy rõ mồn một sự sinh diệt của nó dù nhanh thật là nhanh, vừa biết là nó biến mất ngay. Chánh niệm chỉ là chỉ tập trung vào một cảnh duy nhất nên không thấy Tâm vi tế, còn Chánh niệm quán là thấy rất rõ nhờ nương Định nên nhìn rõ các quá trình diễn tiến của Tâm vi tế ấy - HS hiểu đúng ý Ga tê chưa ạ?

- Xin hỏi thêm, vì sao Ga tê nói ánh sáng mà HS thấy là Huệ quang, ấy từ đâu mà có ? Trong khi quan sát tâm sinh diệt, càng nhìn lâu thì ánh sáng ấy càng rực rỡ.


**
Điều quan trọng của đạt nhất thiền là ở cả hai tầng thiền định và quán, không phải chỉ ở tầng định không mà thôi,đây là sự lầm lạc tai hại, vì khi đạt được cận định ở thiền định, người ta không còn muốn bước vào thiền quán, và cho là không cần thiết, nếu không thiền quán thì không bao giờ bộc lộ được vi tế tâm, mà không thấy được vi tế tâm, dù cho định sâu cách mấy tuệ cũng ở mức thường và trung bình, và nó chỉ là tuệ mà không thể là huệ .
- cái này HS đồng ý, nhưng HS gặp trường hợp ngược lại là chỉ có tu tập thiền quán mà bỏ qua thiền chỉ, lại cho là vô ích nên cái kết quả tu quán mà không có chỉ thì 'không bao giờ bộc lộ được vi tế tâm, mà không thấy được vi tế tâm, dù cho định sâu cách mấy tuệ cũng ở mức thường và trung bình, và nó chỉ là tuệ mà không thể là huệ.' Cho nên HS muốn có cả 2 chỉ quán song tu song tiến thì mới đi xa hơn được, nhìn sâu vào bên trong tâm thức được. Xin Ga tê chỉ giáo thêm !

**
Cái chính của thiền không phải ở ngồi thiền, mà sau khi xả thiền bạn phải thân hành niệm và mọi tư thế cũng đều tứ niệm xứ, vấn đề chính đừng bao giờ xem đồng hồ, đừng bao giờ so sánh tác dụng thiền của hôm nay và hôm qua, đừng bao giờ mong đắc thiền, cần phải tu nhiều pháp bổ túc như lễ lạy Phật mỗi ngày hàng ngàn lần, niệm tâm từ, niệm ân đức Phật, thỉnh Phật chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế, sám hối ,hồi hướng.....Nếu bạn miên mật trong thất 21 ngày , mỗi ngày thọ thực 1 buổi Ngọ, đắc thiền chẳng bao lâu.
- cái này HS không đồng ý lắm nhưng cũng không phủ định gì thêm. Cái này nghe khẩu khí giống Chú VQ quá, coi bộ trộn pháp rồi nhưng cũng hay đó, HS cũng có trộn pháp nhưng không nhiều như vậy đâu.

**
Phật không bao giờ dạy ngồi thiền là phải quên thân quên hơi thở, mà phải niệm thấy thân mình đang hành, thấy người mình đang thở trong sự tỉnh giác vi tế, để cái chơn tâm của mình nó thấu tỏ được cả cái vô thức 95% điều khiển cái thân.Bạn có thể vẫn sống , thân nằm yên , óc không nghĩ, một đời sống thực vật, 5% hoạt động ý thức không hoạt động, nhưng 95 % hoạt động vô thức vẫn đang chạy trơn tru trong thân tâm bạn, Phật tìm ra 5% kia là phàm tâm, 95% nầy mới là chơn tâm, vì nó tự động, nó thuộc về tánh tự nhiên thuần thục mà không cần ai huấn luyện, chẳng có ai chỉ cho tim phải đập bao nhiêu nhịp /phút khi bạn mệt, hay thở bao nhiêu hơi khi lặn xuống, người tu thường bị cái danh từ mỹ miều hồi quang phản chiệu- tự tánh hiển bày, mà quên đi lời Phật dạy.
- Nếu nói lý vô ngã thì e rằng HS thấy cái định nghĩa Chơn tâm không có cơ sở, nó chỉ là quy trình vận động của danh uẩn mà thôi, người thường không thấy vì không học không hiểu, còn người có học có hành sẽ hiểu được phần ngủ ngầm kia. Cõi các vị trời Vô Tưởng không có danh uẩn mà chỉ có sắc uẩn, thì trường hợp này là đời sống thực vật chiếm 100% hoạt động sinh mạng của chư vị ấy, dù nhân tái sanh vào đây là tâm quả Tứ Thiền. HS cũng không thấy hứng thú với danh từ Hồi quang phản chiếu. Nhân đây cho HS hỏi Ga tê hiểu thế nào về cái Ta trong kinh và cuộc sống thực tế : như Ga tê nè, HS nè, người này người kia là cái Ta nào, phải hiểu thế nào; còn cái Ta trong kinh Vô Ngã Tướng là cái Ta chân lý thì phải hiểu thế nào cho đúng - ví dụ: cây chuối không có lõi nhưng vẫn sinh trái, nhảy cây con vậy nếu nói con người không có Ta thì cái gì làm cho chúng ta tu hành, cái gì thọ quả, cái gì chứng thiền, cái gì tái sanh ?

Xin cám ơn Ga tê thật nhiều !