2.
Tâm Tịnh (Cittavissudhi): Để tâm tại nhân trung theo dõi hơi thở ra vào (ānāpānassati) một cách thuần thục. Giai đoạn này định mà hành giả đạt được gọi là
Đẳng Phần Định (Sadisūpacāra).
Với sự nỗ lực của hành giả tiếp tục niệm hơi thở ra vào một cách thuần thục hơn, các phiền não một phần nào lắng dần thì 3 thiền tướng (nimitta) sau đây xuất hiện: (1)
Biến tác tướng (Parikamma-nimitta): hành giả sẽ thấy những sợi khói có màu lam nhạt xuất hiện trước mặt. (2)
Thủ tướng (Uggaha-nimitta): màu trắng, (3)
Tợ tướng (Paṭibhāga-nimitta): màu sáng hoặc một khối trong suốt như viên ngọc. Một khi 3 thiền tướng trên xuất hiện,
có thể nói hành giả bắt đầu vào được Cận Định (Upacāra-samādhi).
Đây là giai đoạn hơi khó khăn và mất thời gian đối với một số hành giả, đòi hỏi sự nhẫn nại và kiên trì của hành giả rất nhiều. Nếu thành tựu được giai đoạn này rồi thì các giai đoạn kế tiếp có thể đi nhanh hơn.
Tiếp đến hành giả được hướng dẫn thiền tập bốn trạng thái thiền Sắc giới. HT thiền chủ là vị hướng dẫn rất thành tựu về bốn trạng thái thiền này. Có một vị Sa-di khoảng 10-12 tuổi đang ở đó, được HT ấn chứng là xuất nhập sơ thiền đến tứ thiền tự tại. Nghe nói, nhiều vị tu ở đó khoảng 5 – 6 tháng đều thành tựu bốn thiền sắc giới này cả.
Qua được tứ thiền, hành giả được hướng dẫn quán niệm 32 thể trược (kōṭṭhāsa) trong thân, Quán niệm xương trắng (Aṭṭhikōṭṭhāsa), Quán niệm Ka-si-na màu trắng (Ōdātakasiṇa).
Qua được giai đoạn trên, hành giả được dạy 4 trạng thái thiền Vô sắc giới (Arūpa-jhāna).
Trong một số trường hợp Tứ thiền Vô Sắc không cần thiết dạy cho thiền sinh, nên trong hoạ đồ của HT không thấy đề cập tới, nhưng trong thực tế Ngài có dạy cho một số thiền sinh tại thiền viện.
Qua Tứ Thiền Sắc Giới, các phép quán niệm như:
Từ Bi Quán Niệm (Metta Kammatṭṭhāna),
Ân Phật Quán Niệm (Buddhānussati kammaṭṭhāna),
Bất Tịnh Quán Niệm (Asubha kammaṭṭhāna),
Tử Quán Niệm (Maranānussati kammaṭṭhāna) đều được hướng dẫn.
Bốn phép quán niệm trên được gọi là
bốn phép Quán Niệm Phòng Hộ (Caturārakkha kammaṭṭhāna), các vị độc cư núi rừng cần phải học, đôi khi còn học trước cả các phép quán niệm khác.
Từ giai đoạn tập nhập sơ thiền đến giai đoạn an trụ tâm trên tứ đại để quán chiếu, hành giả có thể rơi vào hai trạng thái định: An Chỉ Định (Appanā Samādhi) và
Cận Hành Định (Upacāra Samādhi).
Đỉnh cao của phép quán này trong giai đoạn này là quán niệm Giới Đề Mục (Dhātukammaṭṭhāna), Bốn đại (Mahābhūta) và các đặc tính, tướng trạng (Lakkhaṇa) của nó.
Đây là hướng tổng quát của lộ trình tu tập, nhưng không nhất thiết hành giả nào cũng đi rập khuôn. Có vị được hướng dẫn chọn một trong 4 đại, ví dụ quán Kasiṇa trắng (Ōdātakasiṇa) ngay khi đạt được tứ thiền. Có trường hợp từ Tam thiền hành giả được dạy Từ Bi Quán Niệm (Metta Kammaṭṭhāna), và cũng có thể học cách quán 3 tâm vô lượng khác nữa. Điều này tuỳ thuộc vào căn tính của thiền sinh và sự linh động uyển chuyển của Thiền Sư. Nói tóm lại, các đề mục trong 7 phần của thiền định đều được hướng dẫn: (1) mười đề mục trước mặt (kasiṇa), (2) mười đề tử thi (asubha), (3) mười đề tưởng nhớ (anussati), (4) bốn đề vô lượng tâm (brahma-vihāra), (5) bốn đề vô sắc (ārupa), (6) một đề thực phẩm nhơ bẩn (āhāre-paṭikūla-saññā), (7) một đề liễu tri tứ đại (catudhātu-vavatthāna). Và dĩ nhiên lộ trình đó không nhất thiết phải đi hết một cách chi tiết. Ví dụ, hành giả được hướng dẫn chọn một trong 4 đại quán niệm, khi quán niệm thành công, các đại khác có thể được giản lược.
Như đã nói ở trên, đôi lúc thiền sinh không thành tựu khi khởi động bằng quán niệm hơi thở thì thiền sinh chọn lộ trình thứ hai như sau:
Chọn một trong 4 đại để quán các tướng trạng của nó. Khi 3 thiền tướng xuất hiện thì các phép quán 32 thể trược trong thân (thirty-two kōṭṭhāsas), quán xương trắng (Aṭṭhikōṭṭhāsa), Ka-si-na trắng (Ōdātakasiṇa) được dạy tiếp. Sau đó qua 4 thiền sắc giới (rūpa-jhāna), rồi qua 4 pháp quán niệm phòng hộ (Caturārakkha kammaṭṭhāna).
3.
Kiến Tịnh (Diṭṭhi-vissuddhi)
Nhờ sự thành tựu của Tâm Thanh Tịnh, hành giả có thể tiếp tục quán sát danh sắc và thành tựu bốn trí: (1) Sắc Nhiếp Thọ Trí (Rūpa pariggaha-ñāṇa), (2) Danh Nhiếp Thọ Trí (Nāma pariggaha-ñāṇa), (3) Danh Sắc Nhiếp Thọ Trí (Nāmarūpa pariggaha-ñāṇa), (4) Danh Sắc Sai Biệt Trí (Nāmarūpa vavatthāna-ñāṇa). Bốn loại trí này gọi tổng quát là “Danh Sắc Thức Biệt Trí” (Nāmarūpa pariccheda-ñāṇa) [1].[1] Đây là Trí đầu tiên hành giả đạt được trong 16 loại trí từ Kiến Thanh Tịnh cho đến hết lộ trình của nó. Hành giả trong giai đoạn này có thể nhận chân và phân biệt thế nào là danh và sắc một cách tường tận, nghĩa là quán chiếu sự sanh sanh diệt diệt của danh sắc một cách rõ ràng. Một số vị gọi là tách được danh ra khỏi sắc và từ đó làm chủ một phần nào thân tâm của mình.
4.
Đoạn Nghi Tịnh (Kaṅkhāvitaraṇa-vissuddhi)
Trong lộ trình này, hành giả được hướng dẫn Quán Thập Nhị Nhân Duyên. Hai phương pháp được chọn để quán đó là Phép Quán Thứ Nhất và Phép Quán Thứ Năm. Tôi nghe những vị tu lâu năm ở đó nói lại, thành tựu hai phép quán này, hành giả có thể nhìn thấu được một kiếp, hai kiếp hoặc 3 kiếp trong quá khứ của mình. Thành tựu hai phép quán này, hành giả đạt được Duyên Nhiếp Thọ Trí (Paccayapariggaha-ñāṇa) [2]. Đây là trí thứ 2 trong 16 loại trí trong lộ trình Thất Tịnh – Thập Lục Quán Trí. Tri kiến đạt được của hai giai đoạn 3 và 4 được gọi là Tri Biến Tri (Ñāta-pariññā).
5.
Đạo Phi Đạo Tri Kiến Tịnh (Maggāmaggañāṇa-dassanavissuddhi)
Trong giai đoạn này hành giả đạt được hai loại trí, đó là: Tư Duy Trí (Sammasana-ñāṇa) [3] và Sinh Diệt Tuỳ Quán Trí (Udayababaya-ñāṇa) [4]. Hai trí trên cũng có thể gọi tắt lại là Độ Biến Tri (Tīraṇa-pariññā). Trong giai đoạn này hành giả thật sự đi vào lộ trình Minh Sát Chiếu Kiến (Vipassanā-kammaṭṭhāna). Đặc tính (lakkhaṇa), tác dụng (rasa), hiện trạng (paccupaṭṭhāna), và cận nhân (padaṭṭhāna) của các sự vật hiện tượng được nhìn đúng như bản chất, tướng trạng của chúng.
6.
Hành Đạo Tri Kiến Tịnh (Paṭipadāñāṇadassana-vissuddhi)
Ở giai đoạn này hành giả đạt được 9 loại trí kế tiếp, đó là: Hoại Diệt Tuỳ Quán Trí (Bhaṅga-ñāṇa) [5], Bố Uý Hiện Khởi Trí (bhaya-ñāṇa) [6], Quá Hoạn Tuỳ Quán Trí (Ādinava-ñāṇa) [7], Yểm Ly Tuỳ Quán Trí (Nibbidā-ñāṇa) [8], Dục Giải Thoát Trí (Muñcitukamyatā-ñāṇa) [9], Thẩm Sát Tuỳ Quán Trí (Paṭisaṅkhā-ñāṇa) [10], Hành Xả Trí (Saṅkhārupekkhā-ñāṇa) [11], Tuỳ Thuận Trí (Anuloma-ñāṇa) [12], Chủng Sanh Trí (Gotrabhu-ñāṇa) [13].
7.
Tri Kiến Tịnh (Ñāṇadassana-vissuddhi)
Tới giai đoạn này nghĩa là hành giả đã vô được 4 Đạo (Magga). Trong giai đoạn này, 3 trí sau sẽ hiện khởi: Đạo Trí (Magga-ñāṇa) [14], Quả Trí (Phala-ñāṇa) [15], và cuối cùng là Tỉnh Sát Trí (Paccavekkhaṇa-ñāṇa) [16].
Mười ba (13) loại trí từ giai đoạn thứ 6 đến thứ 7 có thể gọi tắt lại là
Đoạn Biến Trí (Pahāna-pariññā). Tới đây, đối với một hành giả, ”
sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong, không còn trở lui đời sống này nữa.”
********************************
Đây là lộ trình căn bản mà HT và các vị giáo thọ ở thiền viện hướng dẫn thiền sinh tu tập. Vì thoả mãn tính tò mò nghiên cứu, và cũng để giúp cho những vị không biết tiếng Anh (tôi đã gặp ở Miến và ở vài nơi khác) bất đắc dĩ trình bày tóm tắt lộ trình tu trên.
Bookmarks