Trang 2 trong 5 Đầu tiênĐầu tiên 12345 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 21 tới 40 trên 84

Ðề tài: Sao ngày nay thầy chùa khác ngày xưa quá?!?

  1. #21

    Thumbs down

    Trích dẫn Nguyên văn bởi silicon11 Xem Bài Gởi
    Hỏi :
    - Sao thầy chùa ngày nay khác xưa quá, đi xe xịn, mặc đồ thơm phức, đỏm dáng nhìn không giống người tu ? Thầy chùa gì mà giàu quá vậy?
    TL :
    - Pháp Phật tu là để cho con người được sung sướng hạnh phúc, chớ ai tu mà cũng khổ nghèo hoài, vậy mấy người nghèo tu làm chi cho khổ thêm? Nên nhớ rằng sư là người trong Tam bảo ( Phật , Pháp, Tăng), mà cõi Phật Cực Lạc ai cũng biết làm bằng ngọc quí, vàng bạc đầy dẫy, như vậy có lý nào chúng Tăng lại phải nghèo khổ đi lang thang ? Đó là chưa nói, tu là chuyển nghiệp, tướng xấu sinh ra nghèo nàn khốn khổ, tu rồi tướng dần dần chuyển sang tốt, vậy thì giàu có phúc đức đầy đủ là chuyện bình thường thôi ! Người dân mà chịu tu, cúng dường niệm Phật, trì tụng kinh pháp, thì cũng khấm khá rồi giàu có lên vậy, chứ đâu riêng gì mấy nhà sư đâu !
    Hỏi :
    - Sao mấy ông sư ngọt ngào giọng lưỡi quá khiến con gái nó mê, riết rồi con nào cũng ham vô chùa hơn là đi với bồ ! Bộ bị sư bỏ bùa hay sao?
    TL:
    - Đã là sư thì không ai lại làm cái chuyện bỏ bùa ác đức như vậy. Bây giờ thử đem so sánh một người đàn ông và một vị sư coi : Một bên lo ăn thịt cá, lại ăn những món ô uế rồi nhậu nhẹt mà nói tầm bậy, lại hung dữ đánh mắng la hét ; Một bên ăn chay rồi trì tụng kinh pháp, nói một lời ra cũng là làm an lòng cho người khác, không bao giờ nói nặng huống chi tới mắng chửi người ta; rượu đâu có uống mà la lối om sòm ?
    Vậy một cô con gái, đứng giữa hai người như vậy, nếu là bạn, bạn sẽ chọn ai đây ? Bởi vì thấy đạo đức của nhà sư cao trọng, nên mấy cô gái cảm động mà theo học pháp tu hành. Còn chuyện cô đó yêu ông sư, thì đó là tại cổ, chứ đâu phải tại ông sư quyến rũ gì đâu ?
    Mà giả sử có hoàn tục, thì ông sư kia lấy vợ cũng là chuyện thường tình, cá Tỳ kheo được hoàn tục mà bạn !
    Hỏi :
    - Sao Việt kiều hay đại gia bỏ tiền ra cúng chùa xây chùa to tổ bố, sao không lấy tiền đó mà đem cho người nghèo có phải hơn hông?
    TL:
    - Tiền nhà giàu thì có người làm chuyện này, người làm chuyện khác, chớ ai cũng cho người nghèo hết, thì hóa ra sư ở trong chùa đât sét à ? Cõi Phật như trên đã nói, giàu có đầy đủ, thì chùa là nơi cúng dường Phật, Phật cũng xui khiến cho đầy đủ khang trang như cõi Niết Bàn vậy.
    Đó là chưa nói, người nghèo dễ thương thì ít, phần nhiều ăn trộm, ăn cướp, gái điếm, con chửi cha mắng mẹ, mẹ đánh bài cha nhậu nhẹt đề đóm..vv, tất cả tệ nạn mà sinh ra đói nghèo. Chớ thật ra người chân chính hiền lương, không người giúp thì Trời cũng giúp, khó mà bị đói rét. Một khi bạn đã làm việc ác, phải sống trong cảnh nghèo nàn khốn khó, thì cho dù con người có lòng nhân ái bao nhiêu, cũng khó mà giúp bạn được, trừ phi bạn biết lẽ ăn năn, tu tập mà giảm cái nghiệp ác của mình đã từng gây ra .
    :pig::o:hypnotized::icon_redface:
    Đức Phật ngày xưa bỏ cung son điện ngọc ra đi vì đời tìm đạo hướng dẫn chúng sanh giải thoát, Ngài tu khổ hạnh, đâu màng lợi danh, thực hành pháp bố thí rất khổ ái để cầu đạo, mục đích của tu là giác ngộ, sửa đổi tâm tánh ....ông kiếm đâu ra mấy câu vấn đáp xàm xí, ngụy biện cho thói hư tật xấu biến dị của hệ thống sư thầy ngày nay mà dám trả lời như vậy là đúng??? còn chấp vào bản ngã, đắm say tài, sắc, danh, thực, thùy thì đừng tự xưng mình là đệ tử Phật môn...quá hổ thẹn vì vấn đề này, Nam mô a di đà phật!green3

  2. #22

    Mặc định

    Haiza Tăng bảo ko phải là nơi cho chúng ta phê phán, họ làm sai thì họ ko xứng áo cà sa và mọi người sẽ xa lánh họ, chúng ta ko nên có những ác niệm với tăng bảo, tăng bảo là nơi tin tưởng thuần tịnh và là những người hoằng duơng chánh pháp của đức Phật, họ đã có ấn chứng niết bàn rồi... Ai chê trách tăng bảo tức là ko cung kính tam bảo , ko xứng danh Phật tử.

    Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai
    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
    Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát

  3. #23

    Mặc định

    đáng tiết cho lời loạn luân này . kẻ ăn thịt uống rượu . nói láo . được cho là người tài giỏi.
    kẻ ăn chay . nói lời chân thật được cho là kẻ mê tín . nhà quê
    ráng tu để chết .
    đừng để chết rồi mà không có tu .

  4. #24

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Người học Phật Xem Bài Gởi
    Haiza Tăng bảo ko phải là nơi cho chúng ta phê phán, họ làm sai thì họ ko xứng áo cà sa và mọi người sẽ xa lánh họ, chúng ta ko nên có những ác niệm với tăng bảo, tăng bảo là nơi tin tưởng thuần tịnh và là những người hoằng duơng chánh pháp của đức Phật, họ đã có ấn chứng niết bàn rồi... Ai chê trách tăng bảo tức là ko cung kính tam bảo , ko xứng danh Phật tử.

    Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai
    Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
    Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát
    Những lời lẽ thật đúng đắn.
    Đúng thực, ngày nay thầy chùa thật giả lẫn lộn nhau. Bản thân người bình thường cũng không phân biệt được thật giả. Tốt nhất không nên phê phán họ. Như bác NHP nói: "Họ làm sai thì họ không xứng với áo cà xa và mọi người sẽ xa lánh họ"
    Đời là thế mà lại không phải thế.
    Mắt tuy nhìn không quán vẫn sai,
    Tai tuy nghe không trí vẫn phí hoài.
    Đời là thế, đừng tin là như thế.

  5. #25

    Mặc định

    Chấn hưng Phật pháp là gì? Không lẽ mắt thấy tai nghe rồi bỏ mặc ....Chúng ta không khinh miệt Tăng bảo nhưng cần lên tiếng bài trừ thói hư, tật xấu do tình trạng mượn đạo tạo đời gây không ít tiếng xấu ảnh hưởng đến Phật giáo ....Con sâu làm rầu nồi canh, tuy biết là sức người có hạng và cũng không vì tánh sân si mà chúng ta nên có phương thức giáo hóa những kẻ mượn danh tu hành để làm điều xằng bậy, để Phật giáo ngày 1 phát triển theo hướng chân, thiện, mỹ ...đó là mơ ước không chỉ riêng tôi mà còn là khát khao của những người một lòng vì phật, đôi điều trăn trở .....Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu ni Phật!

  6. #26

    Mặc định ôi trời

    Trích dẫn Nguyên văn bởi vấn_đạo Xem Bài Gởi
    1./Thế nào là đức tin sống ? Cho ví dụ cụ thể

    2./Thế nào là đức tin chết ? Cho ví dụ cụ thể

    3./Cho ví dụ về trường hợp đức tin bị lợi dụng.

    Nếu không trả lời được thì bạn giống như cọn vẹt phát âm về mấy cái đức tin vậy :D

    :D :) ;) :P
    anh mà chưa gặp những trường hợp này hẳn anh còn nhỏ và ấu trĩ lắm

  7. #27

    Mặc định

    Mình xin trích nột số bài viết về thái độ của người Phật tử khi đến chùa để các bạn tham khảo, mình nghĩ một số thầy hiện nay ngày càng xa rời chánh pháp một phần cũng là do lỗi lầm của Phật tử. Chúng ta nên tự cảnh tỉnh bản thân và giúp mọi người nhận ra sai lầm
    PHẬT GIÁO TRONG MẠCH SỐNG DÂN TỘC
    Chương IV
    THÁI ĐỘ SAI LẦM CỦA PHẬT TỬ VIỆT NAM HIỆN TẠI
    A. THÁI ĐỘ SAI LẦM CỦA PHẬT TỬ BÌNH DÂN
    Người bình dân vì thiếu phương tiện học hỏi chánh pháp nên không phân biệt được Phật giáo và Thần giáo. Hơn nữa, Phật giáo là nền giáo lý cao sâu, nếu không phải người giàu suy tư nhiều chiêm nghiệm thì không sao thấu đạt nổi. Người bình dân thời giờ hiếm hoi, tâm hồn bình dị, làm sao hiểu thấu được những lẽ siêu thoát của Phật dạy. Do đó, họ có những tin hiểu sai lầm như sau:
    1.- THIÊN HÌNH THỨC NGHI LỄ
    Người bình dân đến với Phật giáo chú trọng nhiều về hình thức nghi lễ. Qui y là để khi nào bệnh nhờ thầy cầu an, khi chết nhờ thầy cầu siêu. Cho nên trong gia đình có đứa bé ấm đầu là chạy thỉnh thầy Trụ trì về nhà cầu an. Nếu trong thân quyến có tang, đến ngày tuần thất thì thỉnh thầy về nhà tụng kinh suốt đêm. Vào chùa, bất cứ bàn thờ Phật hay bàn thờ vong đều hì hục lễ bái và lâm râm khấn nguyện. Cứ tin rằng lạy càng nhiều thì phước càng lớn. Đi chùa những ngày sóc, ngày vọng để cúng kính lễ bái, ngoài ra không cần biết gì nữa. Họ quan niệm tu hành rất giản dị, ai thường cúng kính là người đó tu nhiều. Ông thầy Trụ trì nào thường tổ chức cầu an, cầu siêu, cúng cô hồn, cúng sao... là ông thầy ấy tu hành tinh tấn. Người Phật tử nào bỏ tiền nhiều, xin lễ này, tổ chức lễ nọ cho là người Phật tử thuần thành chân chánh. Xuất tiền in kinh ấn tống thì chọn ròng rặt các nghi thức cầu an, cầu siêu, kinh Tam Bảo, Địa Tạng v.v... Nếu ai giới thiệu ấn tống quyển “Lịch sử Phật giáo” cần thiết hoặc “Những bài giảng” có giá trị thì họ lắc đầu từ chối, bảo rằng: “Ấn tống sách đó thì ít phước!” Bởi nhận định này nên Phật giáo càng ngày càng đi sâu vào hình thức nghi lễ.
    2.- TIN PHẬT NHƯ VỊ THẦN LINH
    Người bình dân đến với đức Phật để cầu ban phước, che chở, ủng hộ hơn là tìm giác ngộ. Người ta nghĩ rằng: có tai nạn cầu Phật, Phật sẽ cứu độ cho. Vì vậy ngày bình không cần đến chùa, chờ khi cần cầu xin một việc gì mới mang hương đăng đến chùa cầu nguyện. Thật là:
    Hữu tật thì bái tứ phương,
    Vô tật đồng hương chẳng mất.
    hoặc:
    Nghiêng vai ngửa vái Phật trời,
    Đương cơn hoạn nạn, độ người trầm luân.
    Quan niệm Phật như vị thần linh chỉ coi việc ban phước, giáng họa. Vì vậy, người ta không ngại gặp Phật thì cúng, gặp thần thì lạy, gặp ma quỉ thì cầu xin. Bởi trên cương vị ban phước giáng họa, họ không phân biệt đâu trọng đâu khinh, miễn vị nào đem lại được những điều cầu nguyện của họ là linh thiêng, bằng không thì hết linh ứng. Hết linh ứng thì họ bỏ không theo nữa, dù Phật cũng thế. Do đó, trong dân gian những cốt Cô, cốt Cậu đều được Phật tử tín ngưỡng qui y. Vì những Cô, Cậu ấy đã báo cho họ biết những tai nạn sắp đến và đã cho bùa chú để họ dán trong nhà khiến con cháu mạnh giỏi, làm ăn phát đạt. Niềm tin Phật như vậy, họ rất dễ tin mà cũng rất dễ bỏ, nếu một sở nguyện được thành, hoặc không toại nguyện.
    3.- TIN PHẬT QUA NHỮNG HÌNH THỨC TÀ GIÁO
    Có những người đến với Phật, không do hiểu Phật pháp mà nhờ ông Đồng, bà Cốt mách phải qui y Phật sẽ khỏi tai nạn chẳng hạn, họ liền đến chùa xin qui y. Hoặc có người do xin xăm hay bói quẻ, trong xăm quẻ dạy theo Phật hay thờ Phật thì mọi sự an lành..., họ liền phát nguyện qui y Phật. Hoặc vị Trụ trì có học bùa chú trừ ma ếm quỉ, người có con bệnh đến nhờ thầy trị chữa, nếu con lành bệnh liền xin qui y Phật...
    B. THÁI ĐỘ SAI LẦM CỦA GIỚI TRÍ THỨC NGHIÊN CỨU PHẬT
    Đa số người trí thức gần đây chịu khó nghiên cứu Phật giáo, tìm thấy những triết lý cao siêu trong Tam Tạng giáo điển, họ tỏ vẻ thích thú; nhưng nhìn lại hình thức cúng kính, nghi lễ trong chùa chiền, họ cực lực phản đối, cho đó là sự sai lạc lớn lao đáng trách. Giới trí thức y cứ những điểm như sau để phàn nàn Phật giáo hiện tại.
    1.- CĂN CỨ LÝ NHÂN QUẢ
    Căn cứ lý nhân quả, mình gây nhân thì mình chịu quả, dù cha con cũng không thay thế nhau được, huống là kẻ khác. Nhân đã gây thì quả phải chịu; nguyện cầu, cúng tế, làm phước... của người khác không liên hệ gì đến người này cả. Như A ăn thì A no, không thể A ăn mà B no được.
    Vì thế, những người khuyên cầu nguyện, cúng dường, bố thí... chỉ gây thêm sự mê tín dị đoan, trong Phật giáo không thừa nhận điều đó. Bởi nhận xét trên, nên giới trí thức cực lực phản đối việc cúng dường, cầu nguyện..., cho hành động như thế là sai Phật pháp, là bị nhóm người tu lợi dụng.
    2.- CĂN CỨ THUYẾT VÔ NGÃ, VÔ TRƯỚC
    Nhìn vào Phật giáo thấy thuyết vô ngã, vô trước thật là hệ trọng. Nếu người tu không phá được ngã chấp thì không sao giải thoát được. Muốn dứt ngã chấp thì tự mình phải lắm công phu trừ diệt. Không ai có thể làm cho ai được giải thoát, nếu người ấy không dứt trừ ngã chấp thật sự. Người không tự cố gắng phá trừ ngã chấp, mà sau khi chết, trong thân quyến thỉnh chư Tăng đến cầu siêu, mong được giải thoát thật là điều vô lý.
    Phật giáo nhằm vào tự lực, mỗi người phải tự độ lấy, đừng ỷ lại vào ai cả. Dù đức Phật cũng không thể cứu độ chúng ta được, nếu chúng ta không tu. Như vậy, làm gì có do tụng kinh mà độ được các vong linh. Nếu người chủ trương tụng kinh cầu siêu, độ được các vong linh, đó là tà đạo chớ không phải Phật giáo.
    Bởi y cứ những điểm giáo lý như trên, giới trí thức nghiên cứu Phật giáo rất bất bình việc thực hành tu tập của tín đồ và chư Tăng hiện tại. Cho rằng tín đồ mù quáng đi sai lạc, chư Tăng lợi dụng để no cơm ấm áo.
    C. DUNG HÒA
    Hai thái độ trên không khéo trở thành cực đoan. Một bên nặng phần tín ngưỡng, thiên về hình thức cung kính, quên lãng phần tự tu, không chịu học hỏi giáo lý. Một bên thiên về triết lý, chú mục vào triết lý, bỏ sót phần tín ngưỡng. Phật giáo còn tồn tại đến ngày nay là do bao trùm cả triết lý và tín ngưỡng. Nếu bỏ mất một trong hai phần thì Phật giáo không còn là Phật giáo nữa. Cho nên những người chấp một cách cực đoan trong hai thái độ trên đều là sai lầm.
    1.- SAI LẦM CỦA NGƯỜI NẶNG PHẦN TÍN NGƯỠNG
    Người tu theo đạo Phật phải có sức mạnh tinh thần để cải đổi những tâm niệm, hành vi, ngôn ngữ sai lầm trở thành chân chánh. Chính khi đứng chắp tay tụng kinh hay lễ Phật, chúng ta cũng thấy biểu lộ đầy đủ ý nghĩa này. Người Phật tử đứng trong điện Phật, hai tay chắp lại theo hình hoa sen búp, gọi là Liên hoa ấn, để ngay giữa ngực, ngay quả tim, nói lên tâm tư thanh tịnh. Mắt nhìn xuống cốt phản tỉnh, tự quán sát nội tâm mình. Thân ngay thẳng trang nghiêm, miệng tụng kinh, niệm Phật, để biểu lộ thân thanh tịnh và khẩu thanh tịnh.
    Hình thức nghi lễ ấy không có nghĩa là cầu xin, ỷ lại vào đức Phật, mà chỉ cần yếu giữ gìn ba nghiệp thanh tịnh. Bởi thiếu khung cảnh trang nghiêm, chúng ta muốn kềm thúc thân tâm thanh tịnh rất khó khăn, nên hình thức nghi lễ là phương tiện giúp chúng ta thực hiện được điều ấy. Đừng lầm rằng Phật ban cho ta sự thanh tịnh. Chính Phật đã dạy:
    Làm dữ bởi ta mà nhiễm ô cũng bởi ta, làm lành bởi ta mà thanh tịnh cũng bởi ta. Tịnh hay bất tịnh đều bởi ta, chớ không ai có thể làm cho ai thanh tịnh được.
    (Kinh Pháp Cú, bài 165, Thượng tọa Trí Đức dịch)
    Lại làm lành làm dữ cũng tại ta thì Phật đâu ban phước, giáng họa cho ta được. Cho nên quan niệm Phật như vị thần linh thật là sai lầm. Người Phật tử phải nhằm vào tự lực nhiều hơn. Kinh Pháp Cú chép:
    Chính tự mình làm chỗ nương cho mình, chớ người khác làm sao nương được? Tự mình khéo tu tập mới đạt đến chỗ nương dựa nhiệm mầu.
    (Kinh Pháp Cú, bài 160)
    Tuy nhiên, người Phật tử vẫn phải cúng dường, lễ bái Phật, nhưng cúng dường Phật là để phát thiện tâm, lễ bái Phật là tỏ lòng khát khao giải thoát giác ngộ. Không nên có quan niệm cúng dường Phật cầu Phật ban ơn, lễ bái Phật cầu Ngài tha tội. Dù cho lễ Phật sám hối cũng không có nghĩa cầu tha tội. Đó chẳng qua nhờ Phật làm đối tượng để phát tâm ăn năn chừa cải và hổ thẹn. Có biết như thế thì sám hối mới hết tội. Chúng ta hãy trả đức Phật trở về vị trí của Ngài là bậc “Đạo sư”. Chúng ta cũng phải tu tập đúng với tinh thần Phật tử là tự độ, độ tha. Đừng bao giờ xem đức Phật đủ cả quyền năng ban phước, giáng họa. Cũng không nên ỷ lại, gởi gắm cả đời mình vào quyền năng của Ngài. Nếu có tư cách đó là phản bội đức Phật và cũng không phải là người Phật tử.
    2.- SAI LẦM CỦA NGƯỜI NGHIÊNG VỀ TRIẾT LÝ
    Người trí thức thiên trọng phần triết lý nên thấy sự lễ bái, cúng dường, cầu nguyện... đều không chấp nhận, mà lại phản đối. Cho rằng Phật giáo hoàn toàn tự lực, không bao giờ nương tựa vào cái gì bên ngoài. Nếu Phật giáo chỉ dạy một bề như thế thì những người đầy đủ ý chí, giàu nghị lực mới tu được, còn những người thiếu ý chí, kém nghị lực không thể tu theo đạo Phật sao? Như thế, Phật giáo không có ý nghĩa khế cơ rồi. Vì hạng người đầy đủ ý chí, giàu nghị lực rất hiếm trong xã hội này. Cho nên, cái nhìn cực đoan như vậy đưa Phật giáo đến chỗ khô khan, cô quạnh.
    Hơn nữa, nơi mỗi con người chúng ta đều có hai phần, tình cảm và lý trí. Nếu có người chỉ thuần tình cảm, không có lý trí thì họ chìm đắm trong biển thương yêu mê hoặc. Ngược lại có người ròng rặt lý trí, không có tình cảm thì họ khô khan cô độc. Con người ví như cây trồng xuống đất, tình cảm là chất nước, lý trí như ánh nắng. Thiếu một trong hai thứ ấy, cây nhất định không sanh trưởng được mà phải khô héo lần. Một tôn giáo cũng thế, triết lý và tín ngưỡng không thể thiếu một được. Nếu thiếu một, tôn giáo ấy sẽ chết mòn. Cho nên, chủ trương cực đoan về triết lý của giới trí thức này cũng là tai họa của Phật giáo.
    Lại, chúng ta thử xét ý nghĩa cúng dường, cầu nguyện có sai tinh thần Phật giáo hay không? Người Phật tử ai cũng biết lý nhân quả, thuyết vô ngã, vô trước là nền tảng của Phật giáo. Như thế, sự cúng dường được phước đức có phản bội lý nhân quả chăng? Người này cầu nguyện, người kia được siêu độ, có trái vô ngã hay không?
    - Thưa không!
    Bởi vì lý nhân quả tế nhị lắm, không thể đơn giản rằng “mình làm mình chịu”, có khi không làm lại có chịu, mà vẫn không trái lý nhân quả. Ví như ông A là người chủ sở giàu có, anh B là người làm công nghèo khổ. Một hôm vì một chuyện không đâu, ông A nóng giận đánh anh B. Lý đáng anh B phải trả thù bằng cách đánh lại. Nhưng sau khi qua cơn nóng giận, ông hối hận hành động vô ý thức của mình. Ông không can đảm đến xin lỗi B, phải nhờ người thân của B xin lỗi hộ, và ông cho B một số tiền khá hậu. Vì thế, cái quả của anh B phải trả lại ông A có thể không còn nữa. Lại gia đình kia có hai anh em là Xoài và Mít. Anh Xoài hiền lành dễ thương, nhưng Mít lại hung dữ đáng ghét. Một hôm Xoài đi làm ngoài đồng, Mít ở nhà đánh lộn với người hàng xóm. Đang cơn ẩu đả nhau, rủi Xoài về tới, tuy Xoài không định tâm bênh em, nhưng người kia sợ Xoài bênh nên vội vàng đập Xoài một gậy. Trường hợp này Xoài thật vô tội mà vẫn ăn đòn. Thế nên, việc đó không phải tự mình gây, rồi tự mình chịu. Có khi người khác gây mà mình chịu, như trường hợp Xoài và Mít. Có khi tự mình gây mà không chịu như trường hợp A và B. Nhưng nói như thế không phải ngoài lý nhân quả.
    Vì nhân quả có chánh nhân, trợ nhân, thuận nhân, nghịch nhân... Tuy chánh nhân đã gieo mà gặp nghịch nhân phá hoại thì không thể nào kết quả. Như ta gieo hạt lúa xuống đất nhất định lên cây lúa, nhưng bị dế cắn khi mới nảy mầm thì làm sao sanh cây lúa? Đó là có chánh nhân đánh người của ông A, mà quả người đánh lại không có. Hoặc có khi chánh nhân này mà do trợ nhân biến thành cái khác. Như chúng ta trồng cây cam ngọt, đến lớn lên có người lén cắt nhánh chanh tháp vào, khi kết quả không được cam ngọt, mà chỉ có chanh chua. Đây là không gây nhân đánh đập mà bị quả đánh đập của anh Xoài vậy.
    3.- DUNG HỢP
    Trong cuộc sống tương quan tương duyên này, chúng ta đừng nghĩ tưởng một cách giản dị rằng: “mình làm mình chịu”. Quan niệm ấy rất là thô sơ máy móc. Bởi sự ràng rịt giữa mình và xã hội phức tạp vô cùng. Xã hội đẹp mình cũng được ảnh hưởng đẹp, xã hội xấu mình cũng chịu ảnh hưởng xấu. Tuy nhiên cũng có một vài người thoát khỏi sự ràng rịt của xã hội, nhưng đó là bậc Thánh nhân.
    Đến như việc tụng kinh cầu nguyện được siêu thoát cũng không có ý nghĩa một bề ỷ lại vào tha lực. Con người chúng ta kết hợp bởi hai phần, tinh thần và vật chất. Người tâm hồn tán loạn thì tinh thần yếu đuối, bị vật chất chi phối. Những vị tâm hồn an tịnh thì tinh thần mạnh mẽ phi thường, làm chủ được vật chất. Như trong kinh nói “Chế tâm nhất xứ vô sự bất biện” (Kềm tâm một chỗ việc gì cũng xong) (Kinh Phật Di Giáo). Một bằng chứng cụ thể, khi chúng ta có việc mừng quá, hay giận quá liền quên đói. Lúc đó tâm chỉ nhớ vào việc mình được để mừng, hoặc tâm chỉ nhớ điều tức giận đều quên đói. Cho nên có nhiều vị Thiền sư khi chú tâm vào định năm bảy ngày mà không cần ăn uống, như Huệ Sinh thiền sư đời Lý. Sử chép:
    Khi được Sư phụ truyền tâm pháp cho, Ngài mới đi hành hóa khắp chốn Tòng Lâm, rồi lên ở núi Bồ-đề. Mỗi lần Ngài ngồi nhập định tu pháp ít nhất năm bảy ngày. Người đời bây giờ thường gọi Ngài là ông “Phật xác thịt”.
    Vua Lý Thái Tôn nghe tiếng Ngài, sai Sứ đến vời. Ngài bảo Sứ rằng: Ông không thấy con sanh trong lễ tế ư? Khi chưa tế thì người ta cho nó ăn cỏ thơm, mặc áo gấm, đến khi dắt vào Thái miếu thì nó chỉ muốn cầu chút sống sót, còn nói đến việc gì? Nói rồi Ngài từ chối, không chịu đi.
    (Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, trang 124 của Thượng tọa Mật Thể)
    Gần đây như ngài Hư Vân hòa thượng ở Trung Hoa, có lần nhập định đến nỗi cháo lên meo xanh.
    Đó là những bằng chứng tinh thần mạnh điều khiển được vật chất. Chẳng những điều khiển được bản thân mình mà còn sai khiến kẻ khác theo ý muốn của mình. Như các nhà thôi miên chỉ dùng sức tập trung tư tưởng, khi đã thành công lại có thể dùng sức mạnh tinh thần sai khiến người khác làm theo ý muốn của mình. Như vậy mới biết tinh thần có sức mạnh vô biên mà chúng ta không biết gom góp nó lại và tận dụng khả năng của nó. Những người chỉ nhìn cận thị trên hình thức vật chất làm gì hiểu nổi điều này.
    Nói đến người chết, nhà Phật cho biết, sau khi tinh thần rời bỏ thân tứ đại này, người chết được kết hợp bởi thân tứ đại tinh anh, mắt phàm không thấy được. Thân đó nhẹ nhàng, đi lại nhanh nhẹn và dễ cảm thông. Việc tụng kinh cầu nguyện không phải các vị Sư đủ sức cứu vớt những kẻ ấy, mà dùng sức mạnh tinh thần chuyên chú để soi thấu tâm tư của họ bằng những tia lửa thanh tịnh an lành, khiến họ thức tỉnh chuyển tâm hồn đen tối thành sáng suốt, ác độc thành lương thiện. Thế là cứu độ họ thoát khỏi khổ đau. Nói cứu độ, kỳ thật tự họ chuyển lấy, người tu chỉ làm trợ duyên giúp bên ngoài thôi. Như thế, đâu có trái với nghĩa tự giác, tự ngộ của Phật giáo. Đọc kinh Vu Lan Bồn, chúng ta thấy rõ ý nghĩa này.
    Cho nên sự cúng dường, cầu nguyện của Phật giáo không phải hoàn toàn ỷ lại như vài tôn giáo khác. Cúng dường, cầu nguyện là nhằm vào chỗ phát tâm thiện của ta và làm duyên xoay chuyển tâm niệm của người. Nếu chúng ta cúng dường, cầu nguyện bằng cách hình thức máy móc thì không lợi ích gì cho ta và cho người cả. Sự cúng dường, cầu nguyện với thành tâm, thiện ý thì kết quả tốt đẹp vô cùng. Kinh Phật dạy:
    Kẻ nào cúng dường những người đáng cúng dường, hoặc chư Phật hay đệ tử, những vị thoát ly hư vọng, vượt khỏi hối hận lo âu, công đức của người đã cúng dường các bậc tịch tịnh vô úy ấy, không thể kể lường.
    (Kinh Pháp Cú, bài 195-196)
    Do đó, chúng ta không thể kết luận rằng cúng dường, cầu nguyện đều do chư Tăng bịa ra để lợi dụng lòng mê tín của tín đồ. Nếu chịu khó kê cứu tất cả kinh điển của Phật giáo, chúng ta sẽ thấy rất nhiều bài kinh dạy như trên. Tuy nhiên, hiện tại vẫn có một ít người lợi dụng lời Phật dạy, khuyến khích tín đồ chuyên lo cúng dường, cầu nguyện để họ lấy đó làm nghề sanh nhai. Đó là hạng người bán Phật, không đáng lưu tâm.
    Tóm lại, muốn dung hòa cho thích hợp tinh thần Phật giáo, hai thái độ cực đoan trên phải hòa hợp lại. Đừng nhìn một bên mà thành thiển cận. Phải dung hợp, thấu đáo mọi khía cạnh thì sự tu tập mới thu hoạch được kết quả viên mãn, đúng với tinh thần trung đạo của Phật giáo. Còn mắc kẹt một bên, dù học Phật, tụng kinh Phật vẫn thuộc về tà đạo. Phải cởi mở sáng suốt để thực hiện kỳ được tinh thần Viên dung, Trung đạo của Phật giáo. Được vậy mới xứng đáng là một Phật tử chân chánh.
    CHẾT GIỜ TỐT, GIỜ XẤU


    Hỏi:Kính thưa Thầy, trong gia đình nào có người chết, rất quan trọng là giờ phút lúc tắt thở. Họ đến nhờ ông Thầy cúng xem người chết lúc đó giờ tốt hay xấu, giờ trùng hay không trùng. Nếu ông Thầy nói chết được giờ tốt, không có trùng thì gia đình yên tâm, nếu ông Thầy bảo giờ xấu có trùng thì ông Thầy ấy cho bùa yểm để trong gia đình không có người chết nữa. Như vậy có đúng không thưa Thầy?
    Đáp: Không đúng đâu con ạ! Đó là những kinh sách mê tín, lạc hậu của người xưa, khi đời sống con người còn lạc hậu, dân trí chưa cao, kiến thức khoa học chưa có, tầm hiểu biết không nhìn rộng, thấy xa được. Con người thời ấy bản chất còn mang tính thú vật, chưa biết đạo đức là gì, chỉ còn đi lượm trái cây rừng hoặc đào rễ cây mà ăn.
    Cho nên, những hiện tượng thiên nhiên, thời tiết họ không thể nào hiểu được, nên đành dùng tưởng tri để hiểu. Do tưởng tri để hiểu thì những cái không hiểu được, nên đã biến thành một ảo tưởng, một thế giới siêu hình. Từ tưởng tri thếgiới siêu hình, họ mới tưởng tri ngày, tháng, năm để hoàn thành lịch và dịch số chiêm tinh.
    Do chỗ không thấu rõ hiện tượng thiên nhiên vũ trụ, nên các nhà tôn giáo và triết gia sản xuất ra biết bao nhiêu loại kinh sách tưởng, để thuyết minh các hiện tượng siêu hình. Hiện tượng siêu hình ngày nay đã biến thành một tai họa rất lớn cho con người trên thế giới; muốn phá bỏ nó, thật là điều nan giải. Nó đã in sâu vào tâm khảm và truyền từ thế hệ này đến thế hệ sau. Những cái không đúng sự thật chỉ là tưởng mà thôi, những cái tai hại cho con người vô cùng to lớn từ đời này đến đời khác. Những cái phi đạo đức đã đưa con người đến chỗ hung ác, gian xảo hơn loài cầm thú, dùng mọi cách lừa đảo, lường gạt.Báo Công An đã tường thuật không biết bao nhiêu là mánh khóe, cưỡng đoạt tài sản của kẻ khác, chỉ cần 100 ngàn hay 1 triệu đồng là xem mạng sống con người không ra gì.
    Những kẻ đầu trộm, đuôi cướp này chỉ mua một cuốn sách tử vi xem ngày tốt xấu đi trộm cướp giết người lấy của, mà không bị ai bắt được thì cần gì phải đilao động khó nhọc mà chưa chắc đã có tiền như đi ăn trộm, ăn cướp. “Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm”, đó là tục ngữ dân gian đã dạy như vậy.
    Trên cuộc đời, thứ nhất là danh, thứ hai là lợi. Các nhà triết học đua nhau đưa ra triết thuyết này triết thuyết khác đủ mọi thứ mọi loại, phần nhiều đều nằm ở trong tưởng thức mà luận ra, không thực tế, mơ hồ, trừu tượng. Khi áp dụng vào đời sống con người, vốn đã khổ đau lại càng khổ đau hơn. Như thuyết hiện sinh, thuyết vô ngã của Đại Thừa Giáo, thuyết hữu ngã của Thiền Đông Độ, thuyết hữu thần của các tôn giáo khác, thuyết âm dương của Trung Quốc, thuyết luân hồi tái sanh của Phật Giáo Đại Thừa và các tôn giáo khác, v.v... đều đưa con người quay cuồng trong các học thuyết đảo điên và điên đảo.
    Thuyết âm dương của Trung Quốc mới có xem ngày giờ tốt xấu, coi cung mạng xung khắc, trong bát quái có các cung như: càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài. Họ lý luận rằng con người, khi chết, cũng như lúc sanh ra phải ở trong một cung nhất định. Các nhà học giả thời nay đua nhau nghiên cứu triết thuyết trừu tượng này và đã tốn biết bao nhiêu tâm lực và giấy mực. Nhưng nó có đem lại lợi ích cụ thể thiết thực cho đời sống của loài người đâu, chỉ toàn là luận thuyết để mà cầu danh và lợi. Và chính nó càng làm thêm rắc rối cho tư tưởng con người, mất hết một cuộc sống tự nhiên.
    Những loại triết thuyết này đưa ra biến thành một cuộc nội chiến trong tâm của mọi người. Có những người cuồng tín, tin một cách mù quáng, biến mình thành những công cụ cho những triết thuyết này sai khiến. Đó là những tín đồ, hăng say, điên khùng xông vào cái chết, và giết người như cỏ rác mà chẳng chút xót thương ai.
    Năm tháng, ngày giờ, tốt xấu đó là một triết thuyết về luật âm dương, đưa con người đến chỗ mê tín tận cùng, mỗi khi làm việc gì cũng xem ngày giờ tốt xấu và tuổi tác có hợp hay không. Hiện giờ, ai cũng biết đó là việc mê tín, lạc hậu, phi đạo đức, vậy mà người ta không thể bỏ được tập quán, thói quen nầy, ngay cả những người có học thức, có kiến thức về khoa học mà vẫn còn bỏ không được.
    Đạo đức nhân quả đã xác định: kẻ làm ác dù có xem ngày giờ tuổi tác, tốt xấu, cất nhà, dựng vợ gả, chồng cho con cái: hoặc xem giờ an táng hoặc xem tuổi tác người chết tránh cung trùng tang, liên táng; bằng mọi cách như mua bùa về yếm, cho tai qua nạn khỏi, bịnh tật được triêu trừ và hưởng được phước báo đầy nhà, thì chẳng bao giờ được. Nếu được, thì đó là một điều vô đạo đức không công bằng và công lý.
    Người ta sanh ra ở đời, phải chấp nhận luật nhân quả. Nếu ta làm điều thiện thì ngay đó tâm ta được an vui thanh thản. Đó là phước báo của mình làm ra, còn nếu mình làm ác mà cầu phước báo thì chẳng bao giờ có được, dù cho những bậc xem ngày giờ tốt xấu giỏi như Trương Lương, Tiêu Hà, Khổng Minh, Quỷ Cốc, cũng không tránh khỏi luật nhân quả. Cho nên Trương Lương phải ẩn bóng, Tiêu Hà bị chết, Khổng Minh thất bại trong việc chấn hưng nhà Hán.
    Xét cho cùng, từ xưa cho đến nay có mấy ai xem ngày giờ tốt xấu mà làm nên sự nghiệp đâu. Làm nên sự nghiệp, đều do nhân quả thiện của mình. Người xưa nói: “Tích ác phùng ác, tích thiện phùng thiện”, làm ác gặp khổ, làm lành gặp phước an vui thanh thản.
    (Trích Đường Về Xứ Phật tập VII)
    TƯỢNG PHẬT QUÁ NHIỀU
    Hỏi: Kính thưa Thầy, chùa nào cũng có rất nhiều tượng Phật, phía trước là thờ Tam Thế chư Phật, Di Đà, Quan Âm, Thế Chí, kế Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, cho đến Đức Phật Thích Ca đản sanh, hai bên là ông thiện và ông ác.
    Đối diện trước chánh điện là tượng hộ pháp, phía trước chánh điện là bàn thờ Tiêu Diện Đại Sĩ, cô hồn, các đảng và bộ xương đầu ông cọp.
    Bên tả chùa thờ Quan Thánh Đế Quân, năm vị vua Diêm Vương, Quan Âm Thị Kính, bên hữu thờ Bà Lê Sơn Thánh Mẫu, hay Bà Chúa Tiên, Chúa Xứ, kế đó là năm vị Vua Diêm Vương, tức là Thập Điện Diêm Vương, Phật Mẫu Chuẩn Đề 18 tay.
    Thường bàn thờ Quan Thánh Đế Quân nhân dân thường mang gà luộc, hoặc thịt heo quay vào cúng.
    Thờ cúng như vậy có đúng không thưa Thầy? Xin Thầy chỉ dạy cho chúng con được rõ.
    Đáp:Một ngôi chùa đúng đắn của Phật Giáo thì chỉ có thờ một Đức Phật duy nhất. Đó là đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, vì Ngài là người thành lập tôn giáo Phật Giáo, còn tất cả những vị Phật khác đang được thờ cúng trong chùa là do các Tổ tưởng tượng ra truyền bá Đạo Phật. Nói cho đúng hơn Trên đường truyền bá các Tổ đã bị ảnh hưởng của ngoại đạo và đã lượm những Đức Phật, thần thánh này của dân gian, lôi lên bàn thờ để làm vui lòng những người dân địa phương, nhờ thế mà họ mới cúng dường.
    Các Tổ truyền đạo vì danh, vì lợi nên các Ngài tiếp nhận tất cả mọi sự mê tín dân gian và các tôn giáo khác. Thế là Phật Giáo chân chánh trở thành Phật Giáo hỗn tạp đa thần, đa pháp môn, bỏ mất nguồn gốc Phật Giáo chân chánh. Còn Phật Giáo chân chánh thì xả bỏ danh và lợi và bỏ tất cả, chỉ còn ba y một bát, đời sống xin ăn, bữa đói bữa no thật là vất vả. Các Tổ theo Phật Giáo chân chánh không chịu nổi, cho nên các Ngài bẻ vụn giới để mà sống, phạm giới để hòa hợp với dân gian, với mọi sự mê tín, cúng bái, tế lễ, cầu siêu, cầu an v.v... (giết chúng sanh tế lễ) và các tôn giáo khác để dễ bề lừa đảo mọi người và lường gạt tín đồ.
    Cho nên, sau khi Đức Phật tịch, những người đệ tử tu chứng thì vào núi rừng ẩn bóng rồi tịch mất, còn lại những đệ tử tu hành chưa chứng thì tâm danh lợi tham đắm còn nhiều, nên phân làm nhiều bộ phái như chúng tôi đã nói ở trên. Chiếm lãnh một giáo đoàn rồi tự do phát triển mọi thủ thuật điêu ngoa, xảo trá, lừa đảo bằng lối lý luận theo kiểu 62 luận chấp của ngoại đạo để tạo danh, tạo lợi. Từ đó, kinh sách phát triển viết ra rất nhiều cuốn, cuốn nào cũng lý luận trên mây xanh mà tu hành chẳng ra gì; chỉ có xây dựng chùa to Phật lớn, những ngôi tháp vĩ đại. Tu sĩ ăn uống, ngủ nghỉ sống như một ông quan to, đi ra thì có tiền hô, hậu ủng xe cộ rần rộ.
    Tu sĩ hiện giờ thì giàu có hàng tỷ bạc, trong lúc dân chúng tín đồ quá nghèo, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc; dành dụm đồng nào thì đem cúng chùa để được phước, để được siêu thoát, chỉ nuôi hy vọng như vậy mà bị kẻ khác lừa đảo một cách rất đáng thương.
    “Cúng dường xây chùa, đúc chuông, tạc tượng Phật, xây tháp và cúng dường chư Tăng sẽ được phước báo vô lượng”. Nhờ lời phỉnh gạt này mà chùa nào chùa nấy đều xây dựng hàng tỷ bạc, biến cảnh tu hành thành nơi thắng cảnh du ngoạn của mọi người.
    Trong chùa thờ Phật càng nhiều thì thu lợi càng to, mỗi tượng Phật cúng một đồng, 10 tượng cúng 10 đồng, 100 tượng cúng 100 đồng. Vì tư lợi như vậy, nên chùa nào cũng thờ Phật rất nhiều, đó là hình thức làm tiền. Người dân mê tín cứ nghĩ rằng, mình cúng và lạy nhiều tượng Phật là nhờ nhiều ông Phật phò hộ thì tai qua nạn khỏi dễ dàng hơn, cho nên thấy tượng nào cũng thắp hương, lễ bái. Còn cúng và lạy có một ông thì được sự phù hộ ít và có thể tai nạn đến. Lợi dụng sự mê tín mà các chùa để thật nhiều hình tượng, nhất là chùa có ống thẻ xin xăm xóc quẻ, cúng sao, giải hạn thì Phật tử lại cúng càng nhiều.
    Nói một cách khác, chùa thờ nhiều tượng Phật là có mục đích tạo sự mê tín để lừa đảo, lường gạt tín đồ cúng bái nhiều. Nhưng chính sự thờ phượng này, quý Thầy trong các chùa cũng không hiểu đó là sự mê tín, sự lừa đảo mà chỉ biết xưa bày, nay làm “Tổ Tổ tương truyền”. Quý Thầy chỉ biết làm theo các Tổ, chứ quý Thầy không ý thức rằng, việc làm của mình là mê tín, là lừa đảo tín đồ. Các Thầy cũng tin tưởng mê tín như các Phật tử khác; tin rằng có chư Phật, Bồ Tát gia hộ; tin rằng có linh hồn, có Phật tánh, có thế giới siêu hình, có thần Thánh Tiên Phật, chư Bồ Tát, ma, quỷ; tin rằng có cõi địa ngục, Thiên Đàng, Cực Lạc, Niết Bàn và các cõi Phật, có 10 phương chư Phật, chư Bồ Tát vô lượng vô biên, v.v... Tất cả mọi người không riêng gì tín đồ Phật Giáo đang sống trong tưởng thức, còn quý Thầy là những người tu sĩ đang giữ gìn giới luật mà vẫn phải sống trong tưởng thức như những người khác, chưa biết giới luật. Thế là quý Thầy truyền dạy lại sự mê tín của mình (được Thầy Tổ truyền thừa) chứ quý Thầy không có tội lừa đảo, lường gạt người khác; Thầy Tổ dạy sao, thì cứ dạy lại cho người khác như vậy.
    Thật là một người mù, dẫn đám người mù đi, rồi mỗi người mù, trong đám người mù đó, lại dẫn đám người mù khác đi. Cuối cùng không có một người nào sáng mắt, toàn là mù, vì mù nên phải xóc thẻ làm thầy mù.
    (Trích Đường Về Xứ Phật tập VII)

    NGHĨ GÌ VỀ NHỮNG HÌNH THỨC
    CẦU AN, CẦU SIÊU, XEM BÓI, CÚNG SAO, GIẢI HẠN
    Từ xưa, cầu an, cầu siêu, xem bói, cúng sao, giãi hạn là một hình thức sinh hoạt tâm linh của mọi chùa. Không ít thì nhiều, không đủ thì thiếu, chùa nào cũng có một trong những hình thức sinh hoạt đó. Vậy, có phải những việc làm trên là vô lý, là mê tín, là đáng phê bình. Hôm nay ta phải xét lại và tìm cho ra vấn đề.

    I/.TÌM HIỂU VẤN ĐỀ
    * Cầu an – Cầu Siêu?
    _Nếu xét về Nhân quả, thì một lời cầu nguyện không thể nào làm cho cuộc đời ta bớt khổ, thêm vui được. Một lời cầu nguyện không thể nào giúp cho 1 vong linh vất vường, không có phước mà được hạnh phúc. Nên, xét về Nhân Quả, những điều trên không đúng.
    _Nhưng, xét trên Nhân Quả vẫn chỉ là lý thuyết mà thực tế đôi khi nó có ngoại lệ, nó có khác biệt. Ta nói, Phật là một vị thầy chứ không phải là một vị thượng đế có quyền ban vui giáng họa cho con người.
    NHƯNG, nếu Phật là một người thầy tốt thì Phật không bao giờ dửng dưng khi học trò mình lâm vào cảnh khó khăn, gian khổ đến bế tắc khôn cùng ; mà khi đau khổ, bế tắc khôn cùng thì tâm trí đâu mà nghĩ đến việc Phật Pháp. Nói cho gần, ở ngoài đời, một người thầy giáo tốt là một người khi biết học sinh nào có hoàn cảnh khó khăn sẽ giúp đỡ, hỗ trợ hết lực mình để em đó có khả năng đi học.
    _Hơn mọi người thầy, Phật là Đấng Chánh Giác, là người thầy tuyệt vời hơn cả nên Người sẽ và luôn luôn giúp đỡ những học trò đang gặp cảnh khó khăn được bớt khổ, được vượt qua để vững lòng học Phật, tu tập. Khi họ học Phật tu tập tiến bộ rồi thì nghiệp chướng đến với họ cũng không làm họ bức xúc bận tâm, khi đó, Phật mới thôi giúp đỡ. Nên, việc Phật gia hộ là có thật, là điều thực tế mà biết bao người đã công nhận, đã được điều mầu nhiệm đó!
    _Mà hình thức cầu an, cầu siêu nó không khác gì là lời cầu xin Phật gia hộ. Mà khi cầu Phật gia hộ thì ít nhiều, những khó khăn những đời sống sẽ được PHẦN NÀO vượt qua. Trừ loại định nghiệp.
    _Còn về cầu siêu thì nguyên tắc thế này:
    Khi nào một người được cầu siêu? Khi người đó có con cháu tin Phật. Khi nào người đó có con cháu tin Phật? Thì khi và chỉ khi, người đó phải có DUYÊN với Phật! Khi có duyên với Phật, với cửa chùa thì sẽ được Phật, cửa chùa tiếp nhận. Đó là BẢN CHẤT, còn việc đọc tên, gửi hình cầu siêu là HIỆN TƯỢNG. Nói Cầu Siêu không có thì ta chỉ xét trên hiện tượng mà không nhìn thẳng vào bản chất!
     Việc cầu an, cầu siêu, vẫn có một kết quả nhất định dựa trên Luật Nhân Quả công bằng mà thôi!

    *Xem bói
    _Nếu nói xem bói, xin quẻ là hình thức của mê tín dị đoan thì tại sao, vẫn có trường hợp, xem bói, xin quẻ vẫn đúng, không ít thì nhiều, không toàn phần thì một phần.
    _Xem bói gồm có nhiều mục, xem tử vi, chỉ tay, xem tướng, xem phong thủy… Nhưng bản chất là gì?
    _Xin thưa, bản chất của mọi vật vẫn là NHÂN QUẢ NGHIỆP BÁO. Nhân Quả là cái bản chất mà cái nó thể hiện ra bên ngoài là cái hiện tượng . Tuyệt đại đa số, nếu người đó NGHÈO thì ngôi nhà sẽ lụp xụp, sẽ xầu. Cũng vậy, nhìn một người có TƯỚNG MẠO ĐẸP HAY KHÔNG, NHÀ CỬA CÓ ĐẸP HAY KHÔNG, CHỈ TAY CÓ TỐT HAY KHÔNG, NGÀY GIỜ CÓ TỐT HAY KHÔNG ta BIẾT ĐƯỢC NHÂN QUẢ NGƯỜI ĐÓ TỐT HAY XẤU.
    _Nên, XEM BÓI tức là XEM NHÂN QUẢ CỦA MÌNH, COI MÌNH NHIỀU PHƯỚC HAY NHIỀU TỘI, TỪ ĐÓ QUY RA, MÌNH MAY MẮN NHIỀU HAY XUI XẺO NHIỀU!
    _Nhưng, nhiều người lầm tưởng giữa XEM NHÂN QUẢ và SỬA NHÂN QUẢ. Ta cứ nghĩ, ta sửa nhà lại cho đúng là Nhân Quả là tốt lên, ta may lên! Ta cứ nghĩ rằng, khi biết năm nay ta xui, ta cầu cúng thần linh, ta làm này làm nọ là sẽ may lên. Thật ra không phải! Nhân Quả là cái bản chất thể hiện ra cái PHONG THỦY, TƯỚNG MẠO … là HIỆN TƯỢNG. Muốn Nhân Quả ta tốt lên, ta phải sửa từ cái bản chất chứ không đi tỉa tót cái hiện tượng. Muốn cây khỏe, ta bón góc chứ không đời nào chăm quả. Nên, Xem bói CHỈ LÀ MÊ TÍN khi ta hiểu lầm là SỬA NHÂN QUẢ và có những hành động dị kỳ, còn XEM NHÂN QUẢ để ta biết tội phước mình thế nào, từ đó điều chỉnh cách sống cho thích hợp. Để ta biết mình phải làm gì để công đức ta tăng lên, tội lỗi ta giảm xuống, đó cũng là điều chân chính, là một phương tiện để đời sống ta tốt hơn.
    NHƯNG, Phật đã dạy:
    Không truy tìm quá khứ
    Không ước vọng tương lai
    Quá khứ đã qua rồi
    Tương lai lại chưa đến
    Chỉ có pháp hiện tại
    Tuệ quán chính là đây
    Bất động chẳng lung lay,
    Hãy thực hành như thế
    Phật đã dạy thế thì ta không phủ nhận chuyện xem bói, xem tướng, phong thủy vì nó là hình thức NHÌN RA NHÂN QUẢ nhưng Phật tử ta chỉ biết tu tập và sống tốt. Trong từng giây phút, chỉ biết như thế, sống và tu như thế. Ta chỉ bất đồng, tảy chay việc làm lừa lọc, mê tín dị đoan quá đỗi, chỉ lo xem bói, làm những điều vô bổ mà vẫn không có ích gì. Còn việc xem bói, để mường tượng ra được Nhân Quả mình để chọn cách sống thích hợp hơn, ta không được phép phê phán! Mặc dù ta cũng không giống như thế nếu đã hiểu giáo lý!
    *Cúng sao, giải hạn:
    _Đây là hình thức xem sao nào chiếu vào mình thì năm đó ta có may mắn hay không. Dĩ nhiên, trong đạo Phật, đó không phải là “sao” mà là “sao nặng” (xạo!). Nhưng đây cũng được xem là hình thức cầu an trong đạo Phật, chẳng qua mượn những tín ngưỡng nhân gian để gần gũi hơn với quần chúng. Hiểu điều đó, ta không ta thán, không nói là chùa sai mà ta phải hiểu, chùa phải đem quần chúng gần về với Phật hơn, khi họ gần với Phật rồi thì mới đem giáo lý trí tuệ để xóa đi những mê tín và cũng xóa đi luân hồi ngu si trong nhiều kiếp. Một người thầy giỏi và khéo léo phải là một người đưa Phật tử VÀO CỬA NIỀM TIN NHƯNG ĐI RA LÀ CON ĐƯỜNG TRÍ TUỆ!

    II/. BẢN CHẤT:
    _Ta phải xác định, thời xưa, hay nói rõ cũng không xưa lắm. Người dân chưa có học thức nhiều, họ cũng không nghiên cứu giáo lý đạo Phật kỹ để tiến đến với Đạo bằng con đường trí tuệ. Họ chỉ theo Đạo Phật là theo truyền thống, hoặc những tiếng gọi vô hình từ nhân duyên. Ngày nay cũng vậy, người dân theo Phật nhưng khi những bất trắc của cuộc đời đến họ vẫn có những bức xúc, những bế tắc không thể chịu nỗi. Khi lúc tuyệt vọng, đau khổ họ chỉ biết nương nhờ Chư Phật, của chùa để cầu xin được một chút bình yên từ nội tâm. Họ tin rằng, Phật sẽ giúp họ vượt qua được những khó khăn hiện thời. Chính điều đó, họ gắn bó với chùa hơn và thấy được một sự bình an trước mắt trong cuộc đời mình – Nhờ Phật Pháp
    _Người đến với Phật, họ chưa nhận được gì hạnh phúc, lợi ích trước mắt. Họ không được chùa phát lương, thưởng tiền hỗ trợ gì. Chỉ vì tấm lòng mà họ đến với chùa. Bởi thế, chùa phải làm một cái gì đó để giúp đỡ cuộc sống của họ, không vật chất thì tinh thần. không một bao gạo thì cũng là một lời cầu nguyện chân thành cho họ có cuộc sống bình an. Từ đó, họ thấy gần gũi với chùa hơn và họ thấy rằng mình không thiệt thòi khi theo Đạo Phật, lúc họ khổ thì chùa cầu an, có người mất thì cầu siêu! Từ đó, những hình thức cần an, cầu siêu ra đời từ chính tấm lòng của quý thầy!
    _Thứ 2, nguồn tâm linh của Đạo Phật là vô hạn, thần thông trong đạo Phật thì cũng không thiếu. Ấy mà một ông thầy bói, một bà thầy pháp lại có thể đoán trước tương lai, cuộc đời của họ mà trong khi quý thầy lại không! Từ đó, họ xem tà đạo hay hơn chính đạo. Và để lấy lại Phật tử, chùa phải lấy trong nhân gian hình thức xem bói như xem sao, cúng giải hạn để Phật tử thấy rằng, tâm linh trong đạo Phật vẫn không thiếu. Cũng tương tự với các hình thứ bói trong chùa như xem quẻ, rút thơ … vẫn là làm phong phú cho hình ảnh của Đạo. Nếu chùa chỉ kín cổng cao tường tu tập thì nó chỉ phục vụ được những người có yêu cầu tâm linh, có trình độ cao chứ với những người dân bình thường, nó không có sức hút.
    _Hiểu điều đó, ta không ta thán việc các chùa cầu an, cầu siêu, xem sao, giải hạn là mê tín, là xa rời thực tế vì đó là cách là đem đạo Phật gần gũi với quần chúng hơn, từ đó, cho họ biết Phật Pháp cũng không muộn. Nên, DỊ ĐOAN LÀ TA TIN SỐNG TIN CHẾT VÀO NHỮNG ĐIỀU ĐÓ NHƯNG CỰC ĐOAN LẠI LÀ VIỆC TA PHÊ PHÁN NHỮNG HÌNH THỨC ĐẤY!
    Vì đạo Phật muốn đến với con người trước tiên phải giúp được con người!

    III/. KHI THÁI QUÁ - CẦN PHẢN ĐỐI
    _ Những hoạt động mang tính lý tưởng chỉ để đem quần chúng về với Đạo, từ đó giáo hóa và thăng tiến thêm cho các Phật tử trên đường tu học. Chứ nó không thể là việc chính của cái chùa. Một cái chùa không phải là cái máy để suốt ngày ngồi ê a đọc tên cầu an cầu siêu từng người. Cái chùa không phải là nơi chỉ và chỉ diễn ra những hình thức như thế.
    _Cái chính của cái chùa vẫn là GIÁO HÓA VÀ TU TẬP. Mọi hoạt động khác vẫn phải hướng hoặc mang 2 điều trên. Nếu chùa quanh năm chỉ cầu an, cầu siêu, xem ngày coi tháng, cúng sao giải hạng thì cái chùa nó không còn là cái chùa, mà thật sự là nơi diễn ra những trò mê tín dị đoan, thậm chí là lợi dụng niềm tin của Phật tử để chùa làm những điều phi lí và vô nghĩa. Các hoạt động trên phải hướng Phật tử về chùa nhiều hơn, từ đó hiểu giáo lý và tu tập nhiều hơn. Chứ không tạo cho Phật tử một thái độ sống mê tín, suốt ngày tin vào những chuyện thần thánh, siêu hình. Nên, ta cực lực phê phán và tảy chay những chùa nào làm những điều sai trái, không giúp cho Phật tử thăng tiến tâm linh tu tập trên con đường tâm linh và giải thoát!

    Tuy nhiên, sau tất cả, chùa phải có nhiệm vụ hướng cho tất cả Quý Phật tử vào con đường tâm linh tu tập, hướng cho tất cả Quý Phật tử vào một chân lý tối thượng của Đạo Phật. Đó là Thiền Định, đó là Vô Ngã. Đây mới phải là cái chính!
    Minh Chánh Toàn
    CÚNG SAO GIẢI HẠN
    Hòang Liên Tâm
    Hằng năm, cứ vào dịp đầu năm Âm Lịch, nhất là tuần lễ thứ hai trong tháng Giêng mà cao điểm là ngày Rằm, người Phật tử Việt Nam và Trung Hoa thường có lệ đi chùa dâng sớ cầu an cúng sao giải hạn. Vì là ngày Rằm đầu năm nên các chùa ở trong nước cũng như hải ngọai thường tổ chức lễ rất trọng thể nhằm đáp ứng nhu cầu của quần chúng Phật tử. Hầu như chùa nào cũng có chương trình cầu an đầu năm. Tuy nhiên vẫn còn một số chùa nhận ghi danh Phật tử cúng sao giải hạn vào ngày Rằm tháng Giêng.
    Đến thăm một ngôi chùa khá lớn và nổi tiếng tại Hà Nội vào dịp đầu năm vừa qua, chúng tôi cũng thấy chương trình cầu an đầu năm từ ngày mồng tám đến ngày Rằm, có cúng sao giải hạn. Lễ Phật xong, chúng tôi vào phòng khách thăm thầy trú trì. Trong phòng cũng khá đông Phật tử đến nhờ thầy xem tuổi, xem sao hạn và ghi danh vào danh sách cần cúng sao giải hạn. Chúng tôi nghe thầy nói với một Phật tử: “Phật tử năm nay sao Thái Bạch, vào hạn khánh tận, thái bạch là sạch cửa nhà, phải dùng tám ngọn đèn hay tám ngọn nến làm lễ hướng Tây, mỗi tháng cúng vào ngày Rằm, khấn đức Thái Bạch Tinh Quân”. Tới lượt Phật tử khác và cứ như thế, người vào người ra mang trong lòng nỗi buồn vui đầu năm theo những vì sao đã an bài cho đời mình trong năm.
    Tôi rời chùa mà lòng như không vui, tự hỏi ai đã đem tập tục cúng sao giải hạn vào nơi già lam, biến chốn thiền môn nghiêm tịnh thành nơi thờ cúng Thần Tiên, cầu hên xui may rủi cho con người và cũng thương thay cho những ai đặt lòng tin không đúng chỗ, trao phận mình cho người khác sử lý qua việc khấn sao xin giải trừ hạn xấu.
    Thật ra, lễ Rằm Tháng Giêng, còn gọi là lễ Thượng Nguyên là lễ hội dân gian ở Việt Nam, được du nhập từ nước láng giềng Trung Hoa phương Bắc. Gọi thượng nguyên là cách phân chia theo Âm lịch: thượng nguyên (Rằm tháng Giêng), trung nguyên (Rằm tháng Bảy) và hạ nguyên (Rằm tháng Mười) của hệ thống lịch tính theo mặt trăng. Theo một số sách Trung Hoa, như Đường Thư Lịch Chí, quyển 18 thì có chín ngôi sao phát sáng trên trời. Có sách nói là bảy sao, rồi về sau có sách thêm vào hai sao La Hầu và Kế Đô. Chín vì sao đó là Nhật Diệu, Nguyệt Diệu, Hỏa Diệu, Thủy Diệu, Mộc Diệu, Kim Diệu, Thổ Diệu, La Hầu và Kế Đô. Có sách thêm sao Thái Bạch nữa thành mười sao. Chín vì sao này hay còn gọi là Cửu Diệu là các sao phối trí theo các phương, sắp xếp theo mười hai chi và ngũ hành. Theo sách này cho rằng thì hàng năm mỗi tuổi âm lịch chịu ảnh hưởng của một vì sao gọi nôm na là sao chiếu mạng. Do đó có năm gặp sao tốt, có năm gặp sao xấu. Hai sao La Hầu và Kế Đô là sao xấu, là loại ám hư tinh vì hai sao này chẳng thấy được mặt trời.
    Đó là theo tập tục dân gian vốn có từ thời xa xưa mông muội, khi mà con người cảm thấy quá bé nhỏ trước thiên nhiên, bị đủ loại bệnh hoạn mà chưa tìm ra thuốc chữa, cho là vì các vị Thần trừng phạt, nên sợ sệt trước đủ mọi loại Thần mà họ có thể tưởng tượng ra được, từ thần Sấm, thần Sét, thần Cây Đa, cây Đề, thần Hổ, thần Rắn, thần Núi, thần Sông (Hà Bá) v.v…
    Nhưng căn cứ vào kinh sách liễu nghĩa của nhà Phật, theo lời Phật dạy trong Pháp Tứ Y : "y cứ theo kinh liễu nghĩa, chẳng y cứ theo kinh không liễu nghĩa", thì chúng tôi thấy không có ngôi sao nào chiếu vào con người mà nhờ đó được phúc lợi hay mang tai họa và cũng không có một nghi lễ nào gọi là cúng sao giải hạn cho Phật tử cả. Tuy vậy, vẫn có một số ít chùa, ở những vùng địa dư còn chịu nhiều ảnh hưởng truyền thống tín ngưỡng dân gian đa thần, thì các vị tu sĩ Phật giáo cũng đành phải, gọi là tùy duyên hóa độ, tùy theo niềm tin của đa số quần chúng sơ cơ học đạo giải thoát, mà tổ chức các buổi lễ lạc, bên cạnh những nghi thức thuần túy Phật giáo, mục tiêu cũng vẫn là dùng phương tiện để hóa độ chúng sinh, từ từ chuyển tâm họ quay về bờ Giác. Ngoài ra, cũng có một số chùa ở chốn thị thành, mặc dầu biết việc cúng sao giải hạn là không phù hợp với chánh pháp nhưng vẫn duy trì, hoặc do nhu cầu phát triển chùa cần sự trợ giúp của thí chủ, hoặc vì lo ngại Phật tử sẽ đi nơi khác hay theo thầy bùa, thầy cúng mà tội nghiệp cho họ phải xa dần Phật đạo.
    Tại sao chúng tôi nói là không có ngôi sao nào chiếu vào con người mà nhờ đó được phúc lợi hay mang tai họa và cũng không có một nghi lễ nào gọi là cúng sao giải hạn cho Phật tử cả. Bởi vì tất cả họa và phước mà con người có được đều là do nhân quả của chính người ấy làm nên. Bảy ngôi sao, chín ngôi sao hay mười ngôi sao nói ở trên là do chính con người đặt tên và vẽ cho mỗi ngôi sao mang một đặc tính, chứ đức Phật không hề nói về chúng. Ngài dạy chúng ta về nhân quả. Ngài dạy rằng không có quả nào từ trên trời rơi xuống, hoặc dưới đất hiện lên, mà đều do các hành động qua tâm, khẩu và ý của con người tạo ra. Con người tạo nhân tốt lành thì quả tốt lành nhất định đến. Thí dụ như chúng ta muốn có cam ngọt thì chúng ta phải chọn giống hay chiết cành từ cây cam ngọt, như cam Texas chẳng hạn. Thêm vào đó chúng ta phải chăm sóc, bón phân, tưới nước đúng thời kỳ, thì thế nào chúng ta cũng sẽ hái được cam ngọt.
    Tương tự như vậy, mọi sự thành công hay thất bại trong đời của mỗi người không phải do ai ban phát cho, mà do những cái nhân chúng ta tạo nên từ trước, khi nhân duyên đầy đủ thì quả thành. Những nhân duyên xấu do chúng ta tạo tác sẽ trổ quả xấu, những nhân duyên tốt sẽ trổ qủa tốt. Nhà Phật có câu “muốn biết thời quá khứ chúng ta đã gieo nhân gì thì cứ nhìn cái quả mà chúng ta đang lãnh. Muốn biết tương lai chúng ta ra sao thì cứ nhìn cái nhân chúng ta đang gieo trồng trong hiện tại”; Tuy nhiên, nhân quả không đơn thuần mà rất đa dạng, trùng trùng, chẳng phải chỉ do trực tiếp ở đời hiện tại mà lại có thể do ảnh hưởng từ nhiều đời trong quá khứ, ngoại trừ những người tu hành liễu đạo, tới được trạng thái "Tâm Không" thì: "Liễu tức nghiệp chướng bổn lai không"(Vĩnh Gia Huyền Giác).
    Cầu xin quả tốt lành mà không chịu gieo nhân tốt lành, sợ hãi quả xấu, sợ hãi tai họa xảy đến, mà không dừng tay tạo nhân xấu, sự cầu xin ấy chỉ là việc hoang tưởng. Phật giáo dạy rằng bất luận việc gì xảy đến cho chúng ta, đều do một hay nhiều nguyên nhân, chớ không do ngẫu nhiên, thời vận hên xui hay số mạng an bài.
    Đối với Phật giáo, không có ngày nào xấu, mà cũng không có ngày nào tốt, mà cũng không có sao hạn xấu tốt. Nếu ta đi coi xăm, bói quẻ, coi sao, coi hạn, thầy nói ngày ấy tốt mà lại đi làm những chuyện không tốt lành, như ăn trộm, gây gỗ, đánh nhau, giết người, chắc chắn chúng ta sẽ bị pháp luật trừng trị và ngày tốt do ông thầy nói ấy trở thành ngày xấu ngay. Như vậy ngày tốt, ngày xấu không có cơ sở, chỉ là do con người bày ra mà thôi. Lại thí dụ có hai đạo quân giao tranh, đều chọn ngày tốt và giờ hoàng đạo ra quân, vậy mà chỉ có một bên thắng, và cả hai bên, dù thắng dù thua, cũng đều có tử sĩ và thương binh. Chọn ngày tốt mà làm việc giết người thì quả trổ ra sẽ có chết chóc là vậy.
    Đối với sự cúng sao giải hạn, nếu chỉ mua sắm lễ vật mang lên chùa để xin thầy cúng sao La Hầu, Kế Đô hay Thái Bạch gì đó để giải hạn xấu giùm thì nghịch lại lý Nhân Qủa. Nếu vị thầy cầu xin đức Thái Bạch Tinh Quân, đức La Hầu Tinh Quân, … tha tội, giải hạn xấu nổi thì những người giầu có cứ tạo ác rồi sau đó xin thầy cúng sao giải hạn cho tai qua nạn khỏi, cho khỏi bị tù tội, tạo nhân ác mà hưởng được quả thiện, thì toàn bộ nền đạo lý xây dựng trên quan điểm về lý Nhân Quả mà nhà Phật rao giảng phải sụp đổ sao?
    Có người hỏi rằng, nếu chỉ tin vào quy luật Nhân Quả thì có nên cúng bái Cầu Siêu, Cầu An không?
    Xin thưa, cúng bái Cầu Siêu, Cầu An khác với cúng Sao giải hạn.
    Trường hợp Cầu Siêu, đó là một hình thức tưởng niệm người đã qua đời, với tâm thành ước mong thần thức người quá vãng được sanh về nơi tốt đẹp. Chuyện lời cầu có được đáp ứng hay không thì chưa ai chứng minh bằng khoa học được. Nhưng lòng thương nhớ mà thân nhân dành cho người quá vãng nếu được biểu lộ bằng những buổi lễ trang nghiêm, với niềm tin tưởng thành kính, chí tâm cầu nguyện cho người quá vãng, thì nếu như thần thức người quá vãng còn trong trạng thái thân trung ấm, sẽ có thể có cảm ứng tốt mà vơi đi nỗi buồn rầu, lo sợ, sân hận, có thể tạo được cơ hội cho nghiệp lành dẫn dắt mà tái sanh.
    Ngay như những buổi cúng giỗ, nếu gia đình người quá vãng có thể thiết lễ trên chùa, cùng nhau vì người quá vãng mà tụng một thời kinh, dùng một bữa cơm chay tịnh, thì ngoài biểu tượng của lòng hiếu thảo từ con cái hướng lên cha mẹ, hoặc tình thương mến đối với người thân nhân đã qua đời, cũng còn là một duyên lành của những người tham dự với nhà Phật khởi lên từ kỷ niệm đối với người quá vãng.
    Còn trường hợp lễ Cầu An thì chúng tôi thiết nghĩ, nếu muốn có được kết quả tốt thì chính người bệnh phải cùng với thân nhân tham dự buổi lễ. Mà phải tham dự với tâm niệm chí thành. Người bệnh và tất cả thân nhân đều đồng tâm chí thành tụng niệm, thì ngay trong những giờ phút chí thành đó, tâm họ đã thanh tịnh. Nhà Phật quan niệm rằng tất cả Thân và Tâm đều vô thường, cho nên khi Tâm chuyển thì nghiệp chuyển, nghiệp chuyển thì bệnh chuyển. Bệnh là do Thân, Khẩu, Ý Nghiệp xấu tạo nên.
    Có câu: "Tâm được tịnh rồi, tội (nghiệp) liền tiêu".
    Vậy muốn Cầu An cho có kết quả thì ngoài vị thầy, chính người bệnh và thân nhân phải cùng nhau hành trì để cho Tâm được tịnh. Sự kiện thân nhân nên cùng tụng niệm là để cho người bệnh được tăng trưởng niềm tin khi thấy có bạn đồng tu, chứ nhân vật chính vẫn phải là người bệnh. Còn như chỉ đưa tiền cho vị thầy để nhờ thầy tụng niệm giùm, rồi xoa tay hoan hỉ về nhà chờ kết quả thì trái quy luật nhân quả. Vị thầy tụng niệm thì Tâm thầy tịnh, người bệnh không được ảnh hưởng, ngoại trừ chút hy vọng.
    Đức Phật là vị đạo sư, Ngài không làm chuyện bất công là ban phước hoặc giáng họa cho ai, đã dạy chúng ta rằng phải tạo nhân lành để hưởng quả tốt trong Nhân Thừa. Rồi Ngài dạy chúng ta con đường để thăng tiến trong năm Thừa của nhà Phật, từ Nhân Thừa, Thiên Thừa, Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa và Bồ Tát Thừa, rồi đi tới giải thoát khỏi luân hồi sinh tử.
    Quý vị tu sĩ trong đạo Phật là Trưởng Tử Như Lai, hiển nhiên là phải nối tiếp bước chân của Đức Phật mà soi chiếu Ánh Đạo Vàng cho Phật tử, dạy Phật tử những điều Phật dạy trong kinh. Quý vị tu sĩ Phật giáo không phải là những người môi giới giữa Thần Thánh và tín đồ như tu sĩ của một số tôn giáo khác, tự nhận là có thể cầu xin Thần Thánh ban ơn giáng họa được. Chúng ta cần dùng trí tuệ để hiểu rõ con đường Giải Thoát của nhà Phật.
    Trong kinh Phật Giáo Nguyên Thuỷ (kinh Trường Bộ), Đức Phật đã khuyên các thầy Tỳ Kheo, những người đã thọ dụng sự cúng dường của tín thí Phật tử, không nên thực hành những tà hạnh như: “chiêm tinh, chiêm tướng, đoán số mạng, xem địa lý, xem mặt trăng, mặt trời, các sao mọc lặn, sáng mờ, … sắp đặt ngày lành để đưa (rước) dâu hay rể về nhà, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để cho mượn hay tiêu tiền, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết họa phước, …”
    Ngoài ra, cũng trong kinh Nguyên Thuỷ (Giải Thoát Kinh), Đức Phật đã dạy về giáo pháp của chư Phật. Ngài dạy rằng:
    “Ai hành trì chánh Pháp
    Là cúng dường Đức Phật
    Bằng cách cao quí nhất
    Trong các sự cúng dường…”
    Pháp mà Ngài dạy có thể tóm lược trong ba điều, đã trở thành quen thuộc với mọi người Phật tử:
    “Không làm các việc ác
    Siêng làm các việc lành
    Thanh tịnh hoá tâm ý…”
    Như vậy, nếu mỗi Phật tử đều hành trì ba điều Đức Phật dạy kể trên thì giờ nào, ngày nào, tháng nào hay năm nào cũng đều là giờ hoàng đạo, là ngày tốt, tháng tốt và năm tốt cả; đâu cần phải đi nhờ thầy cúng sao giải hạn nữa. Và hành trì như thế mới là cách cúng dường cao quý nhất trong các cách cúng dường Đức Phật.
    Hoàng Liên Tâm
    Nguồn: http://www.quangduc.com/Diendan/24cauangiaihan.html
    HŨ HÀI CỐT LÀ CON TIN TRONG CHÙA
    Hỏi†: Kính bạch Thầy, con người ai rồi cũng phải chất. Khi chết ở từng vùng họ được thân nhân đưa:
    1- Hỏa táng 2- Địa táng 3- Thủy táng 4- Diểu táng
    Hiện nay, một số người giàu có tiền muốn báo hiếu cho thân nhân của mình đến các chùa có diện tích đất rộng bỏ tiền ra mua một đám đất để xây một cái mồ rồi đưa xác thân nhân về chôn cất ở đó hoặc gửi tro vào tháp hài cốt trong chùa. Nhà chùa gặp cơ may này làm giàu, tính giá ít nhất là từ 5.000.000 đ cho đến 10.000.000 đ và có thể còn hơn nữa, nhờ đó nhà chùa mới làm lễ cầu siêu độ cho vong...

    Các người này họ rất vinh dự được đưa thân nhân về chùa ‚nằm trong đất chùa, được nghe kinh, được theo Phật v.v...‛. Kính thưa Thầy, với việc làm này người chôn trong đất chùa có lợi ích gì? Người con báo hiếu đưa xác hay hài cốt người thân về chùa có lợi ích gì? Quý thầy trong chùa nhận hài cốt và an táng trong đất chùa có lợi ích gì? Chúng con xin Thầy từ bi chỉ dạy cho chúng con được rõ.
    Đáp: Theo phong tục mê tín của dân tộc Việt Nam xuất phát từ trong các chùa cho rằng người chết được chôn trong đất chùa hoặc gửi nắm tro tàn trong tháp hài cốt hằng ngày linh hồn sẽ được nghe kinh, nhờ đó được siêu thoát lên cõi Cực Lạc, Thiên Đàng... Do lòng thương yêu và sự hiếu hạnh khiến cho người ta không còn sáng suốt, nên nghe quý thầy, quý cô trong chùa bảo sao làm vậy chứ không có tư duy, suy nghĩ chín chắn, vì thế sự tin tưởng thiếu thực tế, mơ hồ, không trí tuệ của một số phật tử đã làm giàu cho các chùa và biến các chùa trở thành nhà mồ, trở thành một nơi sinh hoạt mê tín chứ không còn là nơi tu hành của tăng ni và cư sĩ nữa.
    Ở thành phố đất hẹp người đông, vì thế chùa muốn kinh doanh làm tiền phật tử bằng sự lừa đảo mê tín như chúng tôi đã nói ở trên. Chùa nào hiện giờ cũng xây tháp hài cốt, khi có thân nhân chết, người ta đem thiêu xác gửi vào chùa và khi gửi nắm tro tàn như vậy thì phải tốn bao nhiêu tiền đóng vào và còn phải cúng dường tiền cho chùa rất nhiều hằng năm.
    Nếu thân nhân không cúng dường tiền thì hũ hài cốt ấy sẽ bị dẹp vào chỗ khuất lấp, còn ai cúng dường tiền nhiều thì hũ hài cốt sẽ được để trên chỗ sang trọng trong tháp. Trong chùa các Thầy thường bảo nhau: Tháp hài cốt là núi tiền, là những mẫu ruộng mầu mỡ xài hoài không hết. Đúng vậy, nhà chùa hiện giờ lấy hài cốt của những thân nhân phật tử làm con tin để làm tiền một cách phi nhân nghĩa, phi đạo đức.
    Ví dụ: Nhà chùa muốn làm một việc gì thì nhắm vào những phật tử có gửi hài cốt hoặc chôn những thân nhân trong đất chùa, họ kêu gọi đóng góp làm từ thiện hoặc xây cất chùa và bất cứ một việc gì trong chùa v.v... đều kêu gọi.
    Nghe kinh được siêu thoát về Cực lạc, Thiên đàng đâu không thấy mà chỉ thấy những người còn sống phải gánh một gánh nặng của tôn giáo mê tín. Cho nên chùa nào có đất rộng làm nghĩa địa hoặc xây tháp hài cốt là chùa đó giàu to, giàu không mất sức lao động chút nào cả.
    Chúng ta thấy tệ nạn lừa đảo phật tử hiện giờ trong các chùa rất lộ liễu. Bây giờ Thầy sẽ hỏi quý phật tử, quý vị cứ vui lòng nói thẳng có sao nói vậy đừng tự dối mình: - Hiện giờ quý phật tử thường đến chùa không những nghe thuyết pháp mà còn ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật, niệm chú, lạy hồng danh sám hối v.v... thế mà quý vị có thấy ai đã được lên Thiên Đàng, Cực Lạc chưa? Có thấy hết khổ chưa? Có ai làm chủ sanh, già, bệnh, chết chưa? Có thấy sự giải thoát chưa? Quý vị cứ thành thật trả lời xem.
    Trong lúc quý vị còn sống mà còn chưa biết được Cực Lạc, Thiên Đàng ở đâu? Có hay không có? Huống là người chết, họ còn nghe thấy được những gì. Nếu quả chăng nghe kinh được sanh về Cực Lạc Thiên Đàng thì người ta tu làm gì cho cực khổ phải không quý vị?
    Đó là những mánh khóe lừa đảo của kinh sách phát triển chúng ta nên cảnh giác. Với tinh thần tình cảm đạo nghĩa của cuộc sống dân tộc Việt Nam ‘Sống cái nhà, thác cái mồ‛, người sống dù nghèo hay giàu đều phải có một ngôi nhà, dù là nhà tranh vách lá, chòi, lều... cho đến nhà lầu, vila, biệt thự... cũng vẫn là một cái nhà mà thôi.
    Vì đạo nghĩa làm người nên khi chết còn lại nắm xương hoặc nắm tro tàn người ta xây một ngôi mộ nho nhỏ đủ để vùi lấp nắm xương và nắm tro trong lòng đất mẹ quê hương, để đánh dấu ghi khắc một kỷ niệm thăng trầm của một đời người.
    Ngôi mộ là nơi để ghi nhớ lại cho con cháu, cho người sau một ân nghĩa khó quên, chứ người chết còn gì nữa, chết là mất đi một kiếp người. Ngôi mộ là nơi để cho con cháu tập hợp nhắc lại những thành tích của Tổ tiên ông bà cha mẹ. Ngôi mộ là nơi để cho con cháu đừng quên nắm xương tàn của những người thân thương. Mỗi năm chỉ có một lần về thăm mồ mả tổ tiên ông bà cha mẹ là chúng tôi cảm thấy có một điều gì thương nhớ bùi ngùi trong tâm hồn của chúng tôi.
    Bởi vậy, đối với người Việt Nam có một tình nghĩa sâu sắc khó quên, những nấm mồ của Tổ tiên ông bà cha mẹ còn đó là tình cảm con người không bao giờ phai nhòa. Có những dân tộc khi chết đi, họ đem thiêu đốt và lấy tro đem đổ xuống biển, bảo rằng đem tro đổ xuống biển cho mát mẻ, khi thiêu xác sao không bảo rằng nóng? Việc an táng này có lợi nhưng có hại. Lợi là con cháu khỏi quét mả (tảo mộ), hại là lòng người ân nghĩa dễ quên, con cháu sau này không còn chỗ để nhớ tưởng Tổ tiên ông bà cha mẹ vì đã ném tro xuống biển làm ô nhiễm môi trường sống.
    Như chúng ta đã biết trên hành tinh này con người có nhiều kiểu an táng tùy theo bản năng, tình cảm và lâu rồi nó trở thành dòng văn hoá mai táng của mỗi dân tộc. Hiện nay được chia ra làm bốn cách an táng: 1- Địa táng. 2- Hỏa táng. 3- Thủy táng. 4- Điểu táng.
    Những dân tộc có tình cảm sâu xa như dân tộc Việt Nam, Trung Hoa thì địa táng xây mồ mả giữ gìn nơi an nghỉ cuối cùng của những người thân thương của mình. Những dân tộc ít tình cảm hơn như dân tộc Cam-pu-chia thì hỏa táng lấy tro đựng trong một cái ghè để dưới gốc cây lâm vồ cây lâm vồ giống như cây đa ở nước chúng ta. Người Campuchia để tro hài cốt của ông bà cha mẹ như vậy rất thiếu vệ sinh gây ra môi trường ô nhiễm khiến cho con người dễ bịnh đau.
    Những dân tộc ít tình cảm hơn nữa như dân tộc Tây Tạng thì họ điểu táng, khi người chết họ đem vào rừng cắt ra từng miếng thịt nhỏ quăng ném khắp nơi để cho loài chim bay đến ăn thịt. Cách thức điểu táng gây ra môi trường ô nhiễm ghê gớm mùi tanh, hôi, thối bốc ra khắp cả một vùng rừng núi khiến cho không ai dám đến nơi đó.
    Tục lệ điểu táng là một việc làm thiếu vệ sinh gây ô nhiễm khiến mọi người dễ sanh bệnh tật khổ đau. Thủy táng là những người dân sống trên sông nước, họ không có địa táng, hỏa táng hoặc điểu táng, khi có người chết họ an táng bằng cách neo vào quan tài một tảng đá to dùng thuyền chở ra giữa dòng sông họ dứt dây quan tài từ từ chìm xuống đáy sông.
    Lại có một số người sống ven biển như dân tộc Đại Hàn, người chết đem thiêu xác rồi lấy tro đổ xuống biển đó cũng là loại thủy táng, thủy táng bằng tro. Loại thủy táng nào cũng thiếu vệ sinh gây ra môi trường ô nhiễm cho cuộc sống của con người.
    Trong bốn loại an táng thì loại địa táng là tình cảm thiêng liêng nhất của loài người vì không thấy thi thể của người thân của mình bị hủy hoại một cách tàn nhẫn. Vả lại địa táng còn lưu lại dấu tích sau cùng để con cháu tưởng nhớ khó quên Tổ tiên dòng giống, duy trì và truyền thống một nền đạo đức ân nghĩa sâu dày. Địa táng là một sự giữ gìn vệ sinh môi trường sống rất tốt, nhưng nó không được trọn vẹn vệ sinh bằng hỏa táng cộng địa táng, nhưng hỏa táng tình cảm thiêng liêng của con người, không cho phép chúng ta và chúng ta không thể không đau lòng được trước cảnh thiêu xác người thân.
    Nếu hỏa táng đem tro hài cốt người thân vào chùa, điều này: 1- Mê tín (nghe kinh và siêu thoát). 2- Thiếu vệ sinh môi trường vì nắm tro tàn vẫn còn bốc mùi hôi khét khó chịu và để khơi khơi trên bàn thờ tỏa ra mùi uế trược bất tịnh ghê gớm. 3- Tốn hao tiền bạc phải cúng tế trong nhà chùa, nhà chùa lợi dụng tro hài cốt kêu gọi đóng góp mọi thứ khi chùa cần xây dựng, làm từ thiện, hoặc tổ chức cúng tế, lễ lộc v.v... 4- Nắm tro tàn hài cốt của người thân là con tin của nhà chùa để họ làm tiền phật tử, nếu Phật tử nào không có tiền cúng chùa thì tro hài cốt ấy được đẩy lui vào hốc tháp, có khi bị dẹp bỏ, nếu con cháu không cúng dường tiền cho chùa. 5- Nấm mồ trong đất chùa cũng vậy, cũng chỉ là con tin để chùa làm tiền mà thôi. Vì thế chùa có mả mồ nhiều có tháp tro hài cốt to thì chùa ấy giàu quý phật tử có thấy điều này không?
    Quý vị có thân nhân được chôn trong đất chùa, quý vị đừng lấy làm vinh hạnh, nhà chùa họ kinh doanh lừa đảo quý Phật tử đó, bán đất chôn thì quá đắt (tấc đất tấc vàng) chứ họ chẳng cho quý vị đồng nào cả, họ cắt cổ quý vị tới chết chưa thôi mà còn cắt cổ con cháu của quý vị nữa, được đem tro hài cốt vào chùa thì phải có một số tiền mặt và từ đó về sau nhà chùa ăn không tiêu, tiểu tiện không thông thì họ đều kêu quý phật tử đó.
    Quý vị đừng tưởng rằng: thân nhân được chôn trong đất chùa hoặc nắm tro tàn hài cốt được đặt vào ngôi tháp xinh đẹp của chùa là linh hồn được nghe kinh, được siêu thoát về cõi Cực Lạc, Thiên Đàng, Niết Bàn v.v... không chắc đâu quý vị ạ! Điều này các con đã bị lừa đảo lọt vào mê tín. Một đời tu hành của chúng tôi hết sức giới luật nghiêm túc, thực hiện pháp ly dục lý bất thiện pháp không lúc nào nghỉ ngơi, thế mà chúng tôi đi tìm cái Thiên Đàng, Cực Lạc, Niết Bàn... cũng chẳng thấy ở đâu mà có, chỉ có là ở chỗ trạng thái tâm bất động trước các pháp lúc chúng tôi còn đang sống, còn người chết rồi thì còn chi nữa nghe kinh, siêu thoát.
    Chết rồi chỉ còn nghiệp lực tái sanh luân hồi vào thân nghiệp khác còn chi nữa, nắm xương tàn trong lòng đất và nắm tro tàn trong tháp còn có nghĩa lý gì trong cuộc sống này nữa, thôi hết rồi nếu lúc sống không tu đến khi chết rồi còn gì nghe kinh siêu thoát được.
    Chúng tôi xin góp ý với quý phật tử, chúng ta là dân Việt Nam với tinh thần đạo đức ân nghĩa sâu dày và tình cảm khó quên với truyền thống ‚cây có cội nước có nguồn‛ hay ‚ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn‛ Dân tộc Việt Nam có cái nhìn sự sống và chết không khác ‚sống cái nhà, thác cái mồ‛. Với tinh thần truyền thống đạo lý này cụ Nguyễn Du nói: ‚Tiết thanh minh trong lúc tháng ba, Chị em ta rủ nhau đi tảo mộ‛.
    Đó là một tục lệ truyền thống tốt đẹp của con người hằng năm đến ngày này mọi người đều về thăm và quét dọn sạch sẽ mồ mả của Tổ tiên, ông bà, cha mẹ... đó là một hành động tình nghĩa đạo đức làm người, làm người không thể không có được đạo nghĩa này, nếu không có đạo nghĩa này thì không xứng đáng làm người, nhưng chúng ta đã thiêu xác cha mẹ đã gửi vô tháp nhà chùa, muốn vào thăm thì quý vị cũng phải có lễ lộc cúng bái... chứ không lẽ đi không xem sao được. Và thăm như vậy thì đâu còn có nghĩa là đi tảo mộ.
    Đi vào chùa thăm tro hài cốt của cha mẹ không còn ý nghĩa như đi tảo mộ ngày xưa nữa, nó chỉ có nghĩa là đi cúng Phật lễ bái mà thôi. Ngày tảo mộ là ngày con cháu tụ họp về đông đủ, nói lên tinh thần đạo đức ân nghĩa, khiến cho dòng họ không còn xa lạ, con cháu gần gũi với nhau hơn, do đó gia tộc có một tinh thần đoàn kết chặt chẽ. Ngày nay đất hẹp người đông, nên người ta thiêu xác lấy tro bỏ vào hũ, đem gửi vào chùa làm mất ý nghĩa truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và biến nhà chùa thành nhà mồ, không còn ý nghĩa nhà chùa là nơi tu hành của tăng ni và cư sĩ.
    Theo chúng tôi thiết nghĩ nhà chùa là nơi thanh tịnh trang nghiêm để tu hành chứ không phải nghĩa địa nhà mồ mà người tín đồ có thể đem sự bất tịnh vào đó làm cho ô uế môi trường sống chung chỗ tu hành.
    Thành phố hiện giờ có rất nhiều chùa, mỗi chùa đều có nơi để tro hài cốt người chết mùi hôi của chất tro này bốc lên và lan rộng khắp cùng trong thành phố làm cho bầu không khí ở đây rất ô nhiễm, khiến cho người dân thành phố dễ bệnh hơn dân chúng ở nông thôn. Ở thành phố chỉ có nhà chùa thì được lợi mà dân thành phố thì chịu thiệt thòi.
    Theo sự suy nghĩ của chúng tôi, một nhà chùa nên tổ chức một nghĩa địa cách xa thành phố do phật tử tại chùa hùn nhau mua một khu đất rồi tất cả thân nhân của các phật tử chùa đó chết đều được đem về chôn cất, nhưng nhà chùa không được bán không được lấy tiền dù ít dù nhiều của một người nào cả, vì đó là khu đất chung của phật tử, của chùa đó, cũng giống như bên đạo Công giáo, nơi nhà thờ nào họ cũng tổ chức một nghĩa địa tất cả những tín đồ chết đều được đem vào đó chôn cất một tập thể mồ mả của tín đồ Thiên Chúa.
    Nhà chùa chúng ta cũng nên tổ chức như vậy nhưng không được bán lấy tiền như trên chúng tôi đã nói, bán lấy tiến làm mất ý nghĩa đạo lý của tôn giáo. Các nhà chùa ở miền Bắc đã làm sai không đúng tinh thần đạo đức làm người, đến người chết, chúng ta không dành cho họ một tấc đất để gửi nắm xương tàn hay sao? Vậy mà các chùa sao nỡ nhẫn tâm làm tiền người chết - cha mẹ hay người thân của phật tử sao đành? Để xác định điều này người chôn trong đất chùa cũng như gửi tro hài cốt vào tháp trong chùa thì chẳng có ích lợi gì về mặt tôn giáo, mà còn có hại là con cháu phải tốn tiền bạc đủ mọi thứ, nếu nhà chùa kêu đóng góp, thì chắc quý vị phật tử không thể nào từ chối được.
    Theo Phật giáo Nguyên Thủy sống không tu tập ngăn ác diệt ác pháp đến khi chết chôn trong đất chùa cũng như chôn trong các nghĩa địa khác. Chôn và gửi tro hài cốt trong đất chùa là làm con tin cho nhà chùa. Người con hiếu chôn hay gửi tro hài cốt cha mẹ vào chùa để được theo Phật nghe kinh, siêu thoát là điều mê tín.
    Nhà chùa nhận chôn và tro hài cốt vào đất chùa là một lợi ích rất lớn, đó là kinh doanh hài cốt con người đễ làm giàu bất chánh, đây là cái sai thứ nhất. Nhà chùa đã biến nơi tu hành thành nơi nhà mồ nghĩa địa, nơi thực hiện sự mê tín của dân gian, đây là cái sai thứ hai.
    Tóm lại vì lợi ích vệ sinh trong môi trường sống chung và đạo nghĩa làm người trong tinh thần dân tộc Việt Nam ‚sống cái nhà thác cái mồ‛ thì mỗi nhà chùa đều có một nghĩa địa riêng cách xa nơi sinh hoạt tu học của tăng ni và cư sĩ. Nơi đó tất cả tín đồ Phật giáo khi chết đều được an táng, mỗi tín đồ không phải tốn hao một đồng một xu nào cả. Đó là thể hiện tình người tương thân tương ái, giúp nhau trong lúc hữu sự (Trích Đường Về Xứ Phật tập X)
    CÁCH TIN PHẬT

    Ít ai nghĩ rằng Cách Tin Phật mà lại vô cùng quan trọng đối với Phật Tử và nhất là đối với người tu hành. Thật vậy, hầu hết người theo Đạo Phật đều tin rằng Phật là một vị thần linh, có toàn quyền ban ân, giáng họa, cứu độ cả Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Vì thế, họ cầu xin đủ thứ. Sống thì tăng ích, tăng thọ. Làm ăn thì xuôi chèo mát mái, mua may, bán đắt. Đi làm việc thì tiến chức, thăng quan. Con cái thì khỏe mạnh, học giỏi, thi đâu đậu đấy. Kẻ mua gian bán lận cũng cầu xin ngày càng phát đạt! Thậm chí có người khi sống thì làm toàn những chuyện ác, vậy mà lúc chết thì gia đình, con cháu nhờ các thầy có uy tín tụng Kinh, cúng kiến rình rang, tin là với các bài tụng đó, thầy sẽ đưa hồn người chết về thẳng Tây Phương Cực Lạc, tạo điều kiện cho một số người dựa vào đó để khai thác!
    Tất nhiên khi con người thấy mình quá bé nhỏ trước thiên nhiên nên cần một chỗ để nương tựa, để được che chở thì đó cũng là điều dễ hiểu. Có điều đã là người Phật Tử, nhất là người của thời đại khoa học kỹ thuật này chúng ta cũng nên xem lại Đạo Phật chân chính có bày ra tụng niệm để cầu xin, Phật có hứa sẽ cứu độ cho mọi người không? Hoặc hứa cứu độ nhưng lại có kèm theo điều kiện nào không? Bởi nếu ta quá đơn giản, chỉ cần Nghe ai nói đã Tin, không cần biết nguồn tin đó xuất phát từ đâu? Có phải từ trong chính Kinh hay không? Nếu đã không biết mà cứ tin, như vậy liệu đó có phải là mê tín?
    Chúng ta đã biết, con người thì bao giờ cũng như bao giờ. Thời nào mà chẳng có người lương thiện, kẻ bất lương. Người tu hành chân chính. Kẻ dối thế gạt đời? Như vậy nếu chẳng may gặp phải những tà sư hiểu sai lại đi truyền bá. mà chúng ta cứ Tin, không kiểm tra thì hậu quả sẽ ra sao? Do đó, theo tôi, tốt hơn hết, chúng ta nên mở Kinh xem có phải khi đã thành Phật rồi thì Đức Thích Ca có trở thành Thần Linh thiên biến vạn hóa, hào quang sang lóa, bay trên hư không, hô phong hoán vũ, cứu độ cho bá tánh, ai cần gì cứ cầu xin là sẽ được ban cho hay không? Dường như trong các quyển chính Kinh ta không hề thấy Phật thi triển những kiểu thần thông, phép mầu. Ngược lại, Ngài còn quở trách khi đệ tử sử dụng. Cuộc sống của Ngài hết sức bình dị được ghi lại trong Kinh Kim Cang: "Lúc đó gần đến giờ ăn, Đức Thế Tôn đắp y, cầm bát vào thành lớn Xá Vệ mà khất thực.
    Trong thành ấy, đức Phật theo thứ tự ghé từng nhà khất thực xong, trở về Tịnh xá, dùng cơm rồi cất y bát, sau khi rửa chơn xong, đức Phật trải tòa mà ngồi" .
    Trong Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân thì nhiều lần Đức Thế Tôn bị bịnh, Ngài Anan phải mang bát đi xin sữa. Thậm chí Ngài đã chết vì "ngộ độc thực phẩm" do dùng bữa cúng dường của Thuần Đà!
    Nếu quả thật Phật là vị thần linh thiên biến vạn hóa thì chắc chắn Ngài cần gì phải đi khất thực, chỉ cần hóa phép để có cơm cho mình và tăng đoàn. Và nếu đã là thần linh, lẽ ra Ngài phải bất tử, vi thân Kim Cang bất hoại thì chất độc làm sao mà có thể ngấm vào cơ thể để giết chết Ngài được? Chính vì vậy mà ta cần rà soát lại, để đừng quá dễ dãi tin vào Đạo Phật, cho rằng Đạo Phật là Chân Lý thì cái gì cũng phải đúng, mà quên rằng không thiếu gì kẻ đã lợi dụng Đạo Phật để lồng vào đó những thần quyền, mê tín, rồi chồng mê thêm cho ta một cách oan uổng, và biến Đạo Phật từ Nhất Thừa, Tự Tu, Tự Độ trở thành Quyền Thừa, Nhị Thừa, nương tựa, cầu xin, tôn thờ đấng sáng lập y như các Tôn Giáo khác, trong Khi Đạo Phật chân chính không hề có những điều đó.
    Rõ hơn nữa là trong VI TẰNG HỮU THUYẾT NHÂN DUYÊN, khi Phật giảng pháp thì La Lầu La lơ đãng không nghe. Phật hỏi tại sao biếng lười không chịu nghe pháp thì La Hầu La viện lẽ là "còn nhỏ, tâm trí còn non nớt, đợi đến tuổi lớn khôn may ra mới nghe pháp được".
    Phật hỏi: "Muôn vật vô thường, thân người cũng khó giữ được, vậy ngươi có thể giữ được mạng ngươi đến lớn không?"
    La hầu La trả lời: "Dạ thưa Đức Thế Tôn! La Vân con đây không thể giữ được, nhưng Phật há chẳng giữ giùm mạng con ư?"
    Phật bảo: "Này La Vân! ta còn không giữ được cho ta huống chi là giữ giùm cho ngươi"! (VTHTND.tr. 27).
    Phật đã xác định không thể giữ mạng cho con, cho mình, đúng theo Quy luật Sinh. Lão, Bịnh, Tử mà Ngài đã khám phá ra. Bằng chứng hiển nhiên là cả Ngài và con trai cũng như chư Tổ đều đã chết. Vậy thì ta cầu xin được trường thọ, được điều nọ điều kia ai sẽ ban cho ta? Nếu tin rằng Đạo Phật có thần thông, phép màu thì Phép màu duy nhất mà ta thấy Phật dạy đệ tử đó là Phép màu về Giáo Pháp. Ngài dạy: "Này các tỳ kheo. Vì nhận thấy sự vô ích, bất hảo của các phép thần thông nên Như Lai nhờm chán không muốn chúng được phô trương. Về phép tha tâm thông cũng thế. Nó chẳng tốt đẹp chút nào. Vì đôi khi kẻ vô tín ngưỡng nói: "Nào lạ gị. Có một loại ngọc kim cương. Nhờ thứ ngọc đó mà ông đạo sĩ đoán được tư tưởng kẻ khác, nào là: Anh đang suy nghĩ thế này, toan tính thế kia… Vì nhận thấy sự vô ích, bất hảo của phép tha tâm thông nên Như lai nhờm chán không muốn chúng được phô trương".Về phép màu về Giáo Pháp thì Ngài dạy: "Trong trường hợp này, một ông giáo chủ dạy giới tử: "Ngươi nên học hỏi như thế này chớ chẳng phải như thế kia. Ngươi phải thực hành như thế này chớ không phải như thế khác. Ngươi hãy cố gắng thành tựu phẩm hạnh như vầy và ráng bảo tồn mức độ ấy. Đó là phép màu về Giáo Pháp.
    Còn một cách khác nữa là kiểm tra phương pháp tu hành như thế nào để "Thành Phật" theo chính Kinh. Ta thấy:
    1/- Trước hết, Kinh VIÊN GIÁC có Kệ:
    NẾU NGƯỜI ĐOẠN THƯƠNG GHÉT
    CÚNG VỚI THAM SÂN SI
    CHẲNG CẦN TU GÌ KHÁC
    CŨNG ĐỀU ĐẶNG THÀNH PHẬT
    2/- CHỈ, QUÁN và CHỈ QUÁN SONG TU:
    "Đây là phương tiện tu hành của hành giả, tức BA PHÁP QUÁN. Nếu các chúng sinh siêng tu ba pháp này được hoàn toàn tức là Như Lai xuất hiện ở thế gian vậy (VG tr.176).
    3/- Đọc SÁU CỬA VÀO ĐỘNG THIẾU THẤT, ta thấy Tổ Đạt Ma dạy:
    - "Nếu thấy Tâm mình là Phật thì không cần cắt tóc cạo râu. Hàng áo trắng vẫn là Phật. (tr. 128)
    4/- Nếu Thấy Tánh, chiên đà la cũng thành Phật được (tr.129)
    5/- Phật trước Phật sau chỉ nói pháp truyền Tâm, ngoài ra không pháp nào khác. Nếu thấy rõ pháp ấy thì phàm phu ngu dốt không biết một chữ cũng vẫn là Phật. (tr.130).
    Thành Phật chỉ là được Giải Thoát. Việc tu hành để Thành Phật được nói rất rõ, trong các Kinh vừa chiếu, ta thấy chỉ là: Điều phục Tham, Sân, Si. Là Chỉ, Quán và Chỉ Quán song tu, tức là dùng phương pháp dừng những suy nghĩ vẩn vơ để soi, quán các pháp của Đạo nhằm hiểu rõ những điều cần phải hành trì rồi thực hành. Kết quả của những việc làm đó là THẤY TÁNH hay là THẤY BỔN THỂ TÂM. Cái này ở trong TÂM của mỗi người, không liên quan đến hình tướng, nghề nghiệp, thông minh hay ngu dốt nên Tổ Đạt Ma nhấn mạnh: "Nếu thấy rõ pháp ấy thì phàm phu ngu dốt không biết một chữ cũng vẫn là Phật".
    Chỉ cần bỏ THAM SÂN SI THƯƠNG GHÉT. Đơn giản như vậy thôi mà trở thành Phật Tổ Như Lai, quyền phép vô biên, cứu độ cả Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, ai cầu gì cũng ban cho được sao? Quả là hết sức vô lý, chỉ có những người không chịu đọc Kinh hay lười suy nghĩ mới chấp nhận dễ dàng. Nhưng rõ ràng Kinh dạy là Phật cứu độ cả Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, điều đó cần hiểu như thế nào?
    Trước hết ta không nên quên, mục đích của Đạo Phật là để Thoát Sinh Tử. Căn bản của Đạo Phật là TỰ ĐỘ, không có Độ Tha, tức là độ cho bên ngoài, người ngoài, mà rõ ràng hơn hết là ta thấy: ngay cả La Hầu La là con trai duy nhất của Phật Thích Ca và em Ngài là Anan cũng phải tư tu hành. Thứ nữa, nếu cần cứu độ, thì người tu Phật có Tứ Ân phải báo đáp, trong đó có Ân đất nước là nơi cưu mang họ. Như vậy, nếu có quyền lực như nhiều người vẫn tưởng tượng thì nơi đầu tiên mà Đức Thích Ca phải cứu độ là Ấn Độ của Ngài. Nhưng cho đến nay, ta thấy Ấn Độ vẫn chiến tranh, đói nghèo, lạc hậu. Như thế chẳng lẽ Phật nói sai, trong khi Ngài luôn khẳng định: "Các ông phải tin tưởng lời nói chắc thật của Như Lai?" Giữa thực tế và lời Kinh đã hoàn toàn trái ngược nhau chẳng lẽ không mảy may làm cho ta ngạc nhiên hay thắc mắc?
    Chính vì vậy mà ta cần phải hiểu cho đúng để dẹp bỏ những niềm tin vô căn cứ, để khỏi làm chuyện cúng kiến, cầu xin vô ích, còn bị người khác đạo nhạo báng rằng tưởng Đạo Phật là gì ghê gớm để cần phải có những vị Giác Ngộ, hóa ra cũng chỉ đào tạo các tín đồ tôn thờ, cầu xin giáo chủ của mình, khác gì các tôn giáo khác? Vậy mà cũng tự cho đạo của mình là chân lý sao? Cái Chân Lý đó nằm ở đâu? Hơn nữa, nếu xét về xuất xứ của các vị Giáo Chủ thì Đạo Thiên Chúa được cho là con của Thượng Đế, vì thương loài người nên giáng trần để chuộc tội cho nhân loại, trong khi Đức Thích Ca thì chỉ là Thái Tử, con của một Tiểu Vương, tức là người phàm như mọi người, phải tu hành rồi mới đắc đạo! Như vậy, nếu nói về cầu xin thì cầu với Thượng Đế phải hơn, ta nghĩ sao?
    Có lẽ mọi người ai cũng biết Đạo Phật được gọi là "Đạo Độ Khổ", nhưng không phải do có Phật cứu hộ cho. Mà đó là một tôn giáo có những phương pháp để giúp người tin theo, tự hành trì để được Thoát Khổ, nên gọi là "TỰ ĐỘ". Hoặc còn có tên khác là "ĐẠO NHÂN QUẢ", vì dùng NHÂN QUẢ để giáo dục con người, để mọi người cải ác, hành thiện cho cuộc sống hiện tại được an vui, gọi là Niết Bàn tại thế.
    Để làm được những điều đó thì Đạo Phật chỉ rõ nguồn gốc xuất phát của tội ác, khổ đau đều ở cái TÂM. Mỗi người cần ý thức lấy để tự cải tạo, thanh lọc lấy mình, vì thế mà tu theo Đạo Phật gọi là TU TÂM. Một người làm được thì trước hết bản thân họ và người chung quanh cũng được nhờ. Cứ thế nhân lên thì gia đình, xã hội sẽ trở nên tốt đẹp mà không cần phải cầu xin thánh thần nào giúp cho, bởi có cầu thì cũng không có ai ban cho. Người tạc tượng Phật để thờ, Tụng Kinh để cầu xin thì bị khiển trách đó là "hành tà đạo" trong Kinh Kim Cang: "Nhược dĩ sắc kiến ngã. Dĩ âm thanh cầu ngã. Thị Nhân Hành tà đạo. Bất năng kiến Như lai!" Được dịch là: "Ai nương sắc để thấy ta. Dùng âm thanh để cầu ta. Kẻ đó hành tà đạo. Không thấy được Như Lai". Kinh đã dạy như thế mà nhan nhản những người đang làm!
    Nhưng nếu mỗi người chỉ phải tự thanh lọc lấy mình mà gọi là Thành Phật thì tại sao cho là Phật có thể "cứu độ cho Tam Thiên Đại Thiên thế giới?"
    Đó là chỗ hiểu khác nhau của Nhị Thừa và Nhất Thừa. Nhị Thừa thì chỉ Y KINH GIẢI NGHĨA. Thấy Kinh nói rằng Phật "cứu độ Tam Thiên Đại thiên thế giới" thì cứ thế mà tin, chẳng biết cứu độ như thế nào, cũng chẳng biết cái Tam Thiên Đại Thiên đó ở đâu? Họ không cần xét để thấy rằng nếu nó nằm ở thời này thì biết bao nhiêu Phật đã thành rồi mà các Ngài cứu độ như thế nào để chiến tranh, giết chóc, tai họa diễn ra triền miên? Còn nếu ở cõi khác thì ai kiểm chứng? Rồi thì nếu cứ cầu xin và chờ đợi thì chờ đến bao giờ, trong khi Đạo Phật cho rằng có Ngài Quán Thế Âm lúc nào cũng túc trực, chỉ chờ nghe tiếng kêu của chúng sinh là đến cứu độ ngay?
    Trong khi đó, Nhất Thừa, diễn giải đúng như Chính Kinh thì Phật Tại Tâm. Chúng Sinh là những phiền não ở trong tâm. Và TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI, chính là những tư tưởng, cứ theo Mắt, theo Tai mà "trùng trùng duyên khởi" nhiều như cư dân trong cả một thế giới. Vì Có đến 3 chúng loại: THAM, SÂN và SI, nên gọi là TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THỂ GIỚI. Người muốn thành Phật phải độ thoát tất cả chúng, cho nó được yên ổn, thanh tịnh, không còn phiền não, khổ đau nữa. Công việc làm cho tư tưởng được thanh tịnh đó gọi là "Cứu độ chúng sinh", hoặc là "Độ Sinh", hay "Cúng Dường Phật", hoặc "Làm Hạnh Bồ Tát", đều cùng một nghĩa, để cuối cùng người làm đó cũng sẽ được "Thành Phật".
    Lẽ ra Tu có nghĩa là Sửa. Phật là Giải Thoát. Người đi tu là để thực hiện lời Thọ Ký: "Chúng sinh là Phật sẽ thành". Nhưng với đa số từ nhiều đời nay, thì đi tu lại là "để phụng sự cho Phật", rồi suốt đời tu hành chỉ là thờ phụng, ca ngợi tán thán Phật để cầu xin cho mình, cho bá tánh, mà không thấy là mâu thuẫn với Luật Nhân Quả và Tự Độ của Đạo Phật! Và ta có thấy là vô lý hay không, khi tin rằng lúc sống dù gây bao nhiêu ác nghiệp đi nữa, khi chết chỉ cần rước Thầy tụng vài thời Kinh Vãng Sanh là Phật rước ngay về Tây Phương Cực Lạc? Loài người từ xa xưa, do khiếp sợ trước mưa giăng, sấm chớp, bão tố, động đất, sóng thần… cho đó là do bàn tay của thần linh điều khiển, nên lễ bái, cầu xin… Nay thì khoa học đã chứng minh: đó chỉ là những hiện tượng của thiên nhiên, và con người đã vượt qua ngưỡng mê tín, thần quyền để chinh phục các thiên hà xa xôi từ lâu rồi, không lẽ đến giờ ta vẫn còn ngây thơ đến nỗi tin rằng thầy tụng có uy lực lớn đến nổi khiển được cả Phật, để Ngài chỉ cần nghe vài bài tụng là bất chấp Nhân Quả, đưa kẻ ác siêu thăng? Nếu tin như thế thì cũng nên tin luôn là Tây Phương Cực Lạc đầy dẫy những tên đại gian đại ác, vì chính họ mới có nhiều tiền để rước những Thầy có uy tín đến tụng cho! Và như thế, nếu không được tụng Kinh Vãng Sanh hẳn những người nghèo, dù cả đời ăn ở hiền lương, đạo đức, lúc chết là phải sa Địa Ngục hết cả sao? Ta lý giải điều này ra sao? Nếu thế tại sao Đạo Phật còn dạy Nhân Quả, dạy phải Giữ Giới, hành theo Bát Chánh Đạo, cải ác, hành thiện làm gì? Mọi người cứ thả sức làm ác rồi chỉ cần để dành ít tiền để mời thầy tụng Kinh khi qua đời là siêu thăng ngay thôi! Và rồi, nếu tụng Kinh mà thật sự có hiệu quả như vậy sao còn phải tu hành làm gì cho cực khổ, cất chùa chi cho tốn kém, chỉ cần dạy cho bá tánh Tụng Kinh là đủ! Ta nghĩ sao về những mâu thuẫn đã và đang được duy trì từ bao đời này? Bởi chắc chắn những kiểu nói, hành bất nhất, pha trộn thần quyền, mê tín hoàn toàn không phải là của Đạo Phật chân chính. Người có hiểu biết cần xem lại.
    Thời đại này là của Khoa Học, không nên có những niềm tin vô căn cứ, mà chỉ "nên tin vào những gì có thể kiểm chứng, đưa đến kết quả thực tế hiện tiền". Chính Đức Thích Ca từ mấy ngàn năm trước đã dặn dò như thế. Nếu ta làm khác đi thì sao có thể tự xưng là đệ tử của Ngài? Thêm một điều vô lý nữa là việc tu hành ảnh hưởng đến vô lượng đời của mình lại trông cậy vào người khác đọc rồi giảng lại cho nghe, trong Khi Kinh đã dịch sẵn ra tiếng Việt từ rất nhiều năm! Phải chăng đã đến lúc ta nên xem lại cách hiểu, hành của mình để phân biệt đúng, sai mà tự phá mê cho mình. Bởi người tại gia thì không nói chi. Nhưng với người đã quyết chí tu hành. Hy sinh tuổi thanh xuân. Bỏ mặc cha mẹ già không phụng dưỡng. Bỏ hết nhà cửa, sản nghiệp. Không thiết làm ăn để sinh sống. Không lập gia đình. Hành trì miên mật. Giới hạnh trói buộc trăm bề. Ăn uống cũng kham khổ một đời. Do không kiểm chứng, chỉ nhắm mắt tin theo những gì mà lớp người đi trước hiểu sai rồi truyền lại… cuối cùng lại chẳng đi tới đâu, trở thành xây lâu đài trên cát, có phải là oan uổng lắm không? Đã đành những người ham làm Thầy, chưa thông Phật Pháp mà đã ra giảng dạy, lôi kéo nhiều người tin theo, dắt họ đi vào sai lầm thì đương nhiên là phải trả Nghiệp chồng mê cho người. Nhưng cũng một phần lỗi do ta thiếu sáng suốt. Như vậy ai sẽ đền cho ta khi cả một đời hay nhiều kiếp bị phí phạm một cách vô ích đây?


    Tạng Thư Phật Học

    Bước Đầu Học Phật
    Hòa thượng Thích Thanh Từ
    -6-
    Cúng dường Tam Bảo
    I.- MỞ ÐỀ
    Thấy người làm việc lành việc phải, mình tán thán bằng lời, hoặc góp một phần công, giúp một phần của để thành tựu công việc lành ấy. Quả là người này đã có lòng lành đáng quí đáng mến. Huống nữa, Tam Bảo là cây cầu đưa chúng sanh từ bến mê qua bờ giác, Tam Bảo là con thuyền cứu vớt chúng sanh đang chìm trong bể khổ đưa đến bờ Niết-bàn, Tam Bảo là ngọn đèn sáng soi đường cho chúng sanh khỏi lạc trong rừng tối vô minh. Người phát tâm tán trợ bồi bổ tô đắp cho Tam Bảo thường còn ở thế gian thì công đức biết bao kể xiết. Vì Tam Bảo thường còn ở thế gian, chúng ta phát tâm cúng dường, quả là việc làm tự lợi lợi tha đầy đủ.
    II.- ÐỊNH NGHĨA
    Cúng dường là nuôi dưỡng khiến Tam Bảo hằng còn ở đời. Tất cả những sự bảo bọc giúp đỡ gìn giữ để Tam Bảo thường còn đều gọi là cúng dường. Tam Bảo là Phật, Pháp và Tăng. Phật đã quá khứ, chỉ còn lại hình tượng. Pháp bắt nguồn từ chữ Phạn đến chữ Hán còn nằm sẵn trong kho tàng nhà chùa. Tăng là những tu sĩ tu theo Phật học chánh pháp. Chính những vị này có bổn phận gìn giữ hình tượng Phật còn, phiên dịch giảng giải chánh pháp. Tam Bảo đều quí kính, song hệ trọng nhất là Tăng. Nếu không có Tăng ai gìn giữ chùa chiền, ai giảng dạy chánh pháp? Thế nên, cúng dường Tam Bảo là nói chung, mà hệ trọng là Tăng. Tăng chúng còn là Tam Bảo còn, Tăng chúng mất thì Tam Bảo cũng vắng . Vì thế mọi sự cúng dường đều đặt nặng vào Tăng, với mục đích Tam Bảo tồn tại ở nhân gian.
    III.- CÚNG DƯỜNG SAI LẠC
    Thế mà có những người cúng dường một cách lệch lạc mất hết ý nghĩa cúng dường. Như có một Phật tử đi chùa đến thầy Trụ trì xin cúng năm đồng, liền đó được nghe hỏi "cầu cái gì", Phật tử ngơ ngác. Thầy Trụ trì hỏi thêm "cầu an hay cầu siêu", Phật tử bóp đầu suy nghĩ đáp "cầu siêu", rồi biên một dọc tên vào sổ cầu siêu. Phật tử này như thế, Phật tử khác cũng thế. Ðã thành thông lệ, cúng chùa là phải cầu siêu hay cầu an. Cầu an cầu siêu cho bản thân mình, cho gia đình mình, cho thân thuộc mình, sự cúng ấy quả là vì mình. Vì mình mà đi chùa, vì mình mà cúng chùa đích thực là tham lam ích kỷ. Nếu mang một tâm niệm tham lam ích kỷ đến với đạo, chưa xứng đáng một Phật tử. Cái hư dở này tại ai? Chính tại người hướng dẫn đã chỉ lối sai lạc.
    Ðến phần ông thầy, do Phật tử cầu siêu cầu an nên có tiền. Ðồng tiền này sau một thời kinh cầu nguyện xong, ông tự coi như trọn quyền sử dụng không có tánh cách e dè sợ sệt gì cả. Nếu một buổi lễ cầu nguyện được Phật tử cúng nhiều tiền, thế là ông mặc tình phung phí, vì tự cho do công tụng cúng của mình mà được. Thế thì đời tu hành cốt vì giác ngộ giải thoát, vô tình trở thành người tụng kinh mướn. Người tu cốt xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, biến thành kẻ thụ hưởng. Trái với mục đích xuất gia, trở thành kẻ hư hèn, chính vì nhận đồng tiền phi pháp. Cầu nguyện là một điều phụ thuộc nhỏ nhít trong Phật pháp, vì nó không phải là chân lý. Thế mà, người ta thổi phồng nó lên, để rồi cả đời người tu gần như hết tám mươi phần trăm (80%) Phật sự đều nằm trong những lễ cầu nguyện. Truyền bá một điều không phải chân lý, ắt hẳn chánh pháp phải chịu suy đồi. Người có trách nhiệm hướng dẫn Phật tử mà một bề cổ xúy cho sự cầu cúng, là đưa họ vào rừng sâu mê tín, gây thêm lòng tham lam ích kỷ cho họ. Quả là kẻ tạo thêm tội lỗi, chớ không phải người tu hành.
    IV.- CÚNG DƯỜNG ÐÚNG PHÁP
    Người Phật tử chân chánh khi phát tâm cúng dường Tam Bảo, chỉ vì mong cho Tam Bảo thường còn ở thế gian để đưa chúng sanh ra khỏi đau khổ mê lầm. Nếu đến chùa, Phật tử cúng năm mười đồng, Tăng, Ni có hỏi cầu điều gì, Phật tử nên thưa: "Chúng tôi chỉ cầu mong chư Tăng, chư Ni nhận món tịnh tài này để có phương tiện an ổn tu hành, hầu truyền bá chánh pháp lợi ích chúng sanh." Chỉ vì Tam Bảo vì chúng sanh mà cúng dường, đây là tâm hồn cao thượng quảng đại vị tha. Làm việc bố thí cúng dường cao đẹp như vậy công đức làm sao giới hạn đuợc. Vì Tam Bảo thường còn ở thế gian để làm lợi ích cho chúng sanh, trong chúng sanh đã có bản thân mình và thân quyến mình rồi. Quên mình chỉ nghĩ đến toàn thể chúng sanh, không phải lòng lợi tha vô bờ bến là gì? Với một lòng vị tha rộng lớn như vậy, dù một số tiền nhỏ, một vật dụng mọn đem cúng dường cũng là phước đức vô biên. Cho nên nói "Phật dụng tâm".
    Tăng, Ni nhận sự cúng dường chân chánh của Phật tử, tự nhiên thấy mình có một trọng trách lớn lao vô cùng. Làm sao tu hành tinh tiến? Làm sao truyền bá chánh pháp lợi ích chúng sanh? Ðể xứng đáng thọ nhận những thứ cúng dường của Phật tử, chỉ cần nỗ lực tu hành, cố gắng học tập để hiện tại và vị lai làm lợi ích chúng sanh. Nếu hiện đời, Tăng, Ni, không làm tròn hai việc này, có thể mai kia phải mang lông đội sừng để trả nợ tín thí. Biết như thế, hiểu như thế, Tăng, Ni làm sao dám lơi lỏng lơ là trong việc tu hành học tập. Thế là, nhờ sự cúng dường chân chánh của Phật tử thúc đẩy Tăng, Ni đã cốù gắng càng cố gắng hơn trong nhiệm vụ thiêng liêng cao cả của chính mình. Thấy mình thiếu nợ, mới cố gắng lo đền trả bằng cách nỗ lực tu hành và độ sanh, đây là mục tiêu đức Phật bắt Tăng, Ni thọ nhận đồø cúng dường của Phật tử. Tăng, Ni là người có bổn phận hướng dẫn tín đồ cúng dường chân chánh đúng pháp thì, cả thầy trò đều cao thượng và lợi ích lớn. Chúng ta phải gan dạ đập tan những tập tục sai lầm, đừng vì quyền lợi, đừng vì cảm tình, khiến cho chánh pháp đi lần vào chỗ mờ tối suy tàn. Chúng ta là người lãnh đạo, không phải là kẻ theo đuôi tín đồ để cầu được nhiều lợi dưỡng. Ðã dám bỏ nhà đi tu, tức là dám nhận chịu mọi sự đói rách nghèo nàn, mọi sự gian truân khó khổ, vô lý vì sự ăn mặc mà đi ngược lại sơ tâm siêu thoát của mình.
    Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa chúng tôi hoàn toàn phủ nhận sự cầu nguyện. Chúng ta thấy rõ cầu nguyện chỉ là trợ duyên nhỏ xíu, kẻ đối tượng cầu nguyện chỉ được lợi ích một hai phần mười, như trong kinh nói. Chúng ta đã thừa nhận "nhân quả nghiệp báo" là chân lý thì sự cầu nguyện là ngoại lệ, có kết quả cũng tí xíu thôi. Cổ vũ cho điều phi chân lý, để cho người xao lãng chân lý, là việc làm trái với chánh pháp. Vì lòng hiếu thảo của Phật tử, buộc lòng chúng ta phải cầu nguyện, khi cầu nguyện chúng ta phải cảnh cáo rằng: "Việc làm này là phụ thuộc không đáng kể, kết quả ít lắm." Có thế mới khỏi lệch lạc trên con đường hoằng hóa lợi ích chúng sanh. Ðã thấy cầu nguyện là việc phụ, chúng ta đừng vì nó làm mất thì giờ tu học của Tăng, Ni, làm mất thì giờ truyền bá chánh pháp.
    V.- LỢI ÍCH CÚNG DƯỜNG
    Cúng dường Tam Bảo được lợi ích tùy tâm niệm người Phật tử. Nếu vì mình và thân thuộc mình mà cúng dường, phước đức cũng theo tâm lượng hẹp hòi ấy. Nếu vì Tam Bảo thường còn và lợi ích chúng sanh, phước đức sẽ theo tâm lượng rộng rãi thênh thang này. Người Phật tử chân thật thì, bao giờ hay bất cứ việc gì cũng vì lợi ích chúng sanh. Ðừng khi nào để lệch lạc mục tiêu tối thượng ấy. Chư Phật ra đời cũng vì chúng sanh, truyền bá chánh pháp cũng vì chúng sanh, chúng ta đền ơn chư Phật cũng vì cứu độ chúng sanh. Ðó là tâm niệm rộng lớn cao cả của người tu theo đạo Phật. Vì chúng sanh mà cúng dường Tam Bảo, quả thật người Phật tử sống đúng chánh pháp, hành đúng chánh pháp. Hành động đúng chánh pháp thì công đức lượng đồng với chánh pháp, nghĩa là kiếp kiếp đời đời không mất. Nếu dạy Phật tử làm phước tạo công đức, Tăng, Ni nên dạy đúng tinh thần này.
    VI.- KẾT LUẬN
    Chúng ta tu theo đạo Phật là đi trên con đường sáng, ánh sáng giác ngộ đến đâu thì đêm mê lầm tan đến đấy. Mê tín là một đêm, giác ngộ là ngọn đèn sáng. đêm và ánh sáng hai cái không thể có đồng thời. Nếu sáng thì không tối, hoặc tối thì không sáng. Có giác ngộ là không có mê tín, có mê tín thì không có giác ngộ. Nếu chứa chấp mê tín là chúng ta đã phản bội với đạo giác ngộ. Trong đạo giác ngộ quả thật không có mê tín. Học đạo và truyền đạo giác ngộ, chúng ta cương quyết dẹp hết đêm mê tín. Có được như vậy mới gọi là người trung thực với chánh pháp. Bằng ấp ủ nuôi dưỡng chứa chấp mê tín, dù kẻ ấy mỗi ngày cúng Phật trăm lần vẫn là kẻ phá hoại chánh pháp. Thà là chúng ta cam chịu chết đói, quyết không vì lợi dưỡng mà làm những điều mê tín, dẫn dắt người đi trên đường mê tín. Ðã thừa nhận mình là Phật tử, quyết định không vì lòng tham để bị một số người lợi dụng dẫn đi con đường mê tín.

  8. #28

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi THICHTHIENTAM09 Xem Bài Gởi
    Chấn hưng Phật pháp là gì? Không lẽ mắt thấy tai nghe rồi bỏ mặc ....Chúng ta không khinh miệt Tăng bảo nhưng cần lên tiếng bài trừ thói hư, tật xấu do tình trạng mượn đạo tạo đời gây không ít tiếng xấu ảnh hưởng đến Phật giáo ....Con sâu làm rầu nồi canh, tuy biết là sức người có hạng và cũng không vì tánh sân si mà chúng ta nên có phương thức giáo hóa những kẻ mượn danh tu hành để làm điều xằng bậy, để Phật giáo ngày 1 phát triển theo hướng chân, thiện, mỹ ...đó là mơ ước không chỉ riêng tôi mà còn là khát khao của những người một lòng vì phật, đôi điều trăn trở .....Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu ni Phật!
    Dạ có lẽ học hữu đã lầm..Chấn hưng Phật pháp là làm cho Phật pháp hưng thạnh, chứ không phải là đi nói lỗi chư Tăng.
    Các bạn đang bôi nhọ hình ảnh chư tăng tôn kính trong lòng của mọi người, chứ chẳng phải là chấn hưng Phật pháp!

    Chúng ta đi nói lỗi người cho đại chúng biết, nói với sự thiên kiến của bản thân, tự thân đã mang tình cảm yêu ghét của bản thân áp đặt vào sự việc, nói cho mọi người nghe..Thế thì có khác gì nói xấu người khác..tự thân ta tạo nghiệp...Tự tác nghiệp thì tự mà thọ lãnh.

    Muốn Phật giáo hưng Thịnh thì tăng phải nói cái hay của Pháp, Phật tử phải xiển dương cái hay của Tam Bảo ( bây giờ tăng không nói cái hay của Pháp, Phật tử không nói cái hay của Tam Bảo mà gọi đó là xiển dương, hưng thạnh ư? Sự học mà chẳng tới thì việc làm thường hay lỗi lầm, ta làm lỗi mà cứ nghĩ mình đúng đó là tạo tội)...
    Đem ví dụ con sâu làm rầu nồi canh..thế thì giết ai trước, chẳng phải là giết bạn trước hay sao? tại bạn đi buôn lời thị phi mà, nghĩ xem có phải vậy không?

    Xiển dương Tăng bảo nhiều vị chân tu thật hạnh Như : Tịnh Không lão pháp sư, Đức Dalai Lama, hay Việt Nam có sư ông Trí Tịnh, Nhất Hạnh, sư bà Hải Triều Âm... Cái hay của người chúng ta không thấy, đem mắt đi nhìn thấy lỗi người, thấy lỗi người rồi ông thoái tâm đạo, hay là tinh tấn đạo?...Người quân tử biết việc không ích thì không làm...
    Trong vũ trụ, năm đường phân minh, thiện ác báo ứng họa phước đành rành, thân tự chịu lấy không ai thay được. Người thiện làm lành thì từ cảnh sướng đến cõi sướng, từ sáng vào sáng. Người ác làm ác từ cảnh khổ vào cõi khổ, từ tối vào chỗ tối.

  9. #29

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi bachliencu Xem Bài Gởi
    Dạ có lẽ học hữu đã lầm..Chấn hưng Phật pháp là làm cho Phật pháp hưng thạnh, chứ không phải là đi nói lỗi chư Tăng.
    Các bạn đang bôi nhọ hình ảnh chư tăng tôn kính trong lòng của mọi người, chứ chẳng phải là chấn hưng Phật pháp!

    Chúng ta đi nói lỗi người cho đại chúng biết, nói với sự thiên kiến của bản thân, tự thân đã mang tình cảm yêu ghét của bản thân áp đặt vào sự việc, nói cho mọi người nghe..Thế thì có khác gì nói xấu người khác..tự thân ta tạo nghiệp...Tự tác nghiệp thì tự mà thọ lãnh.

    Muốn Phật giáo hưng Thịnh thì tăng phải nói cái hay của Pháp, Phật tử phải xiển dương cái hay của Tam Bảo ( bây giờ tăng không nói cái hay của Pháp, Phật tử không nói cái hay của Tam Bảo mà gọi đó là xiển dương, hưng thạnh ư? Sự học mà chẳng tới thì việc làm thường hay lỗi lầm, ta làm lỗi mà cứ nghĩ mình đúng đó là tạo tội)...
    Đem ví dụ con sâu làm rầu nồi canh..thế thì giết ai trước, chẳng phải là giết bạn trước hay sao? tại bạn đi buôn lời thị phi mà, nghĩ xem có phải vậy không?

    Xiển dương Tăng bảo nhiều vị chân tu thật hạnh Như : Tịnh Không lão pháp sư, Đức Dalai Lama, hay Việt Nam có sư ông Trí Tịnh, Nhất Hạnh, sư bà Hải Triều Âm... Cái hay của người chúng ta không thấy, đem mắt đi nhìn thấy lỗi người, thấy lỗi người rồi ông thoái tâm đạo, hay là tinh tấn đạo?...Người quân tử biết việc không ích thì không làm...
    Cảm ơn bạn đã chia sẻ cảm nghĩ! :rose:

    Ngài Tịnh Không đã là người làm cho N tâm phục sát đất! Càng nghe Ngài giảng pháp N càng bái phục 5 vóc! Khi nghe Ngài thuyết, từng chữ từng chữ cô đọng vào TÂm của N và đánh thức N và N chợt ngộ ra nhiều điều với ý nghĩa rất thậm thâm vi diệu cho N trong pháp Phật - giống như là nghe quen quen đâu đó, có lẽ trong tiền kiếp N cũng đã có niệm dăm ba câu Phật hiệu rồi nên khi nghe Ngài N thấy quen quen vài ba điều (à, cần nói rõ N là người ngu lâu, dốt bền, rất khó đào tạo nên cứ ngu ngu vâ.y thôi hịc ..nói là hiểu chứ thực tế hiểu hơn lúc xưa vậy thôi chứ vẫn còn rất ngu). Đệ tử tu học theo Ngài đã Vãng Sanh rất nhiều! :rose: Đúng là 1 bậc cao tăng của thời đại!
    Last edited by Nhất Niệm; 31-10-2012 at 01:45 PM.
    Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Pháp môn Tịnh Độ thệ nguyện học. Như Lai vô biên thệ nguyện sự. Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

  10. #30

    Thumbs down

    Trích dẫn Nguyên văn bởi bachliencu Xem Bài Gởi
    Dạ có lẽ học hữu đã lầm..Chấn hưng Phật pháp là làm cho Phật pháp hưng thạnh, chứ không phải là đi nói lỗi chư Tăng.
    Các bạn đang bôi nhọ hình ảnh chư tăng tôn kính trong lòng của mọi người, chứ chẳng phải là chấn hưng Phật pháp!

    Chúng ta đi nói lỗi người cho đại chúng biết, nói với sự thiên kiến của bản thân, tự thân đã mang tình cảm yêu ghét của bản thân áp đặt vào sự việc, nói cho mọi người nghe..Thế thì có khác gì nói xấu người khác..tự thân ta tạo nghiệp...Tự tác nghiệp thì tự mà thọ lãnh.

    Muốn Phật giáo hưng Thịnh thì tăng phải nói cái hay của Pháp, Phật tử phải xiển dương cái hay của Tam Bảo ( bây giờ tăng không nói cái hay của Pháp, Phật tử không nói cái hay của Tam Bảo mà gọi đó là xiển dương, hưng thạnh ư? Sự học mà chẳng tới thì việc làm thường hay lỗi lầm, ta làm lỗi mà cứ nghĩ mình đúng đó là tạo tội)...
    Đem ví dụ con sâu làm rầu nồi canh..thế thì giết ai trước, chẳng phải là giết bạn trước hay sao? tại bạn đi buôn lời thị phi mà, nghĩ xem có phải vậy không?

    Xiển dương Tăng bảo nhiều vị chân tu thật hạnh Như : Tịnh Không lão pháp sư, Đức Dalai Lama, hay Việt Nam có sư ông Trí Tịnh, Nhất Hạnh, sư bà Hải Triều Âm... Cái hay của người chúng ta không thấy, đem mắt đi nhìn thấy lỗi người, thấy lỗi người rồi ông thoái tâm đạo, hay là tinh tấn đạo?...Người quân tử biết việc không ích thì không làm...
    Phật đã từng nói sau này mạt pháp thì Phật pháp suy tàn, nguyên nhân không do tà đạo bên ngoài mà do đồng môn trong đạo gây ra ...Điển hình Ấn đô là cái nôi Phật giáo nhưng đạo Bà La Môn cũng cạnh tranh không kém, tại sao Phật giáo Ấn độ suy vong mà đạo Bà la Môn ngày 1 phát triển, không bị tận diệt??? Cái cốt lõi là đạo giáo Bà la Môn đã sửa đổi, thay đổi quá trình tu tập, thu phục lòng người tôi thiết nghĩ là công lao của những người truyền giáo ...Nói ở đây, tôi không ca ngợi đạo Bà la Môn nhưng để minh chứng trong Tam bảo thì ngoài Đức phật đã nhập diệt thì các vị Tăng bảo là người tiếp nối Phật giáo lèo lái con thuyền phật pháp, còn Pháp bảo là con thuyền quý báu của Phật để lại cứu vớt chúng sanh ra khỏi bến mê...qua đó mới thấy đề cao vai trò của các vị sư thầy như thế nào...Topic này có bài đối thoại vớ vẩn, tôi không mạt sát hay khinh rẻ tăng bảo mà chỉ nói sự mất niềm tin của tín đồ Phật giáo vì 1 số sư thầy không giữ đạo hạnh, khuôn phép. Vẫn biết có 1 số ít người tu hành chân chính, giác ngộ đáng để tôi kính trọng, tôn sùng học hỏi....đạo hữu chấn hưng phật pháp mà toàn nói cái miệng, không biết sự suy thoái của nó từ đâu như người mù đi trong đêm thật làm tôi thấy hổ thẹn ....Các vị tăng bảo chính là thuyền trưởng lèo lái con tàu Phật giáo, nếu làm sai lời phật dạy không khéo tàu sẽ chìm vĩnh viễn ....chấn hưng phật giáo là việc cần chấn chỉnh chấp hành môn quy tam quy, ngũ giới, tinh tấn tu hành theo giáo lý phật giáo mà quan trọng hơn là hết lòng cứu độ chúng sinh hoằng dương phật pháp ....Tự mình nhận mình như rứa còn đem vạ đổ cho người, thật nực cười cho 2 chữ VÔ MINH ...A di đà phật:)

  11. #31

    Mặc định

    Tu là Sửa.
    Nguyện suốt đời Sửa là bổn phận của người Tu.
    Theo cách nói trong Kinh Lăng Nghiêm, chúng ta có phát biểu mới như sau:

    THẾ KỶ 21 BỒ TÁT CÓ 3 ĐIỀU BỊ MA NHIẾP TRÌ

    1. Bồ Tát không ăn chay, bị ma nhiếp trì.

    2. Bồ Tát sử dụng đồ da, bị ma nhiếp trì.
    http://www.thegioivohinh.com/diendan...d.php?t=245444

    3. Bồ Tát đi xe tay ga, bị ma nhiếp trì.
    http://www.thegioivohinh.com/diendan...ad.php?t=27639

  12. #32

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi THICHTHIENTAM09 Xem Bài Gởi
    Phật đã từng nói sau này mạt pháp thì Phật pháp suy tàn, nguyên nhân không do tà đạo bên ngoài mà do đồng môn trong đạo gây ra ...Điển hình Ấn đô là cái nôi Phật giáo nhưng đạo Bà La Môn cũng cạnh tranh không kém, tại sao Phật giáo Ấn độ suy vong mà đạo Bà la Môn ngày 1 phát triển, không bị tận diệt??? Cái cốt lõi là đạo giáo Bà la Môn đã sửa đổi, thay đổi quá trình tu tập, thu phục lòng người tôi thiết nghĩ là công lao của những người truyền giáo ...Nói ở đây, tôi không ca ngợi đạo Bà la Môn nhưng để minh chứng trong Tam bảo thì ngoài Đức phật đã nhập diệt thì các vị Tăng bảo là người tiếp nối Phật giáo lèo lái con thuyền phật pháp, còn Pháp bảo là con thuyền quý báu của Phật để lại cứu vớt chúng sanh ra khỏi bến mê...qua đó mới thấy đề cao vai trò của các vị sư thầy như thế nào...Topic này có bài đối thoại vớ vẩn, tôi không mạt sát hay khinh rẻ tăng bảo mà chỉ nói sự mất niềm tin của tín đồ Phật giáo vì 1 số sư thầy không giữ đạo hạnh, khuôn phép. Vẫn biết có 1 số ít người tu hành chân chính, giác ngộ đáng để tôi kính trọng, tôn sùng học hỏi....đạo hữu chấn hưng phật pháp mà toàn nói cái miệng, không biết sự suy thoái của nó từ đâu như người mù đi trong đêm thật làm tôi thấy hổ thẹn ....Các vị tăng bảo chính là thuyền trưởng lèo lái con tàu Phật giáo, nếu làm sai lời phật dạy không khéo tàu sẽ chìm vĩnh viễn ....chấn hưng phật giáo là việc cần chấn chỉnh chấp hành môn quy tam quy, ngũ giới, tinh tấn tu hành theo giáo lý phật giáo mà quan trọng hơn là hết lòng cứu độ chúng sinh hoằng dương phật pháp ....Tự mình nhận mình như rứa còn đem vạ đổ cho người, thật nực cười cho 2 chữ VÔ MINH ...A di đà phật:)
    Phật giáo không nói lỗi của người...vì là học hữu nên nói vài lời ấy thế mà làm đồng học đã cảm thấy hổ thẹn cơ ak?

    Học hữu nên suy tường xét kỹ xem ai mới là người chỉ nói cái miệng...
    Ngay đây kẻ hèn xiển dương tăng bảo...còn học hữu chỉ nói " chấn hưng Phật giáo, chấp hành tam quy ngũ giới,..tinh tấn..." đó cũng chỉ là miệng suông thôi, ngay đây mà còn chẳng thể xiển dương chánh pháp khen ngợi tăng bảo, khiến người củng cố tín tâm vào tăng đoàn...Thế thì học hữu cảm thấy hổ thẹn cũng không có gì quá đáng.

    Cùng là lời nói nhưng có người nói sẽ khiến người sanh tâm hoan hỷ, còn có những người nói chỉ khiến người sanh tâm khó chịu, bực bội...hãy xem đồng học Nhất Niệm vừa mới nghe tăng bảo liền thấy vui vẻ, tỏ lòng tín phục nơi Hòa Thượng..còn học hữu, tu đạo đến nay..nghe đến tăng đoàn chẳng thể sanh lòng vui thích hay sao?

    Nếu muốn dẫn kinh thì xin xem kinh Chiêm sát cùng một số kinh khác Phật bảo không được nói lỗi tăng đoàn...dù vị tăng có phạm giới luật, chẳng đáng để người cúng dường..nhưng pháp y vị tăng mặc, đầu tròn áo vuông là đại diện cho tăng..vì thế Phật tử tuyệt chẳng thể nói lỗi trước đại chúng...( Kinh Phật thuyết thế, đồng học có nghi ngờ gì về trí tuệ của Như lai chăng?)

    Nếu người ta cho học hữu 100 ngàn kêu học hữu nói lỗi của cha mẹ của học hữu trên báo học hữu có nói không? Hay cho học hữu 100 triệu kêu học hữu nói lỗi cái sai của cha mẹ học hữu, cho đại chúng biết, cho báo đài biết học hữu có nói không? Với cha mẹ tôn kính ta còn chẳng thể nói lỗi với người, dù biết cha mẹ sai phạm..Ấy vậy mà với tam bảo học hữu lại chẳng ngại miệng chỉ trích lỗi, ấy vậy sự tôn kính của kẻ tu đạo ở nơi đâu?

    Chúng ta lớn rồi không phải như trẻ nít làm việc thiếu suy xét, khi được người chỉ..thì nên xét lại xem mình có đúng hay sai, sai thì sửa, đúng thì hoan hỷ..
    VÔ MINH là sao? học hữu có biết không? nếu thật biết, sao lại dám bảo người vô minh? vậy học hữu há chăng đã hết vô minh mà bảo người? Thói đời kẻ ngang ngạnh tôi thấy cũng nhiều, mình nói một câu chỉ mong tốt cho họ, họ cứ như thầy của thiên hạ,..cười đùa bông quơ, khinh khi người khác..đến khi đụng chuyện thì chẳng biết xử lý, bình thời thì oang oang miệng mồm...chuyện đến thì như ngu như khờ...đến phép nói chuyện với người cũng chẳng biết..không biết tốt xấu,...thuận nghịch...Kêu nực cười..đó là cái cười khôn chăng? "Người thông minh thấy người kém hơn mình thì cười cợt, còn người trí tuệ thì biết chẳng có cái gì đáng để cười cả..."
    Nói ít mong đồng học có thể tiếp thu sửa đổi, còn không thì thôi...Coi như chuyện nhảm chẳng để tâm tốt hơn.
    Thân ái.
    Trong vũ trụ, năm đường phân minh, thiện ác báo ứng họa phước đành rành, thân tự chịu lấy không ai thay được. Người thiện làm lành thì từ cảnh sướng đến cõi sướng, từ sáng vào sáng. Người ác làm ác từ cảnh khổ vào cõi khổ, từ tối vào chỗ tối.

  13. #33

    Mặc định

    TÔI KHÔNG PHẢI ĐỆ TỬ CỦA BẤT CỨ CHÙA NÀO,nhưng đọc các trang trên tôi có một ý như sau,trong kinh của phật có câu buôn hết được hết, ôm hết mất hết,ai thật tu thì người đó sẽ giải thoát, ai không thật tu thì sẻ trả quả,người nào thật tu thì có phật trong lòng ,người nào không thật tu dù có ở trong chùa cũng không có phật,chúng ta là con người muốn tu theo phật pháp ,thì y pháp mà tu đừng nhìn ai cả ,kể cả các vị xuất gia,tai gia,hay ai cả,nếu thấy chướng mà sinh tâm thì tội không nhỏ đâu,mà còn bôi bác khinh thường phỉ báng các tăng ni nhà chùa dù họ sai trái thì ai làm sai, sống sai, tu sai ,thì họ sẻ đọa vô giáng địa ngục ,nhưng nếu ta không giúp gì cho họ mà đứng ngoài nhìn vào rồi phỉ báng,tôi đả từng nói không thương thì đừng ghét ,mà ta không làm được còn phỉ báng chư tăng ni thì vô giáng địa ngục củng sẻ dành cho ta,còn tôi nói các thầy tu ở chùa nếu người đó chủng tử họ có duyên lành thì phước hữu lậu của họ họ ở đâu củng đầy đủ chúng ta không có con mắt trí tuệ,làm sao thấy được cái nào là đúng cái nào là sai cái nhìn của ta đôi lúc đeo kính xanh thì thấy trời xanh đeo kính đỏ thì thấy trời đỏ ,vì vậy cái thấy ,và cái bị thấy nó không thật thì ta lấy đâu ra mà phê phán tôi nói vậy không có nghỉa là các thầy không có những chuyện như quí vị nói nhưng đó là chuyện của họ họ hiểu đạo mà còn tu sai thì tội họ còn nặng hơn chúng ta ,thôi thì A DI ĐÀ PHẬT,CHO NÓ CÓ CÔNG ĐỨC
    Last edited by nguyensanh; 31-10-2012 at 09:09 PM.
    MỘT LÀ TẤT CÃ
    TẤT CÃ LÀ MỘThttp://www.thegioivohinh.com/diendan/images/editor/menupop.gif

  14. #34
    Ngũ Đẳng Avatar của danhgiau
    Gia nhập
    Oct 2010
    Nơi cư ngụ
    Lang thang
    Bài gởi
    5,942

    Mặc định

    rộn ràng nhể, dưng mà các cụ lưu ý. Trao đổi và đưa ra phân tích, trích dẫn ngắn gọn dễ hiểu thôi. Có cụ cốp pết dài thòng nhìn vô hoa cả mắt, xem chóng mặt luôn đới
    Em ngược đường, ngược nắng để yêu anh. Ngược phố tan tầm, ngược chiều gió thổi
    Ngược lòng mình tìm về nông nổi. Lãng du đi vô định cánh chim trời

  15. #35

    Red face

    :party:1
    Trích dẫn Nguyên văn bởi bachliencu Xem Bài Gởi
    Phật giáo không nói lỗi của người...vì là học hữu nên nói vài lời ấy thế mà làm đồng học đã cảm thấy hổ thẹn cơ ak?

    Học hữu nên suy tường xét kỹ xem ai mới là người chỉ nói cái miệng...
    Ngay đây kẻ hèn xiển dương tăng bảo...còn học hữu chỉ nói " chấn hưng Phật giáo, chấp hành tam quy ngũ giới,..tinh tấn..." đó cũng chỉ là miệng suông thôi, ngay đây mà còn chẳng thể xiển dương chánh pháp khen ngợi tăng bảo, khiến người củng cố tín tâm vào tăng đoàn...Thế thì học hữu cảm thấy hổ thẹn cũng không có gì quá đáng.

    Cùng là lời nói nhưng có người nói sẽ khiến người sanh tâm hoan hỷ, còn có những người nói chỉ khiến người sanh tâm khó chịu, bực bội...hãy xem đồng học Nhất Niệm vừa mới nghe tăng bảo liền thấy vui vẻ, tỏ lòng tín phục nơi Hòa Thượng..còn học hữu, tu đạo đến nay..nghe đến tăng đoàn chẳng thể sanh lòng vui thích hay sao?

    Nếu muốn dẫn kinh thì xin xem kinh Chiêm sát cùng một số kinh khác Phật bảo không được nói lỗi tăng đoàn...dù vị tăng có phạm giới luật, chẳng đáng để người cúng dường..nhưng pháp y vị tăng mặc, đầu tròn áo vuông là đại diện cho tăng..vì thế Phật tử tuyệt chẳng thể nói lỗi trước đại chúng...( Kinh Phật thuyết thế, đồng học có nghi ngờ gì về trí tuệ của Như lai chăng?)

    Nếu người ta cho học hữu 100 ngàn kêu học hữu nói lỗi của cha mẹ của học hữu trên báo học hữu có nói không? Hay cho học hữu 100 triệu kêu học hữu nói lỗi cái sai của cha mẹ học hữu, cho đại chúng biết, cho báo đài biết học hữu có nói không? Với cha mẹ tôn kính ta còn chẳng thể nói lỗi với người, dù biết cha mẹ sai phạm..Ấy vậy mà với tam bảo học hữu lại chẳng ngại miệng chỉ trích lỗi, ấy vậy sự tôn kính của kẻ tu đạo ở nơi đâu?

    Chúng ta lớn rồi không phải như trẻ nít làm việc thiếu suy xét, khi được người chỉ..thì nên xét lại xem mình có đúng hay sai, sai thì sửa, đúng thì hoan hỷ..
    VÔ MINH là sao? học hữu có biết không? nếu thật biết, sao lại dám bảo người vô minh? vậy học hữu há chăng đã hết vô minh mà bảo người? Thói đời kẻ ngang ngạnh tôi thấy cũng nhiều, mình nói một câu chỉ mong tốt cho họ, họ cứ như thầy của thiên hạ,..cười đùa bông quơ, khinh khi người khác..đến khi đụng chuyện thì chẳng biết xử lý, bình thời thì oang oang miệng mồm...chuyện đến thì như ngu như khờ...đến phép nói chuyện với người cũng chẳng biết..không biết tốt xấu,...thuận nghịch...Kêu nực cười..đó là cái cười khôn chăng? "Người thông minh thấy người kém hơn mình thì cười cợt, còn người trí tuệ thì biết chẳng có cái gì đáng để cười cả..."
    Nói ít mong đồng học có thể tiếp thu sửa đổi, còn không thì thôi...Coi như chuyện nhảm chẳng để tâm tốt hơn.
    Thân ái.
    Chả trách gì mạt pháp là đúng ...bản thân đạo hữu tu hành còn chấp ngã vào sự phê bình, làm sao cho tín chúng hiểu rõ giáo lý phật nếu các sư thầy giáo hóa chúng sanh sai với kinh sách Phật để lại ....tôi không nói về đạo hay đời gì với đạo hữu vì tôi nghĩ mỗi người có 1 suy nghĩ, 1 định kiến riêng không bàn cãi gì cho mệt nhưng có lẽ điều này luôn luôn đúng: 01 bác sỹ học hành không đến nơi đến chốn sẽ làm chết nhiều người vì năng lực không có, 01 nhà giáo nếu mua bằng cấp mà dạy học cho người sẽ làm hư cả 01 nền giáo dục, cả 1 thế hệ ....thiết nghĩ nền phật học cũng vậy, nếu dạy không khéo chúng sanh hiểu nhầm sẽ gây nên đại loạn khó lòng giác ngộ....Tu hành mà chỉ châm bẩm bản thân, thấy người làm sai không chấn chỉnh chỉ là hàng tiểu thừa ....Nam mô A di đà Phật

  16. #36

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi THICHTHIENTAM09 Xem Bài Gởi
    :party:1

    Chả trách gì mạt pháp là đúng ...bản thân đạo hữu tu hành còn chấp ngã vào sự phê bình, làm sao cho tín chúng hiểu rõ giáo lý phật nếu các sư thầy giáo hóa chúng sanh sai với kinh sách Phật để lại ....tôi không nói về đạo hay đời gì với đạo hữu vì tôi nghĩ mỗi người có 1 suy nghĩ, 1 định kiến riêng không bàn cãi gì cho mệt nhưng có lẽ điều này luôn luôn đúng: 01 bác sỹ học hành không đến nơi đến chốn sẽ làm chết nhiều người vì năng lực không có, 01 nhà giáo nếu mua bằng cấp mà dạy học cho người sẽ làm hư cả 01 nền giáo dục, cả 1 thế hệ ....thiết nghĩ nền phật học cũng vậy, nếu dạy không khéo chúng sanh hiểu nhầm sẽ gây nên đại loạn khó lòng giác ngộ....Tu hành mà chỉ châm bẩm bản thân, thấy người làm sai không chấn chỉnh chỉ là hàng tiểu thừa ....Nam mô A di đà Phật
    Học hữu học chẳng tới...mà lại chuốc thêm si kiến thành ra sai lầm.
    Thứ 1: Tự mình nhận mình như rứa còn đem vạ đổ cho người, thật nực cười cho 2 chữ VÔ MINH ...
    Nói Vô minh ai mới hết vô minh..chỉ có Phật mới hết vô minh, ngoài ra Bồ Tát còn có những phần vô minh chưa đoạn chưa được toàn giác như Thế Tôn. Vì thế đừng nên cười cợt " Vô Minh" đây chẳng phải là cười luôn cả Bồ Tát hay sao?

    Thứ 2: Nói như trên là bạn tự thân báng Phật, báng pháp chẳng phải là chê kẻ hèn đây đâu
    Vì chính kim khẩu thuyết trong Kinh Thập Luân
    “Nếu có tỳ kheo phá giới, nhơ bẩn như máu mủ tanh hôi; đối với thánh quả chứng đạo đều mất hết, bị các phiền não kiết sử nó phá hoại, nhưng vẫn có thể khai thị kho tàng trân bảo vô lượng công đức cho tất cả thiên, long, nhân, phi nhân... Vì thế đối với người xuất gia, bất luận trì giới hay phá giới, ta đều hoàn toàn không cho phép quốc vương, đại thần, tể tướng chỉ trích hay trị phạt, nhốt trói, đánh đập** v.v... cho đến giết hại thân mạng, huống chi đối với những người chỉ phạm những giới nhẹ và oai nghi nhỏ nhít.

    Tỳ kheo phá giới dù là người chết rồi, nhưng còn có sức dư thừa của Giới. Giống như vị Ngưu Hoàng của con bò (một chất vàng trong thân con bò, lấy thứ ấy chế thành thuốc Bắc rất quý). Con bò dù đã chết, nhưng chất Ngưu Hoàng của nó mọi người vẫn còn dùng được. Lại như con xạ hương, sau khi chết vẫn còn hữu dụng, vì có thể đem lại sự đại lợi cho tất cả chúng sanh (con xạ hương là một loài thú giống như con hươu, dưới cổ nó có cục hương rất thơm, trong vị thuốc Bắc, vị xạ hương này rất quý). Cũng thế, ác hạnh tỳ kheo dù phạm giới pháp nhưng do thế lực của giới, vẫn có thể đem lại sự đại lợi ích cho vô lượng nhân thiên.

    Lại thí dụ như khi đốt hương, thân cây hương dù tiêu hoại, nhưng mùi hương của nó vẫn còn xông đến mọi người. Tỳ kheo phá giới cũng lại như vậy, tự mình đọa vào ác đạo, nhưng vẫn có thể làm cho chúng sanh tăng trưởng thiện căn. Do nhân duyên này, hàng bạch y không nên xâm tổn, hủy hoại, khinh miệt tỳ kheo phá giới, ngược lại, đều phải hết lòng tôn trọng


    Nếu bạn tu thiền thì Tổ sư Thiền tông là Huệ Năng cũng dạy:

    "Nếu là bậc chân tu chẳng thấy lỗi của người
    Nếu thấy lỗi của người, mình chê là kém dở
    Người quấy ta đừng quấy, ta chê tự có lỗi."

    Thiết nghĩ là Phật tử, đệ tử Thế Tôn mà lời thầy chẳng nghe, trên thì chẳng y giáo phụng hành, dưới chẳng nghe lời tổ,...Lời mình nói thì chẳng có y cứ chỉ là theo thiên kiến cá nhân, chẳng theo thầy tổ, không theo giới pháp, nội cả giới lục hòa, và giới chẳng chỉ trích lỗi chư tăng mà còn chẳng giữ...lại không biết hổ thẹn sám hối, mà còn ngạo ngễ hay sao? Đây là phép tắc gì lề lối gì?...
    Chỉ ra để đồng học sám hối, còn không thì thôi,...sự đại sanh tử chỉ có bản thân mình mới có thể vượt thoát, nên cẩn thận tội nhỏ cũng chớ phạm.
    Trong vũ trụ, năm đường phân minh, thiện ác báo ứng họa phước đành rành, thân tự chịu lấy không ai thay được. Người thiện làm lành thì từ cảnh sướng đến cõi sướng, từ sáng vào sáng. Người ác làm ác từ cảnh khổ vào cõi khổ, từ tối vào chỗ tối.

  17. #37
    Nhị Đẳng Avatar của pucaquynhnga
    Gia nhập
    Sep 2010
    Nơi cư ngụ
    Ở một cõi cách Tây Phương Cực Lạc 10 muôn ức cõi Phật về hướng Đông
    Bài gởi
    2,849

    Mặc định

    Không phải cứ là cha mẹ là phải đều có những hành động đúng! Nhưng nếu là người con có hiếu thì vẫn một mực kính trọng vì dù sao đó cũng là NGƯỜI SANH RA MÌNH. Còn nếu kẻ bất hiếu, thì sanh lòng oán giận, hành động thiếu lễ độ, chửi cha, mắng mẹ.

    Không phải cứ là người xuất gia thì đều phải hoàn hảo. Nhưng nếu là người Phật tử chân chánh thì sẽ vẫn tôn trọng vì dù sao pháp y họ mang trên người ĐANG GÓP PHẦN GÌN GIỮ HÌNH ẢNH TĂNG ĐOÀN, TAM BẢO TẠI THẾ GIAN. Còn những người nhân lúc đó đem tâm khinh chê, bôi nhọ, thị phi, gieo tiếng xấu cho tăng đoàn thì cũng đủ hiểu là hành động đúng hay sai rồi...! Nếu thị phi, bôi xấu thì tự mình làm hao tổn phước đức của chính mình vì hành động này là không lấy gì làm tốt đẹp, bởi vì cái công đức gìn giữ hình ảnh Tăng bảo tại thế gian thì to lớn không thể nghĩ bàn.

    Dù bố mẹ tốt hay xấu thì người con vẫn luôn mong bố mẹ còn sống trên đời. Dù tăng đoàn đôi khi có vài "điểm nhấn" chưa hoàn hảo thì lòng vẫn vui khi pháp y vẫn còn phấp phới tại thế gian.

    Thật khó mà tưởng tượng ngày nào đó trên thế gian vắng bóng những chiếc Y vàng...thì mọi chuyện sẽ sao?!

    Còn riêng chuyện ai làm gì đúng hay sai, chúng ta hình như đã quên luật nhân quả công bằng luôn chi phối toàn vũ trụ này, một mảy may không thiếu sót, không sai chạy! Chẳng buông tha cho một ai, chẳng cần bàn tay chúng ta phải xen vào! Mọi chuyện đâu nhất định sẽ vào đó.

    Adidaphat.
    Last edited by pucaquynhnga; 01-11-2012 at 10:48 PM.
    Diễn Đàn Đại Tạng Kinh Việt Nam => http://diendan.daitangkinhvietnam.org
    Nam Mô A Di Đà Phật. Adidaphat...Adidaphat...

  18. #38

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi bachliencu Xem Bài Gởi
    Học hữu học chẳng tới...mà lại chuốc thêm si kiến thành ra sai lầm.
    Thứ 1: Tự mình nhận mình như rứa còn đem vạ đổ cho người, thật nực cười cho 2 chữ VÔ MINH ...
    Nói Vô minh ai mới hết vô minh..chỉ có Phật mới hết vô minh, ngoài ra Bồ Tát còn có những phần vô minh chưa đoạn chưa được toàn giác như Thế Tôn. Vì thế đừng nên cười cợt " Vô Minh" đây chẳng phải là cười luôn cả Bồ Tát hay sao?

    Thứ 2: Nói như trên là bạn tự thân báng Phật, báng pháp chẳng phải là chê kẻ hèn đây đâu
    Vì chính kim khẩu thuyết trong Kinh Thập Luân
    “Nếu có tỳ kheo phá giới, nhơ bẩn như máu mủ tanh hôi; đối với thánh quả chứng đạo đều mất hết, bị các phiền não kiết sử nó phá hoại, nhưng vẫn có thể khai thị kho tàng trân bảo vô lượng công đức cho tất cả thiên, long, nhân, phi nhân... Vì thế đối với người xuất gia, bất luận trì giới hay phá giới, ta đều hoàn toàn không cho phép quốc vương, đại thần, tể tướng chỉ trích hay trị phạt, nhốt trói, đánh đập** v.v... cho đến giết hại thân mạng, huống chi đối với những người chỉ phạm những giới nhẹ và oai nghi nhỏ nhít.

    Tỳ kheo phá giới dù là người chết rồi, nhưng còn có sức dư thừa của Giới. Giống như vị Ngưu Hoàng của con bò (một chất vàng trong thân con bò, lấy thứ ấy chế thành thuốc Bắc rất quý). Con bò dù đã chết, nhưng chất Ngưu Hoàng của nó mọi người vẫn còn dùng được. Lại như con xạ hương, sau khi chết vẫn còn hữu dụng, vì có thể đem lại sự đại lợi cho tất cả chúng sanh (con xạ hương là một loài thú giống như con hươu, dưới cổ nó có cục hương rất thơm, trong vị thuốc Bắc, vị xạ hương này rất quý). Cũng thế, ác hạnh tỳ kheo dù phạm giới pháp nhưng do thế lực của giới, vẫn có thể đem lại sự đại lợi ích cho vô lượng nhân thiên.

    Lại thí dụ như khi đốt hương, thân cây hương dù tiêu hoại, nhưng mùi hương của nó vẫn còn xông đến mọi người. Tỳ kheo phá giới cũng lại như vậy, tự mình đọa vào ác đạo, nhưng vẫn có thể làm cho chúng sanh tăng trưởng thiện căn. Do nhân duyên này, hàng bạch y không nên xâm tổn, hủy hoại, khinh miệt tỳ kheo phá giới, ngược lại, đều phải hết lòng tôn trọng


    Nếu bạn tu thiền thì Tổ sư Thiền tông là Huệ Năng cũng dạy:

    "Nếu là bậc chân tu chẳng thấy lỗi của người
    Nếu thấy lỗi của người, mình chê là kém dở
    Người quấy ta đừng quấy, ta chê tự có lỗi."

    Thiết nghĩ là Phật tử, đệ tử Thế Tôn mà lời thầy chẳng nghe, trên thì chẳng y giáo phụng hành, dưới chẳng nghe lời tổ,...Lời mình nói thì chẳng có y cứ chỉ là theo thiên kiến cá nhân, chẳng theo thầy tổ, không theo giới pháp, nội cả giới lục hòa, và giới chẳng chỉ trích lỗi chư tăng mà còn chẳng giữ...lại không biết hổ thẹn sám hối, mà còn ngạo ngễ hay sao? Đây là phép tắc gì lề lối gì?...
    Chỉ ra để đồng học sám hối, còn không thì thôi,...sự đại sanh tử chỉ có bản thân mình mới có thể vượt thoát, nên cẩn thận tội nhỏ cũng chớ phạm.
    Đh đúng là đọc nhiều kinh sách nhưng vận dụng theo kiểu này thì tui thấy ko ổn bỡi : Tổ nói mà đh trích dẫn là trong hoàn cảnh khác, Phật dạy trong kinh thập luận cũng là bối cảnh khác, trong bối cảnh trong topic này đang nói về hình ảnh những vị Tăng phạm giới, chắc đh cũng bít là đồng tình với cái sai thì như thế nào rồi ??? Trước khi Đức Phật nhập niết bàn đệ tử Phật có hỏi ba câu là : 1/ sau này lấy ai làm thầy?? 2/ ứng sử ác tăng như thế nào ??3/ ....... (tui ko nhớ) và cũng ko nhớ câu trả lời của Phật :)

  19. #39

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi batdac Xem Bài Gởi
    Đh đúng là đọc nhiều kinh sách nhưng vận dụng theo kiểu này thì tui thấy ko ổn bỡi : Tổ nói mà đh trích dẫn là trong hoàn cảnh khác, Phật dạy trong kinh thập luận cũng là bối cảnh khác, trong bối cảnh trong topic này đang nói về hình ảnh những vị Tăng phạm giới, chắc đh cũng bít là đồng tình với cái sai thì như thế nào rồi ??? Trước khi Đức Phật nhập niết bàn đệ tử Phật có hỏi ba câu là : 1/ sau này lấy ai làm thầy?? 2/ ứng sử ác tăng như thế nào ??3/ ....... (tui ko nhớ) và cũng ko nhớ câu trả lời của Phật :)
    Bảo không nói lỗi người, chẳng bảo bạn đồng tình với người. Hai điều này là hoàn toàn khác nhau...
    Cho ví dụ: bạn thấy người sát sanh, bán hàng thịt chăng? bạn biết đó là ác...Vậy sao không vận động đi bài trừ, hay đưa lên báo đài lên án thậm tệ,..giả như đánh bom liều chết can gián chẳng hạn..đây là hành động khuyên người của Phật tử chăng?...Cùng một lý ấy, người phạm giới thì bạn lên án người, nói gần nói xa...tự thân bạn tạo khẩu nghiệp thế thì tội này ai lãnh?
    Người ta tạo nghiệp là vì vô minh, tự thân xã hội báo đài, thế đời đã lên án..chúng ta tu hành, là đệ tử Thế Tôn mà cũng hùa theo..vậy bạn với người chưa tu, không biết đạo có khác gì nhau?

    Giống như những bà tám chuyện hằng ngày ngồi nói chuyện cũng nói về đúng sai của người, nhưng bạn cho đó là ngồi lê đôi mách! Thế thì người tu Phật, đi nói lỗi của thầy mình đúng sai..bạn xem có khác gì mấy người ở trên...Nếu thật ưa chuyện thị phi như thế, thì ta tu hành trải qua bao năm tháng học trong Phật pháp gần gũi Thế Tôn há có ích lợi gì?

    Chỉ mới nói về bổn phận đệ tử chưa nói đến pháp tu hành mà đã thấy như vậy, huống chi là thực sự gia công dụng hạnh?

    Phật nào mà dạy đệ tử nói lỗi người xuất gia? Phật nào lại bảo ông không cần định, chẳng cần ngừa tâm? chỉ cần ngồi lê đôi mách nói chuyện đúng sai của Thầy Tu?...

    Phật dạy giới- định- huệ, người chẳng giữ giới bạn liền chê, thế nhưng tâm bạn chẳng định, chẳng ngừa quấy dứt ác..bản thân bạn so với người ta cũng một chín một mười..có hề sai khác chi đâu?

    Nếu tự thân chẳng có định lực thì việc đúng sai của người ta bỏ vào trong tâm, từ đó sanh ra thất tình lục dục, yêu ghét, phải trái, hơn thua, tỵ nạnh? Cái nhân này mà chẳng trừ, một lỗi nhỏ không trừ dần sẽ thành tội to.
    Tu thiền mà chẳng thể định tâm, còn nhìn thấy ưa ghét, lỗi của người ta phanh tìm như tìm trấu trong gạo, còn lỗi mình che đậy như kẻ gian giấu bài.

    Chúng sanh tránh sao khỏi sai lầm...tự thân họ làm ác đã có búa rìu dư luận..Ta tuy chẳng xuất gia lìa nhà thế tục, nhưng trong tâm luôn muốn rời nhà lửa ba cõi..thế mà sự ác thế gian thì chẳng bỏ, thị phi thế gian thì cũng chẳng chừa...ấy chẳng phải là tự khinh dối mình hay sao?

    Quý huynh đệ nên biết...đồng tu, học hữu chính là những người khuyến tấn nhau tu hành (chỉ là khuyến tấn) vì thế lời tuy nghe chói tai nhưng từng chữ từng chữ là vì lợi ích của quý huynh đệ mà nói...chứ chẳng vì muốn tỏ ra hơn người...xét xem một câu "gió chẳng động, phướn chẳng động, thế nhưng tâm ta đã động.."
    Tâm một khi động thì bát phong, lục dục tự theo, định lực liền mất, công phu ngay đó tiêu tan". Trên đường tu đây chẳng phải là điều đáng kinh sợ sao? ...Lời cạn ý thô mong mọi người ngẫm kỹ..lời nói việc làm xem đó có thật làm ta tinh tấn trong đạo, hay nói ra..làm người thoái thất tâm đạo, khinh phụ Tam Bảo.."lời nói nên suy tường xét kỹ",..thật ích cho chúng sanh thì mới nói. Còn giả như chỉ là thị phi dù nó là đúng tuyệt cũng chẳng nên nói.
    Last edited by bachliencu; 01-11-2012 at 11:28 PM.
    Trong vũ trụ, năm đường phân minh, thiện ác báo ứng họa phước đành rành, thân tự chịu lấy không ai thay được. Người thiện làm lành thì từ cảnh sướng đến cõi sướng, từ sáng vào sáng. Người ác làm ác từ cảnh khổ vào cõi khổ, từ tối vào chỗ tối.

  20. #40

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi bachliencu Xem Bài Gởi
    Học hữu học chẳng tới...mà lại chuốc thêm si kiến thành ra sai lầm.
    Thứ 1: Tự mình nhận mình như rứa còn đem vạ đổ cho người, thật nực cười cho 2 chữ VÔ MINH ...
    Nói Vô minh ai mới hết vô minh..chỉ có Phật mới hết vô minh, ngoài ra Bồ Tát còn có những phần vô minh chưa đoạn chưa được toàn giác như Thế Tôn. Vì thế đừng nên cười cợt " Vô Minh" đây chẳng phải là cười luôn cả Bồ Tát hay sao?

    Thứ 2: Nói như trên là bạn tự thân báng Phật, báng pháp chẳng phải là chê kẻ hèn đây đâu
    Vì chính kim khẩu thuyết trong Kinh Thập Luân
    “Nếu có tỳ kheo phá giới, nhơ bẩn như máu mủ tanh hôi; đối với thánh quả chứng đạo đều mất hết, bị các phiền não kiết sử nó phá hoại, nhưng vẫn có thể khai thị kho tàng trân bảo vô lượng công đức cho tất cả thiên, long, nhân, phi nhân... Vì thế đối với người xuất gia, bất luận trì giới hay phá giới, ta đều hoàn toàn không cho phép quốc vương, đại thần, tể tướng chỉ trích hay trị phạt, nhốt trói, đánh đập** v.v... cho đến giết hại thân mạng, huống chi đối với những người chỉ phạm những giới nhẹ và oai nghi nhỏ nhít.

    Tỳ kheo phá giới dù là người chết rồi, nhưng còn có sức dư thừa của Giới. Giống như vị Ngưu Hoàng của con bò (một chất vàng trong thân con bò, lấy thứ ấy chế thành thuốc Bắc rất quý). Con bò dù đã chết, nhưng chất Ngưu Hoàng của nó mọi người vẫn còn dùng được. Lại như con xạ hương, sau khi chết vẫn còn hữu dụng, vì có thể đem lại sự đại lợi cho tất cả chúng sanh (con xạ hương là một loài thú giống như con hươu, dưới cổ nó có cục hương rất thơm, trong vị thuốc Bắc, vị xạ hương này rất quý). Cũng thế, ác hạnh tỳ kheo dù phạm giới pháp nhưng do thế lực của giới, vẫn có thể đem lại sự đại lợi ích cho vô lượng nhân thiên.

    Lại thí dụ như khi đốt hương, thân cây hương dù tiêu hoại, nhưng mùi hương của nó vẫn còn xông đến mọi người. Tỳ kheo phá giới cũng lại như vậy, tự mình đọa vào ác đạo, nhưng vẫn có thể làm cho chúng sanh tăng trưởng thiện căn. Do nhân duyên này, hàng bạch y không nên xâm tổn, hủy hoại, khinh miệt tỳ kheo phá giới, ngược lại, đều phải hết lòng tôn trọng


    Nếu bạn tu thiền thì Tổ sư Thiền tông là Huệ Năng cũng dạy:

    "Nếu là bậc chân tu chẳng thấy lỗi của người
    Nếu thấy lỗi của người, mình chê là kém dở
    Người quấy ta đừng quấy, ta chê tự có lỗi."

    Thiết nghĩ là Phật tử, đệ tử Thế Tôn mà lời thầy chẳng nghe, trên thì chẳng y giáo phụng hành, dưới chẳng nghe lời tổ,...Lời mình nói thì chẳng có y cứ chỉ là theo thiên kiến cá nhân, chẳng theo thầy tổ, không theo giới pháp, nội cả giới lục hòa, và giới chẳng chỉ trích lỗi chư tăng mà còn chẳng giữ...lại không biết hổ thẹn sám hối, mà còn ngạo ngễ hay sao? Đây là phép tắc gì lề lối gì?...
    Chỉ ra để đồng học sám hối, còn không thì thôi,...sự đại sanh tử chỉ có bản thân mình mới có thể vượt thoát, nên cẩn thận tội nhỏ cũng chớ phạm.
    Trong hoàn cảnh trên là các vị tăng phạm giới đó dã biết ăn năn sám hối hoặc đã rủ bỏ áo cà sa trở lại thành người thường mới ko có gì để nói bạn à !!

    Còn trường hợp 1 vị tăng phá giới ko biết sửa lỗi mà vẫn ỳ ỳ nhiều lần phạm giới thì không thể chấp nhận được cần phải đuổi ngay ra khỏi ngành nhé . Cho sám hối vài năm sau rồi cho xuất gia lại hoặc làm ơn đi xa xa xuất gia không ai biết chư về chùa cũ thì ko được :D
    Nam Mô Tất Cả Chúng Sinh Không Còn Đau Khổ Nữa !
    Nam Mô Tất Cả Chúng Sinh Không Còn Đau Khổ Nữa !

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 11-11-2012, 11:52 PM
  2. TRuyện về bùa lỗ ban(sưu tầm)
    By nghichngom85 in forum Thế Giới Bùa Ngải
    Trả lời: 14
    Bài mới gởi: 08-01-2012, 05:49 PM
  3. Tây Phương Cực Lạc Du Ký (Tế Công - Thái sinh)
    By lyquochoang in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 07-12-2011, 05:22 PM
  4. 1 VÀI KHÁI NIỆM TRONG TỬ VI....
    By thaiduong162 in forum Tử Vi
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 28-03-2011, 10:52 AM
  5. truyện ma sưu tầm
    By nghichngom85 in forum Chuyện Ma, Quỉ
    Trả lời: 18
    Bài mới gởi: 18-03-2011, 01:38 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •