Trích dẫn Nguyên văn bởi hyuugaasmita Xem Bài Gởi
Bạn thân mến, có một câu hỏi mà asmita khá là khó hiểu rằng do tịnh độ muốn chứng minh pháp chứng của mình nên để lại xá lợi hay là tu tịnh độ thì sẽ khiến để lại xá lợi ? Nếu nói pháp là tự tu tự chứng thì việc để lại xá lợi sao có thể nói là do tu tịnh độ mà có đươc ? Vì đã tự tu tự chứng thì làm gì có việc để lại gì để chứng minh mình chứng đạo được ? Thế là mâu thuẫn bạn thân mến
Bạn thân mến, các ngài vì lòng từ bi với chúng sinh nên để lại xá lợi chứ không vì gì khác cả, bạn thân mến thế nên không có gì mâu thuẫn ở đây!
Trích dẫn Nguyên văn bởi hyuugaasmita Xem Bài Gởi
Lại nữa, nếu thật có pháp hữu dụng nhẹ nhàng thì sao Đức Phật còn dạy cách khác làm gì ? Tu tưởng của Đức Phật là tự lực chứ không nhờ tha lực, ngài dạy các đệ tử của ngài có người nào là nhờ pháp tịnh độ để thành tựu alahan chăng ? Ngay trong chính kinh adiđà của Đại Thùa khi giảng về tịnh độ thì Đức Phật lại dạy cho ngài Xá Lợi Phất, nếu thật là như bạn nói là pháp hữu dụng dễ dùng cho người phước mỏng nghiệp dày thì sao ngài không dạy cho các đệ tử khác như ngài anan, cadiep, Hoa liên sắc, phú lâu na, a na luật, ưu bà ly v.v.. toàn là những vị có những khó khăn nhất định trong việc tu học, đểu có những nghiệp phải trả trước khi thành alahan, mà lại dạy cho tôn giả Xá Lợi Phất trí huệ đệ nhất và còn là người đã thành alahan ngay khi vừa nghe pháp ?
Điển hình nhất là tôn giả Châu Lợi, đến một bài kinh cũng không thuộc nỗi mà Đức Phật nào cũng đâu có dạy về pháp môn cầu về Tây Phương ? Ngược lại ngài cũng chỉ dạy một cái pháp môn độc nhất là Tứ Niệm Xứ để ngài tự quán xét tâm mình thôi. ? Thế có phải là có lý do để đặt câu hỏi về tính chân thực của pháp môn không ?
Bạn thân mến, tự lực hay tha lực đều là lời nói của thế gian, và đây là lời Phật dạy:
“Này Xá-lợi-phất, nếu có hàng thiện nam thiện nữ nào nghe nói về Phật A Di Ðà rồi chấp trì danh hiệu Ngài, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày... Xá-lợi-phất! Nếu có hàng thiện nam tín nữ tu Ngũ giới, Thập thiện, nghe được danh hiệu của Phật A Di Ðà; chấp, như tay nắm chặt đồ vật không thả, ý nói niệm danh hiệu Phật A Di Ðà không lơi lỏng biếng lười, hoặc một ngày, chữ hoặc, có thể đổi thành chữ khổ, là khó nhọc. Khó nhọc một ngày, khó nhọc hai ngày, khó nhọc ba ngày... rất là khổ cực, vì từ bảy giờ sáng đến chín giờ tối, khó nhọc đến bảy ngày, đạt đến mức độ nhất tâm bất loạn. Người ấy khi lâm chung, người ấy chờ đến khi chết, Ðức Phật A Di Ðà cùng các Thánh chúng hiện ra trước mặt, Ðức Phật A Di Ðà tưởng nhớ đến chúng sanh... "A, chúng sanh ở thế giới Ta-bà đang niệm danh hiệu ta, niệm đã được bảy ngày, cam chịu khó nhọc bảy ngày, ta nên đáp ứng và rước họ về cõi nước Cực Lạc, bây giờ đã đến giờ rồi, mau mau đi rước họ." Bấy giờ Ðức Phật, Bồ-tát Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí, Thanh tịnh đại hải chúng Bồ-tát cùng đến và đều đưa tay rước người ấy về thế giới Cực Lạc, dù có muốn rút lui cũng không thể được. Người ấy khi lâm chung tâm không điên đảo, liền được vãng sanh về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Ðà. Bấy giờ tâm của người ấy dù có tư tưởng điên đảo, cũng không thể nói: "Tôi không muốn đi, nơi đó không có ý nghĩa gì." Người ấy không thể cự tuyệt lời mời gọi của Phật A Di Ðà, tức khắc vãng sanh về thế giới Cực Lạc.”
Này bạn, bạn nên nhớ chỉ có những vị thành tựu mới để lại xá lợi thôi bạn à!
Này bạn, tại sao Đức Phật lại dạy Kinh A Di Đà cho ngài Xá Lợi Phất? Bởi vì Kinh A Di Đà cao siêu khó nghĩ bàn, như trên tôi đã nói hỏi về tịnh độ thì thật khó trả lời là vậy, đến ngài Xá Lợi Phất trí tuệ đệ nhất mà còn thấy khó hiểu thì ai hiểu được đây: “Sau khi đã nói tại sao cõi nước kia tên là Cực Lạc rồi, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni chờ ngài Xá-lợi-phất thưa hỏi vô lượng vô biên đạo lý trong đó, nhưng ngài Xá-lợi-phất tuy rất thông minh lại vẫn không hiểu rõ. Bởi vì pháp môn Tịnh độ rất vi diệu, là pháp môn không thể nghĩ bàn, cho nên ngài không biết thưa hỏi ra sao.”
Vậy nên Kinh A Di Đà phải được giảng nói cho ngài Xá Lợi Phất, bởi vì những vị kia có giảng nói cũng không sao mà hiểu được! Nhưng việc thực hành thì rất giản đơn nhẹ nhàng: “Này Xá-lợi-phất, nếu có hàng thiện nam thiện nữ nào nghe nói về Phật A Di Ðà rồi chấp trì danh hiệu Ngài, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày...”
Và việc thực hành thì ngài giảng nói cho mọi chúng sinh, ai cũng có thể thực hành được hết, không riêng gì ngài Xá Lợi Phất, nhưng để hiểu pháp tịnh độ thì phải là người đệ nhất trí tuệ!
Trích dẫn Nguyên văn bởi hyuugaasmita Xem Bài Gởi
Con đường có nhiều nhưng nếu bạn lựa sai con đường thì sao có thể đắc đạo. Chính Như Lai cũng khẳng định một câu rằng "Này các Tỳ kheo, do Như Lai đi sai con đuòng nên đã biết bao nhiêu ngàn kiếp đã phải trôi lăn trong vòng sinh tử"
Con người tham lam, thích cái đơn giản nhất ích cần suy nghĩ ích cần hiểu biết mà lợi ích nhiều nhất nên dễ bị lôi cuốn vào pháp môn không thật.
PGNT chủ trương ít nói thứ không cần thiến gây nên tranh cãi, chưa hiểu biết rõ thì không nói. Pháp môn tịnh độ, có những điều chúng tôi thấy không hợp lý nên không theo chứ cũng không khẳng định là đúng hay không đúng.
Tránh sự tranh cãi cũng như đấu khẩu nên chúng tôi lúc nào cũng hạn chế tối đa việc tránh đụng chạm tới pháp môn của kẻ khác. Nhưng bạn thân mến, có những nghịch lý bạn cần nên biết, hiểu biết niềm tin sinh ra từ sự lợi ích mà thứ ta làm chứ không phải là ai nói thì nghe, nghe rồi tin như thật thì sẽ hại bạn.
Niềm tin của bạn là do bạn sẽ tác động tới bạn nên bạn cũng phải suy nghĩ và suy xét thật tình. Nó là của bạn nên bạn tu và theo pháp môn nào cũng là do bạn. Nhưng đừng vì một câu "tự tu tự chứng' hay 'pháp môn cao thâm khó dò" mà đánh mất đi sự suy xét của mình.
Niệm Phật là một trong những pháp môn tu hành rất căn bản được Đức Thế Tôn chỉ dạy rất rõ ràng, hiện còn lưu lại trong các bản kinh cổ nhất, cả tạng Pàli và tạng Hán, gồm có ba cách: một là nhớ nghĩ Pháp thân Phật, hai là quán tưởng tướng hảo và công đức của Phật, ba là xưng niệm danh hiệu Phật. Trong đó, theo lý mà niệm Phật thì gọi là pháp thân niệm Phật (còn gọi là thật tướng niệm Phật); trong tâm luôn nhớ nghĩ đến hình tướng và công đức của Phật gọi là quán tưởng niệm Phật; miệng luôn xưng danh hiệu Phật gọi là trì danh niệm Phật, xưng danh niệm Phật.
Đoạn kinh sau đây, được trích trong Tăng Nhất A Hàm, sẽ cho chúng ta thấy pháp môn niệm Phật đã được Đức Thế Tôn chỉ dạy lúc Ngài còn tại thế, là một trong các pháp Tam niệm, Lục niệm, Thập niệm Bấy giờ, Đức Phật đang ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ Đà, nước Xá Vệ, nói với các thầy Tỳ kheo: “Hãy tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Đã tu hành một pháp rồi, liền có danh dự, thành tựu quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng, được quả Sa môn, tự đến Niết bàn. Một pháp ấy là gì? Đó là niệm Phật” (Đại chính 2, tr. 532).
Tập kinh Quán Vô Lượng Thọ (Amitayur - dhyàna Sutra) cho ta biết nguyên lai của giáo lý Tịnh độ do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết. A Xà Thế, Thái tử thành Vương Xá, nổi loạn chống lại vua cha là Tần Bà Sa La và hạ ngục nhà vua này; hoàng hậu cũng bị giam vào một nơi. Sau đó, hoàng hậu cầu thỉnh Đức Phật chỉ cho bà một chỗ tốt đẹp hơn, nơi không có những tai biến xảy ra như vậy. Đức Thế Tôn liền hiện thân trước mặt bà và thị hiện cho thấy tất cả các Phật độ và bà chọn quốc độ của Phật A Di Đà coi như tối hảo, Phật bèn dạy bà cách tụng niệm về quốc độ này để sau cùng được thác sinh vào đó. Ngài dạy bà bằng giáo pháp riêng của Ngài và đồng thời giảng giáo pháp của Phật A Di Đà. Cả hai giáo pháp cuối cùng chỉ là một, điều này ta có thể thấy rõ theo những lời Ngài dạy Tôn giả A Nan ở đoạn cuối của các bài pháp: "Này A Nan, hãy ghi nhớ bài thuyết pháp này và lặp lại cho đại chúng ở Kỳ Xà Quật nghe. Thuyết giáo này, ta gọi đấy là kinh A Di Đà". Quan điểm đó của kinh Quán Vô Lượng Thọ như muốn nói lên giáo lý A Di Đà cùng nguồn gốc với giáo lý Nguyên thủy, đều do Đức Thế Tôn thuyết. (Các tông phái đạo Phật, bản dịch của Tuệ Sỹ, Tu thư Đại học Vạn Hạnh 1973, tr.329)..."

Như vậy, rõ ràng là Kinh A Di Đà là do chính Đức Phật thuyết và được ghi lại trong Đại Tạng Kinh. Không chỉ Tịnh Độ Tông tụng kinh Di Đà mà trong Mật Tông và Thiền Tông cũng có chia thời khóa tụng kinh Di Đà và niệm A Di Đà Phật...Thọ trì câu "Nam Mô A Di Đà Phật "là Mật trong Mật, là Thiền trong Thiền, là Đại Thừa trong Đại Thừa, là Nhất thừa trong Nhất thừa...

Bạn không tin pháp môn Tịnh Độ? Nghi ngờ kinh điển Tịnh Độ và lời Phật nói? Đúng lắm! Rất đúng với lời Phật dạy, vì đây là pháp môn khó tin nhất trong tất cả các pháp môn - "nan tín chi pháp", Phật nói trước rồi chỉ có người đủ thiện căn phước đức nhân duyên mới có thể tin tưởng được pháp môn này...Nếu nói ra pháp môn này mà ai cũng tin ngay, cũng chân thật niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây phương thì Phật đã nói sai rồi.

Trong triệu người học Phật, số lượng học được kinh điển Đại thừa có bao nhiêu? Trong số đó có bao nhiêu người biết đến pháp môn Tịnh Độ? Trong số người biết đến pháp môn Tịnh Độ có mấy người thật sự tin tưởng niệm Phật cầu sanh Tây phương Cực Lạc và được vãng sanh thật sự?

Cứ tầng tầng phân tích xuống thì thấy số người còn lại quá ít, quá ít...rõ ràng là lời Phật dạy rất đúng: "Nan tín chi pháp", pháp khó tin đấy mà. Trong kinh Vô Lượng Thọ Phật cũng có nói rằng việc tin tưởng vào pháp môn Niệm Phật là việc khó nhất trong các việc khó, không có việc khó nào có thể so sánh được.... Bạn chưa đủ tín tâm tin tưởng pháp môn Tịnh Độ thì cũng bình thường thôi, rất bình thường. Vì ngay hàng Bồ tát còn có vị chưa thể tin vào pháp môn này nữa, huống chí là người bình thường như bạn.
“Thời Mạt Pháp ức ức người tu hành hiếm có người đắc đạo. Duy chỉ có pháp môn Tịnh Độ là được giải thoát rốt ráo.” (Kinh Đại Tập)
Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ, Tổ thứ ba của Thiền Pháp Nhãn cũng là Tổ thứ sáu của tông Tịnh độ đã nói:
“Hữu Thiền hữu Tịnh độ
Du như đới giác hổ
Hiện thế vi nhân sư
Lai sinh tác Phật Tổ”.
“Có Thiền có Tịnh độ
Như hổ mọc thêm sừng
Hiện đời thầy trời người
Vị lai làm Phật Tổ”.
Trích dẫn Nguyên văn bởi hyuugaasmita Xem Bài Gởi
Này bạn thân mến, cái nguy hiểm nhất mà khi bạn trì niệm một danh hiệu Phật lâu ngày mà đạt đến cảnh giới của việc niệm mà không biết mình niệm chính là bạn đã quên đi mất cả ý thức của mình, dẫn đến tưởng thức phát sinh quá mạnh sinh ra cảm ứng từ thân thể nhẹ, thấy hào quang, thấy cảnh sắc thần bí v.v... nghĩ là mình đắc đạo nhưng thật ra là mình đang bị nguy hiểm tinh thần do bị ức chế thần kinh.
Xin thưa với bạn hiền là tôi chưa bao giờ niệm Phật mà không biết mình niệm cả, chưa bao giờ tôi không làm chủ trong từng niệm cả! vậy nên bạn đừng lầm tưởng cảm ứng là do tưởng thức bạn nhé, hiểu như vậy là bạn hiểu hoàn toàn sai về pháp môn tịnh độ đó bạn!
Thiền nào có khác Tịnh đâu
Có chăng chỉ khác công phu tu hành
Ngộ là Phật, mê: chúng sanh
Ngoài ra kết quả rành rành như nhau

Trích dẫn Nguyên văn bởi chỉnh_tâm Xem Bài Gởi
Bạn đã có nhân duyên chọn pháp chơn thật của Bổn sư rồi còn cầu chi pháp gì khác nữa!
Cứ làm theo ba điều sau đây:
1- Luôn luôn tu theo chánh pháp của Đức Phật
2- Lo cho cha mẹ ông bà và bố thí rộng rãi cho chúng sanh và chăm lo hành thiện xa rời ác nghiệp, giữ tròn giới nhất là dâm giới hay ái dục, vì đây là nhân để thành đạo.
3- Quán sát thân tâm mình từng giây từng phút, cố tự kỹ xem mình đang ở bát chánh đạo hay lạc vào 12 nhân duyên.
4- Nếu có ai thuyết pháp hùng hồn , thì hãy xem lại điều 1
a) Niệm Phật với chánh kiến
Với người niệm Phật pháp chánh kiến phải cần sáng tỏ. Nhận thấy rằng pháp niệm Phật là một diệu pháp hợp xứng với tâm cảnh con người thời nay mà đức Phật đã tuyên dạy. Bằng niềm tin hiểu biết đúng như thế sẽ là nghị lực bất thối, trước mọi hoàn cảnh tình huống để không sợ phải lạc vào tà kiến.
b) Niệm Phật với chánh tư duy
Niệm Phật với chánh tư duy là niệm trong tư duy chánh pháp. Nhận ra Phật hiệu là tự tánh, là Phật tâm, là phương tiện rốt ráo nhất đưa người về nguồn tâm như thật.
c) Niệm Phật với chánh ngữ
Mỗi câu niệm Phật là mỗi lời chánh ngữ, điều tịnh khẩu nghiệp, xa trừ ác ngữ, thanh tịnh nôi tâm. Kinh Bảo Tích dạy rằng "...xưng niệm nam mô Phật, khẩu nghiệp sạch không. Khẩu nghiệp như thế gọi là cầm cây đuốc lớn chiếu sáng phá tan phiền não ."
d) Niệm Phật với chánh nghiệp
Niệm Phật với chánh nghiệp là tạo hành động lành, kiểm soát ba nghiệp, thanh tịnh thân tâm, dứt mọi điều xấu ác. Khi sống thân tâm nhẹ nhàng lúc mãn phần sanh về Cực Lạc. Kinh Pháp Cú "...Người hành ác sanh vào khổ cảnh, người phẩm hạnh tốt sanh vào nhàn cảnh. Bậc không ô nhiễm nhập diệt vào Niết Bàn
e) Niệm Phật với chánh mạng
Người niệm Phật với niệm vãng sanh cầu thành Phật, nên phát lòng từ thể hiện qua việc làm nghề nghiệp, do đây mà thuận hòa với chánh mạng.
f) Niệm Phật với chánh tinh tấn
Pháp Chánh Tinh Tấn đã quan trọng cho đường tu vậy, thì người niệm Phật cần chuyên nhất gia công hơn. Niệm niệm bất thối, niệm niệm quy nhất về tâm, dừng nghỉ tất cả vọng tâm ô nhiễm, gội sạch phiền não, tâm niệm bây giờ chính là niệm Phật chánh tinh tấn vậy.
g) Niệm Phật với chánh niệm
Thực hành niệm Phật với Chánh Niệm là rốt ráo diệt trừ tâm niệm xấu, thanh lọc tư tưởng sai quấy, để thay thế vun bồi vào tâm bằng ý niệm lành qua danh hiệu Phật.
h) Niệm Phật với Chánh Định
Thực hành pháp niệm Phật đến thuần nhuyễn. Người niệm Phật sẽ có được Chánh Định không khác gì pháp tu thiền vậy.
Như này thì có cần xem lại điều 1 nữa không bạn hiền?
Trích dẫn Nguyên văn bởi thích tùm lum Xem Bài Gởi
Hồi cách đây vài ba năm khi người mất đi được hỏa táng, thì chúng ta còn đến được tận cửa lò thiêu chứng kiến từ A đến Z các công đoạn, được tận tay châm lửa hóa thân cho người thân, được tận tay lấy tro cốt từ vỉ sắt sang qua tiểu sành sau khi xong công đoạn cuối. Nay, khi đưa quan tài vào hỏa táng, chúng ta đâu chứng kiến được gì, ngoài cái màn hình cố định cho ta quan sát từ xa, khi hẹn ngày giờ lấy cốt thì họ đưa trả cho ta cái hủ sành đã bịt kín và 1 bịch tro, thì hỏi làm sao chúng ta biết được ai để lại xá lợi, không lẽ ta lại khui hủ cốt ra mà tìm kiếm. Đôi khi nghĩ rằng không biết phải tro cốt của người thân mình hay là không nữa.
Mấy hôm nay tôi đã nhìn lại thời gian đã qua cũng như so sánh con đường mới và con đường cũ mới thấy mình đi lầm đường, sai lời dạy của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni nhiều lắm, may mắn thay tôi đã có cơ duyên để đánh thức sự mê lầm, và rất áy náy khi nhìn lại người thân và bạn đồng tu vẫn ngụp lặn trong sự mê lầm đó, dĩ nhiên tôi sẽ cố gắng thức tỉnh cho họ (nhất là vợ tôi, tu Tịnh Độ gấp đôi tôi về "tuổi Đạo") nhưng chưa phải bây giờ vì ít nhiều tôi phải có căn bản trong tu tập trên con đường mới, con đường của giải thoát.
Này bạn hiền, việc để lại xá lợi đều có ấn chứng, có hiện tượng, có nguyên do cả, không phải tự dưng mà bới tro của nhau ra làm gì! Nên bạn yên tâm đi người khác người ta không ngây như bạn để ai muốn dắt đi đâu thì dắt, tu là bản lĩnh chứ không phải tu để như cục bột ai muốn nặn thế nào thì nặn bạn nhé!