Mời bạn tham khảo:
VRNs (20.11.2011) - Sài Gòn – Suy niệm Lời Chúa lễ Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ: Mt 25,31-46 (Chúa Nhật 34 Thường Niên A)
Đức Kitô là Vua vũ trụ. Chính Người sẽ xét xử muôn dân trong vinh quang và quyền uy tuyệt đối của Người. Đó là điều mà bài Tin Mừng hôm nay (Mt 25,31-46) muốn nhấn mạnh cách đặc biệt cho chúng ta.
Bấy giờ, Đức Giêsu nói: “Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người” (c.31).
Chủ đề về thời điểm và dấu hiệu của biến cố Con Người quang lâm đã từng được nói đến nhiều lần trong diễn từ cánh chung. Trước tiên là trong câu hỏi của các môn đệ ở phần nhập đề của diễn từ, khi các môn đệ tới gặp riêng Đức Giêsu và thưa: “Xin Thầy nói cho chúng con biết khi nào những sự việc ấy xảy ra, và cứ điềm nào mà biết ngày Thầy quang lâm và ngày tận thế?” (24,3). Sau đó là trong một loạt những lời khẳng định của Đức Giêsu ở 24,27.30.37.39.44. Bây giờ, ở cuối diễn từ, vấn đề được quan tâm thực sự không phải là thời điểm hay dấu hiệu của biến cố nữa, mà là ý nghĩa của biến cố đó và những điều người ta cần chuẩn bị để đón biến cố đó.
Biến cố Con Người quang lâm được miêu tả bằng những chi tiết huy hoàng và hùng vĩ: “trong vinh quang của Người”, “có tất cả các thiên sứ theo hầu”, “Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người”. Trong 16,27 Đức Giêsu nói đến sự kiện Con Người sẽ đến trong vinh quang cùng với các thiên thần, nhưng ở đó là vinh quang của Cha Người chứ không phải là vinh quang của chính Người như ở đây. Sự thay đổi cách diễn tả này cho thấy có một sự tiến triển rõ ràng trong tư tưởng Kitô luận của tác giả Mátthêu. Cũng có một sự thay đổi khác nữa: hành động của Con Người ở 16,27 là “thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm”, còn ở bài Tin Mừng hôm nay sẽ là tách biệt người của các dân thiên hạ như tách chiên ra khỏi dê và xét xử họ tùy theo cách sống của họ.
Một đoạn văn song song khác với 25,31 là 19,28: “Thầy bảo thật anh em: anh em là những người đã theo Thầy, thì đến thời tái sinh, khi Con Người ngự toà vinh hiển, anh em cũng sẽ được ngự trên mười hai toà mà xét xử mười hai chi tộc Israel”. Ngữ cảnh cũng là cuộc phán xét, và biến cố cũng là “Con Người ngự tòa vinh hiển”. Sự kiện “có các thiên sứ theo hầu” cũng đã từng được đề cập trong 13,41; 16,27; 24,31. Rõ ràng tác giả Mátthêu muốn sử dụng các hình ảnh khải huyền xuất phát từ Đn 7,13-14 để làm hậu cảnh cho biến cố phán xét cánh chung của Con Người.
Khi Con Người đến trong khung cảnh vĩ đại như thế, “các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái” (cc.32-33). Tin Mừng đã được loan báo cho mọi dân: “Tin Mừng về Vương Quốc sẽ được loan báo trên khắp thế giới, để làm chứng cho mọi dân tộc được biết; và bấy giờ sẽ là tận cùng” (24,14; x. 28,19). Vì thế, các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Con Người. “Sẽ được tập họp” là một lối nói bị động thần học (passivum theologicum) có ý nói là chính Thiên Chúa tập họp họ lại. Đây không chỉ là cuộc tập hợp những hạt lúa tốt của ngày mùa cánh chung (x. 3,12; 13,30), mà còn là cuộc tập hợp cả cá tốt lẫn cá xấu (13,47), cả người xấu lẫn người tốt (22,10).
Các nhà nghiên cứu tranh luận khá nhiều về ý nghĩa của ngữ đoạn “các dân thiên hạ”. Trong số các cách lý giải, đáng chú ý là hai cách hiểu sau: (1) toàn thể nhân loại, và (2) toàn thể các Kitô hữu. Cách hiểu thứ hai dựa trên lập luận rằng sẽ là không hợp lý nếu những người không phải Kitô hữu lại bị xét xử theo những tiêu chí mà họ đã chẳng hề biết. Nhưng cách hiểu thứ nhất có vẻ tự nhiên hơn và phù hợp hơn. Đàng khác, trong những đoạn văn khác của Tân Ước nói về ngày phán xét cánh chung, những đối tượng phải bị đưa ra trước tòa phán xét cũng là tất cả mọi người. Ví dụ trong Rm 14,10-12; 2Cr 5,10; Kh 20,11-13.
Sự tách biệt chiên ra khỏi dê là sự tách biệt người công chính khỏi những kẻ bất chính. “Đến ngày tận thế, cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính” (13,49). Chiên là hình ảnh ẩn dụ của những người công chính; dê là hình ảnh ẩn dụ của những kẻ tội lỗi. Ở bên phải là chỗ danh dự và quý trọng, còn ở bên trái nghĩa là ngược lại, mặc dù tự nó, ở bên trái không có nghĩa là bị coi thường. Thế là có hai nhóm phân biệt nhau.
Sự phân biệt thành hai tập hợp, và hai tập hợp này sẽ có số phận hoàn toàn khác nhau, là điều đã từng được trình bày trong một số đoạn văn khác của Mt. Thí dụ 13,40-43: “Như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ”.
“Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa” (c.34).
Ở c.31, Đấng lên ngự trên ngai vinh hiển chính là Con Người. Vì thế, “Đức Vua” ở c.34 này chắc chắn cũng chính là Đấng ấy. Người nắm quyền thưởng phạt mọi người tùy theo việc lành dữ họ đã làm (x.16,27). Người sẽ tống khứ khỏi Nước của Người những kẻ làm điều gian ác, và cho những người công chính trở nên chói lọi như mặt trời, tức là được hưởng vinh quang của Thiên Chúa (x.13,40-43).
Những người công chính được Đức Vua gọi là “những kẻ được chúc phúc”, và là sự chúc phúc của “Cha Ta”, tức là có một mối liên hệ rất đặc biệt với Chúa Con trong Cha của Người. Những kẻ ấy được mời gọi: “Hãy đến”, trái ngược với những kẻ bất chính sẽ bị xua đuổi: “Đi đi”. Bây giờ, những người công chính sẽ được thừa hưởng Vương Quốc cánh chung trong vinh quang và phúc lạc vô tận của Vương Quốc. Tác giả Mt đã từng nói đến sự thừa hưởng “đất” (5,5) và sự thừa hưởng “sự sống đời đời” (19,29) như là những cách diễn tả khác của cũng một thực tại. Điều đáng chú ý là Vương Quốc mà những người công chính được thừa hưởng ở đây là thực tại mà Thiên Chúa đã dọn sẵn “từ thuở tạo thiên lập địa”, tức là từ lúc khởi đầu thời gian. Chương trình yêu thương đó của Thiên Chúa được hoàn tất viên mãn trong hạnh phúc vĩnh cửu của những người công chính.
Sở dĩ những người công chính được hưởng hạnh phúc lớn lao, đó là vì họ đã thực hiện những hành động tốt lành với chính Đức Vua. Người nói với họ : «Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước;Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han” (cc.35-36).
Có sáu tình cảnh khác nhau được kể ra : đói, khát, là khách lạ, trần truồng, đau yếu và bị tù. Điều đáng ngạc nhiên trước hết chính là việc Đức Giêsu kể ra rằng bản thân Người đã ở vào những tình cảnh cần được giúp đỡ đó. Người cũng khẳng định rằng những người công chính đang ở bên tay phải Người đây đã từng giúp đỡ Người trong những tình cảnh bi thương đó. Tất nhiên những tình cảnh được liệt kê ở đây chỉ mang tính minh họa cho những nhu cầu thiết yếu và sơ đẳng của con người trong những hoàn cảnh gặp gỡ hàng ngày giữa người với người trong cuộc sống.
‘Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu?” (cc.37-39). Những người công chính ngạc nhiên trước những gì Đức Giêsu vừa nói với họ. Ba lần họ hỏi Người: “Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa… ? »
« Đức Vua sẽ đáp lại rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy » (c.40). Chính sự kiện những người công chính ngạc nhiên và thậm chí là hiểu lầm lời tuyên bố của Chúa Giêsu, đã là ‘cơ hội’ để Người đưa là lời minh định làm nền tảng cho phán quyết của Ngườii về số phận người lành kẻ dữ. Công thức ‘Ta bảo thật các ngươi’ cho thấy những điều được công bố ở đây có một sức nặng đặc biệt. Và điều đáng nói nhất, chính là sự kiện Đức Vua đang ngự trên ngai vinh hiển đã tự đồng hóa mình với những người bé nhỏ nhất mà Người gọi là anh em của Người. Những gì người ta đã làm cho những anh em bé nhỏ nhất đó, là đã làm cho chính Người.
Tuy nhiên, ai là ‘những anh em bé nhỏ nhất’ của Đức Giêsu. Đó là mọi người, nhất là những người bị bỏ rơi hơn cả ? Hay đó là các Kitô hữu ? Hay đó là các nhà thừa sai Kitô giáo như nhiều người đã từng hiểu ? Hay đó là những Kitô hữu gốc Do Thái như một vài người khác chủ trương? Cách hiểu cuối cùng này xuất phát từ lối giải thích hạn từanh em theo nghĩa chủng tộc. Cách giải thích thứ hai và thứ ba không khác nhau bao nhiêu, và thật ra, sự phân biệt hai tập hợp này với nhau là không cần thiết. Điều đáng ghi nhận là cách nói “anh em của tôi” trong Mt thường không quy chiếu về tất cả mọi người trong nhân loại, cho bằng quy chiếu về các anh chị em trong cộng đoàn Kitô hữu. Vì thế nhiều người muốn hiểu tập hợp những anh em ở câu 40 này theo nghĩa đó (x. 12,48-49; 28,10; 23,8…). Cách nói ‘một trong những kẻ bé mọn’ đã từng được Mt 18,6.10.14 dùng để chỉ các đồ đệ của Chúa Giêsu. Trong 10,42 chúng ta gặp một nội dung khá gần với những gì được nói ở đây: “Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”. Thậm chí ngay trước đó Chúa Giêsu còn khẳng định: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (10,40).
Tất nhiên cáh hiểu “những anh em bé nhỏ nhất” ở đây theo nghĩa là mọi người, nhất là những người hèn mọn và bị bỏ rơi hơn cả, vẫn luôn luôn là cách hiểu hấp dẫn nhất, nhưng rõ ràng cũng không thể coi thường cách hiểu thứ hai, quy chiếu về sự đồng hóa của Chúa Giêsu với các đồ đệ nam nữ của Người.
“Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó” (c.41). Những người ở bên trái, tức là những con dê theo cách xác định ở câu 33. Những người này bị tuyên một án phạt rất nặng nề và nghiêm khắc. Trước hết, họ bị gọi là “quân bị nguyền rủa”, cách dùng xuất hiện duy nhất một lần này trong Tân Ước để chỉ những người bất chính. Ngược với số phận của những người công chính trong câu 34, những người gian ác bị đuổi khỏi nhan Đức Vua và ném vào lửa đời đời. Độc giả Mt đã từng gặp khái niệm “lửa đời đời” trong 18,8 và “lửa không hề tắt” trong 3,12. Những kẻ gian ác bị kết án phải bị trầm luân đời đời trong lửa đó. Họ vĩnh viễn phải sống trong sự dày vò và đau đớn khôn cùng.
Lý do những người này bị kết án thì cũng phần nào giống với lý do những người bên phải được chúc phúc, tất nhiên là theo hướng ngược hẳn lại. Chúa nói: “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng” (cc.42-43). Cũng sáu tình cảnh tương tự như ở cc.35-36, nhưng ở đây, sự ứng đáp luôn luôn là tiêu cực: “Các ngươi đã không…”. Họ không có lòng yêu mến đối với Đức Vua khi Người đang ở trong những hoàn cảnh cần sự giúp đỡ.
“Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu?” (c.44). Phản ứng của những người bất chính ở đây cũng phần nào giống với phản ứng của những người công chính ở phía trên. Họ cũng thưa với Đức Giêsu: “Lạy Chúa”, y như những người công chính ở cc.37-39. Nhưng lời thưa này chẳng có giá trị, vì như Đức Giêsu đã từng nói: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa! ” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?” Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!” (7,21-23).
“Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy” (c.45). Câu trả lời của Chúa Giêsu ở đây về bản chất cũng giốg như câu trả lời mà Người đã nói với những người công chính phía trên. Chỉ có một chi tiết nhỏ đáng chú ý: không có “những anh em của Ta”.
“Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời”(c.40). Câu cuối cùng này của bài Tin Mừng tóm tắt số phận hoàn toàn khác nhau của hai hạng người. Và đây là số phận đời đời.
Gợi ý suy niệm và chia sẻ
1. Con Người sẽ đến trong vinh quang của Người vào ngày quang lâm. Biến cố trọng đại và huy hoàng đó đồng thời cũng là biến cố quyết định về số phận chung cục của từng người và của toàn thề nhân loại. Tiếng nói cuối cùng về mọi thực tại, như vậy, là tiếng nói và quyết định của Chúa Kitô Quang Lâm. Ngài mới là Đức Vua đích thực của toàn thể vũ trụ.
2. Tất cả mọi dân nước trên trần gian đều bị xét xử, tùy theo cách hành xử của họ đối với những người anh em bé mọn của Đức Giêsu, những kẻ mà Ngài đã tự đồng hóa mình với họ.
3. Mối liên đới mật thiết đáng ngạc nhiên giữa Đức Kitô với những người anh em bé mọn nhất của Ngài làm nên căn bản và tiêu chí lượng giá của toàn bộ lịch sử cá nhân và tập thể. Điều quan trọng nhất, như thế, là được đi vào trong mối tương quan mật thiết với Chúa Kitô, được trở nên anh em của Ngài. Tất nhiên, một khi đã là anh em của Ngài, thì chúng ta sẽ không thể thấy Ngài đói mà lại chẳng cho ăn, hay thấy Ngài khát mà lại chẳng cho uống, hay thất Ngài mình trần mà lại không cho đồ mặc… Nói cách khác, vấn đề vẫn là đón nhận hay từ khước lòng tin và tư cách Kitô hữu đích thực.
LM. Giuse Nguyễn Thể Hiện, C.Ss.R
Bạn thấy sao? Tất cả đều dựa trên giới răn yêu thương phải k?
Đó là phán xét chung.
Phán xét riêng thì thế nào?
PHÁN XÉT RIÊNG
+++
I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
Chúng ta đọc : Mt 25,31-46; Rm 14,7-9.10b-12).
Qua bài Tin mừng vừa nghe, chúng ta thấy Chúa Giêsu loan báo sẽ có ngày phán xét chung trong ngày tận thế. Trong ngày đó, mọi người sẽ được sống lại để chịu phán xét. Chúa Giêsu sẽ ngự đến với tư cách là vị Vua Thẩm phán, có các thiên thần hầu cạnh, để phán xét mọi người. Ngài sẽ phân tách người ta thành hai loại : kẻ lành ở bên hữu, kẻ dữ đứng bên tả như người ta tách chiên ra khỏi dê. Ngài sẽ phán xét việc lành việc dữ của từng người trước mặt cả và thiên hạ. Sau đó, Ngài định đoạt cho số phận từng người : Kẻ lành lên thiên đàng cả hồn cả xác để hưởng vinh quang bên Chúa; ngược lại kẻ dữ thì phải vào hỏa ngục chịu hình phạt đời đời.
Trong thư gửi cho tín hữu Rôma, thánh Phaolô nhắc nhở mọi người nhớ mình là người đã thuộc về Chúa, cho nên dù sống dù chết, không có gì ngoài Chúa. Chúng ta sẽ phải trả lẽ với Chúa, sẽ phải trả lời về chính mình trước mặt Chúa (Rm 14,10-12). Không có gì có thể che giấu được, mọi sự sẽ phải được đưa ra ánh sáng (2Cr 5,10). Như vậy, thánh Phaolô khẳng định với chúng ta rằng sẽ có phán xét, nhưng ngài không xác định là phán xét chung hay phán xét riêng.
II. NÓI VỀ NGÀY PHÁN XÉT RIÊNG.
1. Theo quan niệm chung.
Người đời ai cũng tin tưởng rằng phải có thưởng phạt sau khi chết. Người Việt chúng ta tin theo thuyết quả báo :”Thiện ác đáo đầu chung hữu báo” : tội phúc sau cùng phải có quả báo. Từ quan niệm quả báo đó, người ta đưa ra nguyên tắc :”Hữu công tắc thưởng, hữu tội tắc trừng” : có công phúc thì được thưởng, có tôi thì phải phạt. Như thế mới có sự công bằng, mới hợp lý.
Vì thế, phán xét là một quan niệm lâu đời trong các tôn giáo cổ xưa. Theo quan niệm này, thần minh xét xử con người và thưởng phạt tùy theo tội phúc họ đã làm.
Trong ý nghĩa thần học, phán xét là hành động chung quyết của Thiên Chúa, qua đó, số phận của các thụ tạo tự do được xác định vĩnh viễn.
2. Diễn tiến tư tưởng về phán xét riêng.
Từ ban đầu, các tín hữu đầu tiên ít quan tâm đến phán xét riêng. Mãi đến thế kỷ thứ 4, có một ý kiến phổ thông – như thánh Ambrôsiô – cho rằng có những nơi tạm trú (habitations provisoires) chờ sẵn các linh hồn sau khi lìa xác. Chỗ tạm trú không phải mọi người giống nhau. Có người phải chịu phạt, có người lại được thưởng công. Quan điểm cho thấy quan niệm phán xét riêng đã được manh nha, từ đây các giáo phụ nói nhiều về phán xét riêng như thánh Hilariô, thánh Basiliô, thánh Gioan Chrysostômô, thánh Augustinô…
Tới năm 1276, bản tuyên ngôn của Đức giáo hoàng Clêmentê II là bản kinh chính thức đầu tiên phân biệt phán xét chung và phán xét riêng. Từ đó phán xét riêng bắt đầu chiếm ưu thế trong giảng dạy và thần học.
Một tác giả thời danh của thế kỷ này là thánh Tôma Aquinô cũng dạy : mỗi người vừa là một ngôi vị riêng biệt, vừa là thành phần của toàn thể nhân loại, nên cần có 2 cuộc phán xét. Phán xét riêng liền sau khi chết và một cuộc phán xét khác vì là thành phần của cả nhân loại.
Theo công đồng Lyon II năm 1274 và công đồng Florence năm 1439, thì liền sau khi chết, kẻ lành vào ngay thiên đàng hay luyện ngục và kẻ dữ vào ngay hỏa ngục và như vậy là có phán xét riêng.
Sau cùng, năm 1964, trong hiến chế tín lý về Giáo hội “Lumen Gentium”, công đồng Vatican II dã dạy :”Thật vậy, trước khi ngự trị với Chúa vinh hiển, mọi người chúng ta đều phải trình diện trước tòa Chúa Kitô”(2Cr 5,10). Chỗ này nói về phán xét riêng, vì tiếp sau có viết :”Và ngày tận thế”, tức là có hai lần phán xét : trước tận thế và chính ngày tận thế.
III. NIỀM TIN CỦA CHÚNG TA NGÀY NAY.
Phán xét riêng chưa phải là một vấn đề được định tín chính thức, vấn đề này còn bỏ ngỏ để mọi người tìm hiểu thêm, bởi vì trong Kinh Thánh không có chỗ nào nói rõ về một cuộc phán xét riêng liền sau cái chết của mỗi người.
Tuy phán xét riêng chưa phải là vấn đề buộc phải tin nhưng theo sự khôn ngoan và ích lợi cho cuộc sống, chúng ta – những người con của Giáo hội – cần tuân theo những chỉ dẫn của Mẹ Giáo hội để phần rỗi chúng ta được bảo đảm hơn.
Sách Giáo lý Công giáo số 1021 dạy :”Cái chết kết thúc đời sống con người, nghĩa là chấm dứt thời gian đón nhận hay chốâi bỏ ân sủng Thiên Chúa được biểu lộ trong Đức Kitô. Khi đề cập đến phán xét, Tân ước chủ yếu nói về cuộc gặp gỡ chung cuộc với Đức Kitô trong ngày quang lâm, nhưng cũng nhiều lần khẳng định có sự thưởng phạt tức khắc ngay sau khi chết, tùy theo công việc và đức tin của mỗi người…”.
Nhưng sách Giáo lý Công giáo số 1022 nói rất rõ về vấn đề này :”Ngay khi lìa khỏi xác, linh hồn bất tử sẽ chịu phán xét riêng để được thưởng hay bị phạt đời đời; tùy theo đời sống của mình trong tương quan với Đức Kitô, linh hồn hoặc phải trải qua một cuộc thanh luyện hoặc được hưởng phúc trên trời hoặc sa địa ngục vĩnh viễn”.
Chúng ta cũng nên hiểu thêm, trong việc phán xét riêng, phần thưởng hay hình phạt không áp dụng cách máy móc, tức là chắc chắn có sự phán xét của Thiên Chúa. Theo chiều hướng thần học nói chung, con người vừa mới chết được Thiên Chúa soi sáng nhận biết rõ ràng mọi sự trong giây lát và đánh giá tổng kết toàn bộ cuộc đời mình trên trần gian, qua đó, linh hồn nhận thấy rõ phần thưởng hay hình phạt tương ứng dành cho mình, nghĩa là chính mình quyết định nhận lấy phần thưởng hay hình phạt cho mình.
Về vấn đề này, Đức Hồng y Billot nói :”Ngay sau khi linh hồn lìa khỏi xác, trong phút chốc thì cuốn sách lương tâm liền mở ra , làm cho ta nhận thức ngay một trật toàn bộ các việc ta đã làm khi còn sống”. Và Linh mục Parvilliez giải thích thêm : Chính ta sẽ phán xét ta, bởi tình trạng quá hiển nhiên công khai không thể chối cãi được. Công trạng và lỗi lầm sẽ xuất hiện trước mắt ta trong ánh sáng chói lọi; đồng thời cũng cho thấy những phần thưởng và hình phạt tương xứng với ta. Như thế, chính ta sẽ tuyên án cho ta và quan tòa khoan dung hay khắc nghiệt không có gì ảnh hưởng đến bản án đó, thiên thần và quỉ dữ có trổ tài hùng biện cũng không thể thay đổi bản án đó (Parvilliez, Niềm vui trước sự chết, tr 57-58).
Trong giáo lý đạo Cao đài, ta thấy có một điểm cũng hay trong Minh Kinh Đài hay Minh Cảnh Đài, theo đó, sau khi ta lìa đời, linh hồn sẽ đến trước tấm gương này. Tất cả việc ta làm trong kiếp sống vừa qua sẽ lần lượt tái hiện không sót mảy may trên mặt gương, y hệt những thước phim được chiếu lại trọn vẹn. Không cần ai phán xét hết. Những việc làm tốt khiến lòng ta tự dưng khoan khoái, sung sướng. Những việc làm quấy sẽ bắt ta tự xấu hổ, đau đón, ăn năn…
Truyện : Phán xét nhà vua.
Người Ai cập cổ thời có một tục rất hay, khả dĩ nhắc cho các vị vua chúa biết rằng họ có nhiệm vụ, có bổn phận, họ không thể hành động theo sở thích hay lòng ham muốn riêng của mình; nhưng phải tự coi mình như là những người bảo vệ công lý và mưu cầu hạnh phúc cho toàn dân.
Mỗi khi có một vị vua băng hà, người ta đem bầy xác vị vua đó bên bờ một cái hồ ở nơi ranh giới của cõi sống và cõi chết. Tại đó, một tòa án được thiết lập và gồm có 43 viên thẩm phán.
Một phát ngôn viên tiến ra và kêu lên trước xác chết :
- Xin ông cho chúng tôi biết lúc sống ông đã làm những gì.
Một ông bộ trưởng của vị vua quá cố, đứng lên than oan cho nhà vua và kể lại những công trạng của nhà vua lúc sinh thời, những luật lệ đã ban hành, những ích lợi đã đem lại cho dân.
Đoạn, một người dân có thể đứng ra kết tội nhà vua và tự do kể lể ở trước mặt 43 viên thẩm phán những điều mình oan ức muốn phàn nàn.
Tòa cân nhắc công và tội của nhà vua. Nếu xét ra tội nhiều hơn công, tòa kết án nhà vua. Người ta đem bôi lọ tên tuổi của nhà vua đó đi, ghi vào trong sử sách; còn xác nhà vua thì, trước kia được kính trọng như một vị thần minh, bây giờ không được chôn cất, sẽ đem vứt ra bờ bãi để cho diều tha, quạ mổ (Vũ Bằng, Đông tây cổ học tinh hoa, tr 18-19).
Trong cuộc sống trên trần gian này, người ta thường phải trải qua bốân giai đoạn sinh, lão, bệnh, tử. Nhưng có người đi đủ 4 giai đoạn đó, có người chỉ có sinh và tử, chết yểu.
Còn trong cuộc sống mai hậu, chúng ta phải qua 4 điều sau cùng này mà chúng ta gọi là Tứ chung, gồm sự chết, sự phán xét, thiên đàng và hỏa ngục. Sống chết là một điều bắt buộc, ai cũng phải qua, còn thiên đàng hay hỏa ngục do chính mỗi người chúng ta tự chọn.
Để kết luận về việc phán xét riêng, chúng ta nên theo nhận định này :”Phán xét riêng được thực hiện lập tức sau cái chết, trong đó số phận vĩnh cửu của con người được quyết định do việc luận xử của Thiên Chúa”. Đây là ý kiến chung của các nhà thần học, theo ngôn từ riêng của khoa thần học là : sententia fidei proxima, có nghĩa là ý kiến gần kề với đức tin, chứ chưa phải là một điều buộc phải tin, tức là chưa được định tín.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt
Xem thêm: http://www.google.com.vn/url?sa=t&rc...-Z2WJnP8i-SSGA
Còn đây, cảm nghiệm về phán xét riêng của 1 ng chết đi sống lại, mời bạn tham khảo.
K ai bắt bạn tin, Nhưng đọc để tham khảo nhé. http://www.google.com.vn/url?sa=t&rc...X0c9PO4sezrDlA
kẻ tin chúa thì lên thiên đàng, không tin chúa thì xuống địa ngục bất kể hành động của họ thế nào.
Câu này mình nghe nhiều bạn k phải CG nói.
Các bạn hiểu lầm rồi.
Hy vọng đọc xong mấy link mình gửi kèm các bạn sẽ có cái nhìn công bằng về Thiên Chúa, Thẩm Phán Chí Công nhưng cũng là Người Cha Nhân Hậu.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)




Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks