Chủ đề này khiến Xuân Phong tôi hiếu kỳ và muốn rút kiếm chém vài nhác vào màng vô minh cho nó rách nát, lộ ra ánh sáng.

Trong bài luận này của hòa thượng Thích Nhật Từ, tôi không bàn về ông, có vài điều không đúng.

Thứ nhất, Ngộ Thừa Ân là soạn giả, tức là người gom góp tài liều viết thành một tác phẩm, không phải là tác giả, tức là người từ ý riêng của mình sáng tạo ra câu truyện. Quyển Tây Du Ký lần đầu tiên được viết ra do Trường Xuân Chân Nhân, Khưu Xứ Cơ, sáng tác, và sau này được bổ túc và thêm thắc bởi Ngô Thừa Ân. Có thể nói, Ngô Thừa Ân rất am hiểu Phật Giáo cũng như Đạo Lão, và rất am hiểu nội dung của Tây Du Ký, nên mới có thể thêm vào những đoạn văn chương khá hoàn mỹ.

Thứ hai, một Tôn Ngộ Không có 72 phép thần thông, lộn một cân đẩu vân tới 10 vạn 8 nghìn dặm, tức khoảng 1/2 vòng trái đất, mà chỉ có từ Lưỡng Giới Sơn, Trung Quốc, mà không đưa được Đường Tâng đến Thiên Trúc, Ấn Độ, lại phải mất cả 14 năm. Vì sao tôi nói 14 năm, chút xíu tôi sẽ trở lại. Có hai nguyên nhân khiến sự việc này kéo dài 14 năm. Thứ Nhất, Tôn Ngô Không là đại biểu cho cái Trí của Hành Giả; Đường Tam Tạng là đại biểu cho Linh Hồn, tức đích thực Hành Giả. Linh Hồn đang ngự trị trong xác phàm, mà xác phàm thì thật nặng nề, thô cực, nên không thể vác lên vai mà bay đi, trong khi Thể Trí và Linh Hồn hoạt động hết sức linh hoạt, nhanh nhẹn. Bất kể ai trên thế gian này đều có Trí, có Linh Hồn, và cũng có thể xác nữa. Thể xác hết sức nặng nề, không thể bay đây bay đó. Thứ hai, suốt chặn đường Tôn Ngộ Không thừa biết sứ mạng của Đường Tam Tạng, biết rõ ông sẽ gặp nạn thế nào, và biết rõ luôn cả ân duyên của Đường Tam Tạng, và là một người đắc đạo, Tôn Ngô Không phải để Đường Tam Tạng tự vượt qua các thử thách trên đường Đạo.

Trở lại với con số 14 năm. Trong truyện Tây Du viết rất rõ Đường Tam Tạng thỉnh được 5048 quyển kinh, mỗi quyển tượng trưng cho 1 ngày đường. Lấy 5048 chia cho 365 thì có 13.8 năm, tức gần 14 năm.

Những điều nói phía trên chỉ là lời bàn luận nhỏ nhoi về hình ảnh Tây Du, chẳng nói lên được sự huyèn diệu của nó. Sự thật Tây Du Ký là một bộ truyện hết sức cao thâm, không phải người đắc đạo, không thể viết nên những điều kỳ bí ấy. Tại sao Đường Tam Tạng là người xuất gia mà lại dùng Bát Vàng, không dùng chén đá hay chén gỗ? Bát Vàng của Tam Tạng là Pháp. Trong truyện, Đường Tam Tạng có 3 tạng vật rất trân quý. Thế nào là ba tạng vật trân quý?

Một là Pháp Y; Pháp Y tức áo cà sa do Phật Tổ ban tặng. Áo Cà Sa ấy trong truyện viết khá chi tiết. Áo Cà Sa bốn gốc và trung tâm của mỗi ô đều có 5 viên ngọc ngũ sắc rất quý. Số Năm ở đây tượng trưng cho Ngũ Hành, Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Trong cơ thể con người có ngủ hành, tức ngũ tạng, Tâm Cang Tỳ Phế Thận. Ngọc tượng trưng cho Khí. Ngũ Tạng nhờ Ngũ Khí mà hoạt động trật tự. Khoác Áo Cà Sa tức Ngũ Khí Triều Nguyên, là một cảnh giới rất cao trong đạo học.

Hai là Tích Trượng; Tích Trượng là "cây gậy" vàng do Phật Tổ ban tặng. Cây tích trượng trong truyện tả cũng khá chi tiết. Tích Trượng dài có 9 lồng. Cây Tích Trượng này nói lên được sự tích báo hiếu của Mục Kiền Liên. Lại nữa, con số 9 này là do 3 bình phương mà thành, tức 3 x 3 = 3^2 = 9. Nói 3 x 3 tức trong vũ trụ này có Tam Tài. Tam Tài đó là Thiên Địa Nhân. Nói 3 bình phương 2 tức nói đến Thiên Địa. Tích Trượng là cây gậy đứng giữa trời đất mà không sợ gãy. Đường Tam Tạng là người chỉ có 2 chân. Thêm một tích trượng tức có 3 chân. Đứng giữa trời đất thật kiên cố, tâm Phật không gì lung lay. Điều này được chứng minh qua suốt hành trình, dù bị sa bao nhiêu nạn tai, bị bao nhiêu quyến rũ của yêu nữ, Đường Tam Tạng vẫn không sờn lòng.

Ba là Long Mã; Long Mã là do Tam Thái Tử Đông Hải Long Cung hóa thành. Long Mã có 2 ý nghĩa. Thứ nhất, Đường Tam Tạng là sức người, cỡi ngựa phàm đi đường xa, ắc ngựa phải mệt. Long Mã là ngựa thần, sức dai thì mới cõng nỗi Đường Tam Tạng đi xa như thế. Thứ hai, Long Mã xuất hiện thuở xưa mang theo Hà Đồ. Hà Đồ là cấu trúc Ngũ Hành Thuật Số nói về sự biến hóa của vũ trụ, các vì sao tinh tú. Hà Đồ là bản đồ vẻ nên 5 hành tinh, Kim Tinh, Mộc Tinh, Thủy Tinh, Hỏa Tinh, và Thổ Tinh xuất hiện ở năm vị trí trên bầu trời vào một ngày nào đó trong năm. Sau Hà Đồ còn có Lạc Thư. Đi chi tiết vào nó thì tôi không nói nữa.

Ngoài 3 vật báu đó, Đường Tăng còn nhận được một món không thuộc về Thánh Vật; đó là Bát Vàng do vua Đường ban tặng. Vì sao sải lại dùng bát vàng mà không dùng chén đá? Bát Vàng tượng trưng cho Pháp Bảo. Đó gọi là Xuất Thế Gian Pháp, nghĩa là từ thế tục mà ra. Trong khắp bảy châu địa này ai tu hành lại không xuất thế gian? Pháp Bảo rất quý, nên phải giữ gìn. Vàng vào thời bấy giờ là vật rất quý. Nếu dùng chén gỗ hay chén đá thì con người đâu xem như báu vật mà giữ gìn? Thế nên khởi đầu chuyến du hành, Đường Tăng được trao tặng Bát Vàng, là một vật rất hiếm hoi, cũng như Pháp Tu Hành rất trân quý, không thể xem thường. Thử hỏi nếu quý vị có cái bát vàng, quý vị có mang ra đựng cơm ăn không? Chứ Đường Tam Tạng có cái Bát Vàng mà hằng ngày cứ mang ra xin cơm, vậy đủ chứng tỏ vàng hay bạc gì đối với Đường Tam Tạng cũng không có giá trị. Cái quý là Pháp Tu Hành.

Lại nữa, khi đến Thiên Trúc, An Nan và Ca Diếp đòi hối lộ mới trao kinh. Ở đoạn này, nếu không phải là người đắc đạo, ắt không thể ngộ ra diệu lý mà viết nên cốt truyện thế này. Thử hỏi trong tất cả chư thiện tri thức lần đầu tiên xem phim Tây Du Ký có ngờ rằng Đường Tam Tạng sẽ thỉnh được kinh không chữ chăng?

Kinh không chữ tức, Vô Tự Chơn Kinh. Vô Tự Chơn Kinh là loại kinh không cách nào dùng ngôn ngữ thế gian mà có thể nói tường tận. Nó là loại kinh quý hiếm nhất. Thế nào gọi là Kinh?

Kinh có 3 nghĩa. Thứ nhất, viết lại lời Thánh Nhân gọi là Kinh, viết lại lời phàm gọi là sách. Kinh Sách phân biệt ở chổ chi rõ thực lý, nhưng thực ra nó không có phân biệt. Lý lẽ tiên nhân là cuộc sống phi vật, lý lẽ phàm nhân là cuộc sống hữu vật. Phi và Hữu thiếu một có được chăng? Thứ hai, đường thông nhỏ của thủy ngạch gọi là kinh. Con kinh nhỏ là chi nhánh của sông. Từ kinh ngạch đổ vế sông lớn rồi mới ra biển. Thế nên, Kinh là sự chỉ đạo trở về với chánh đạo. Thứ ba, trong cơ thể con người có 20 kinh mạch. Mười hai đại kinh mạch gọi là Đại Chu Thiên. Tám đường kinh mạch khác gọi là Kỳ Kinh Bát Mạch. Tu hành mà không biết tu kinh mạch của mình tức là lãng phí thời giờ. Người tu theo kinh sách, ý nghĩa thứ nhất của kinh, gọi là Phàm Phu, tức hành giả còn dính mắc trong vô minh. Người tu theo phạm hạnh, trở về với chính đạo, ý nghĩa thứ hai của kinh, gọi là Thức Giả, tức hành giả ý thức được đạo pháp và quay trở về với chánh pháp. Người biết tự sửa chữa lấy bản thân mình, tự tu tâm dưỡng tánh, hành đạo phám cải chánh từ thể xác đến tâm linh, ý nghĩa thứ ba của kinh, gọi là Thánh Nhân, tức hành giả đã thuần phục được bản thân mình.

Lại nữa, trong truyện có đoạn Phật Tổ nói: "chuyện đó ta biết rồi, trước đây ta có sai các sãi mới tu đi phát kinh ở nước Xá Vệ... Triệu trưởng lão hườn công ba quan tiền và ít thăng gạo trắng, ta nói Triệu trưởng lão bủn xỉn lắm sau này đời con cháu ắt sẽ nghèo.." Sao lại có việc này? Thực Kinh Tạng là vật hiếm quý. Phật và Chư Bồ Tát có phép thần thông, chẳng lẽ cần ít tiền và mớ gạo nhỏ nhoi đó sao? Thực chất Phật Tổ, cũng như A Nan và Ca Diếp biết rõ trong hành lý của Đường Tam Tạng còn có một Bát Vàng. Nhưng vì Đường Tam Tạng không hiểu rõ rằng Pháp là phương tiện đạt đến mục đích. Khi đến mục đích thì phải bỏ pháp. Cũng như Phật Tổ có nói "Ta lấy tay chỉ trăng, chớ lầm tưởng tay là trăng." Cũng như Lão Tữ có nói "Được chim quên ná, được cá bỏ nôm." Vì không hiểu rõ được hàm ý này, nên bốn thầy trò nhận được Kinh Không Chữ, tức Vô Tự Chơn Kinh, loại kinh càng đọc càng không hiểu. Vì sao? Vì Bát Vàng là phương tiện đưa Đường Tam Tạng đến cõi Phật; đã đến nơi rồi mà vẫn còn ôm chấp vào Pháp Bảo, không chịu buông ra, thì làm sao thấy được cõi Phật là thế nào? Vì còn mê chấp với Pháp, tức còn chưa vén tận màng vô minh thì làm sao đọc được kinh vô tự? Do đó Di Lặc Bồ Tát mới sai Đại Hùng Tôn Giả hóa thành đại bàng lấy về kinh sách.

Khi trở lại, Đường Tam Tạng hiểu ra lý đạo, phải xả bỏ Pháp phương tiện, và vì sự "ngộ không," tức không còn mê chấp với thế gian pháp, nên kinh vô tự mới hiện ra chữ. Lúc bấy giờ mới chứng được quả vị Phật. Long Mã trở về Long Cung. Tích Trượng và Cà Sa vốn là vật của Kim Thiền La Hán, tức tiền kiếp của Đường Tam Tạng. Thế nên, chỉ có mỗi Bát Vàng là vật của thế gian thì phải trả lại cho thế gian, không thể mang theo vào thiên đàng được.

Thực sự Tây Du Ký không phải người đắc đạo, không thể viết nên lời lẽ đơn sơ mà huyền diệu như vậy. Vì nhiều người chưa đạt được cảnh giới của Tây Du nên chưa thể hiểu được Tây Du, vì thế mới có sự hiểu lầm. Chỉ cần hành giả tu hành tinh tấn, ăt sẽ thấu được huyện diệu của Tây Du. Tôi có thể nói, Tây Du là truyện hư cấu, nhưng hàm chứa rất nhiều huyền cơ.