Trang 3 trong 4 Đầu tiênĐầu tiên 1234 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 41 tới 60 trên 70

Ðề tài: Niệm hơi thở - anapanasati

  1. #41

    Mặc định

    Theo kinh niệm hơi thở , Đức Phật dạy cách niệm hơi thở có bốn bước. Bước đầu tiên là hơi thở dài, bước thứ hai là hơi thở ngắn, bước thứ ba là cảm giác toàn thân hơi thở. Trong các buổi nói pháp trước tôi đã giảng về ba bước này, hôm nay tôi giảng tiếp bước thứ tư.
    Theo kinh Đức Phật dạy bước thứ tư là.
    ” An tịnh thân hành ta sẽ thở vô, vị ấy tập. An tịnh thân hành ta sẽ thở ra, vị ấy tập“
    Ở đây thân là gì? Thân có nghĩa có nghĩa là toàn bộ thân của hơi thở vô và hơi thở ra. Nó được gọi là thân hành vì nó tạo tác hình thành hơi thở. An tịnh thân hành có nghĩa là an tịnh toàn thân hơi thở. Toàn thân hơi thở lại được gắn kết, nối liền với thân của cơ thể. Thân của cơ thể ở đây được hiểu là đầu, mình, chân, tay v.v…Vậy ngoài việc an tịnh thân của hơi thở thì còn phài an tịnh thân của cơ thể nữa. Tại sao lại như vậy? Ví dụ như khi hành thiền trên đề mục hơi thở, hành giả thường lắc nhẹ hoăc đu đưa về phía trước, phía sau hoặc sang hai bên. Đó là chuyển động của thân và loại sắc tạo nên chuyển động này cũng được sanh ra từ tâm. Nói cách khác khi hành giả hành thiền mà đu đưa, lắc lư về phía trước hoặc phía sau thì tâm hành giả cùng một lúc làm cả hai việc, một là sinh sản ra hơi thở, hai là sinh ra chuyển động trên thân.
    Vậy để an tịnh thân hành có nghĩa là hành giả phải an tịnh:
    1/ An tịnh hơi thở
    2/ An tịnh toàn thân, toàn cơ thể.
    Lúc đó hành giả cần phải ngồi yên bất động giống như một pho tượng Phật vậy. Trong chú giải của Vô Ngại Giải Đạo có giải thích thân hành là gì? Hơi thở vô dài là thân và những hơi thở này vì gắn kết với toàn bộ cơ thể nên được gọi là thân hành. Khi cảm giác toàn thân về hơi thở vô, hơi thở ra, hơi thở dài, hơi thở ngắn, vì các hơi thở này gắn liền với cơ thể nên được gọi là thân hành, tức là những yếu tố hình thành nơi thân thể. Vị ấy tập để an tịnh làm đứng lại, làm lắng dịu tất cả những thân hành này. Vị ấy huấn luyện bản thân mình trong việc làm các thân hành trở nên định tỉnh, nhu nhuyễn, mềm mại và thư thái. .
    Vị ấy huấn luyện tâm mình như sau.
    -”An tịnh thân hành bằng cách làm lắng yên các hoạt động trên thân như lắc lư ra phía trước, phía sau và sang hai bên, làm yên tất cả các chuyển động, rung động, trạng thái rùng mình hay bị run trên cơ thể, bằng cách này ta sẽ thở vào hay thở ra.”
    -”Ta sẽ thở vô và thở ra, an tịnh thân hành thô, an tịnh tất cả những thân hành thô bằng cách thay thế nó bằng những hoạt động của thân có tính chất vi tế mềm mại, thư thái mà không bị lắc lư ra phía trước phía sau hoặc sang hai bên hoặc không có các chuyển động rung chuyển mạnh”.
    Ở giai đoạn này tiếp tục hay biết toàn bộ hơi thở từ đầu đến cuối, hành giả nghĩ như sau:
    -” Ta sẽ làm an tịnh các thân hành bằng cách làm lắng yên các hoạt động trên thân như lắc lư ra phía trước, phía sau và sang hai bên, làm yên các chuyển động rung chuyển như trạng thái rùng mình hay bị run trên cơ thể. Bằng cách này ta sẽ thở vô hay thở ra”.
    Và các thân hành thô ở đây được hiểu là hơi thở thô và trong Thanh Tịnh Đạo có lấy một ví dụ như sau, giả sử một người đứng yên lại sau khi chạy hoặc đứng yên lại sau khi đi từ trên đồi xuống, hoặc đặt một vật nặng từ trên đầu xuống, lúc ấy hơi thở vô và hơi thở ra của người ấy rất thô, mũi anh ta không đủ (để thở), do đó anh ta phải tiếp tục thở vô và ra bằng miệng. Nhưng khi anh ta đã làm cho mình hết mệt, đã tắm rửa, uống nước và đắp một miếng vải ướt lên ngực, rồi nằm xuống trong bóng mát, lúc đó hơi thở vô và hơi thở ra của anh ta trở nên vi tế đến mức anh ta phải kiểm tra xem mình có hơi thở hay không.”
    Cũng như vậy khi mới hành thiền, thân và tâm của hành giả chưa được yên nên hơi thở rất thô và không đều , càng lúc về sau càng trở nên vi tế đến nổi hành giả có cảm giác mình mất hơi thở. Tại sao lại như vậy? Vì trước khi tập thiền hơi thở không phải là đối tượng khả ái khả hỷ của hành giả như các đối tượng khác. Khi bắt đầu hành thiền hơi thở trở thành một đối tượng ưa thích, hành giả bắt đầu quan tâm đến nó, phản ứng và chú ý đến nó và kiểm tra nó luôn luôn, hiểu biết nhiều hơn về hơi thở để nó có thể trở nên vi tế và an tịnh.. Khi thân và tâm náo động, trạo cử thì hơi thở bị quá mức và rất dồn dập. Khi thân tâm không còn xáo trộn nữa thì hơi thở trở nên vi tế.
    Bốn yếu tố giúp hơi thở trở nên an tịnh
    1/ Quan tâm
    2/Phản ứng
    3/Tác ý
    4/Phản khán
    -Quan tâm là gì? Quan tâm có nghĩa là sự chú ý đầu tiên đến hơi thở , hướng tâm đến hơi thở với ý nghĩ ” Ta sẽ cố gắng làm cho hơi thở an tịnh”
    -Phản ứng có nghĩa là hành giả tiếp tục làm đi làm lại bước ở trên, duy trì sự chú tâm đến hơi thở với ý nghĩ, ” Ta sẽ cố gắng làm cho hơi thở an tịnh”
    -Tác ý: nghĩa đen của tác ý có nghĩa là ” quyết định trong tâm “Ta sẽ làm cho hơi thở an tịnh.” Tác ý ở đây là tâm sở làm cho tâm hướng về đối tượng, làm cho đối tượng rõ rệt trong tâm.
    -Phản khán có nghĩa là hành giả xét duyệt liên tục hơi thở để làm cho nó an tịnh thêm.
    Vì vậy tất cả những điều hành giả cần làm ở bước thư tư là:
    -Thứ nhất quyết định trong tâm là sẽ làm cho hơi thở an tịnh.
    -Thứ hai có chánh niệm và tỉnh giác liên tục trên hơi thở.
    Thực tập như vậy hành giả sẽ thấy hơi thở càng lúc càng trở nên vi tế. Khi định phát triển dần dần hơi thở trở nên rất an tịnh, nó trở nên nhẹ nhàng và nhu nhuyễn, rất khó có thể nhận biết, chính vì vậy được gọi là vi tế. Nếu quý vị thực tập như vậy thì có bốn giai đoạn phát triển.
    1/ Thứ nhất hiểu rõ chiều dài hơi thở vào xem nó ngắn hay dài
    2/Thứ hai hiểu rõ chiều dài hơi thở ra xem nó ngắn hay dài.
    3/ Thứ ba hiểu về toàn thân hơi thở ra-vào
    4/Thứ tư là an tịnh hơi thở ra-vào để nó trở nên vi tế.
    Đây là các bước tuần tự trên con đường mà hơi thở sẽ tiến triển. Đó cũng là bốn bước tuần tự để phát triển sự hiểu biết về hơi thở. Ở mỗi một giai đoạn sau hành giả sẽ biết rõ tất cả những giai đoạn trước đó. Ví dụ như khi hơi thở của hành giả đã trở nên vi tế thì lúc đó hành giả phải biết cả bốn điều như sau.
    1-Thứ nhất hành giả cần biết đó là một hơi thở vô.
    2-Thứ hai hành giả phải biết đây là một hơi thở vô dài.
    3-Thứ ba hành giả cấn phải biết toàn thân hơi thở, tức là biết được điểm đầu, điểm giữa, điểm cuối
    4-Thứ tư hành giả cần phải biết đó là một hơi thở rất vi tế.
    Khi hơi thở chưa được vi tế lắm như đã nói ở phần trên, hành giả phải hướng tâm để làm cho nó an tịnh. Khi định tăng lên thêm hành giả cần phải nổ lực biết được toàn thân của hơi thở vi tế mà hành giả đang có. Đó là bốn bước phải được hiểu biết đầy đủ. Bằng cách này hành giả liên tục và không gián đoạn chánh niệm trên hơi thở. Sự hiểu biết về toàn bộ hơi thở vô về chiều dài và tính chất của hơi thở vô này được tiếp nối với sự biết về các tính chất và chiều dài của hơi thở ra và tiếp tục nó lại được gắn liền với sự hiểu biết của hơi thở vô tiếp theo và cứ như vậy. Liên tục theo dõi hơi thở khi nó đi qua điểm xúc chạm, biết được tất cả các chi tiết của hơi thở và hành giả không chú ý đến bất cứ một điều gì khác. Đây là yếu tố của sự kết nối liên tục tức là yếu tố miên mật
    Nếu hành giả tu tập theo cách này với đầy đủ tinh tấn và sự hoan hỷ, tâm định của quý vị sẽ được tăng cường và cuối cùng hành giả có thể đắc thiền. Khi định phát triển hơi thở càng lúc càng vi tế và rất khó có thể nhận biết. Rất nhiều hành giả gặp khó khăn trong việc nhận biết về hơi thở trước khi nimitta xuất hiện. Nhưng đừng nên thất vọng và đừng có ý nghĩ như sau, ” Ồ hơi thở của tôi đẽ trở nên không rõ rệt” vì điều này làm cho hành giả trở nên bực bội, cùng nghĩa với việc định tâm của hành giả sẽ bị sút giảm ngay lập tức. Thực ra điều này rất tốt, khi hơi thở trở nên vi tế như vậy. Tại sao? Vì khi nimitta xuất hiện tâm của hành giả dán chặt vào nimitta và hơi thở không còn là một vấn đề phiền toái cho quý vị nữa. Tuy nhiên nếu trong trường hợp hơi thở vẫn còn thô tháo mà nimitta đã xuất hiện thì cùng một lúc hành giả sẽ biết được hai đối tượng là hơi thở và nimitta. Với hai đối tượng như vậy, tâm không thể gom vào và hợp nhất được và định không thể phát triển thêm lên, cho nên hành giả hãy hoan hỷ khi hơi thở nhẹ nhàng và vi tế hơn dù khó có thể hay biết về nó.
    Đối với các đề mục hành thiền khác trong thiền định, khi phát triển định tâm đối tượng sẽ trở nên rõ ràng hơn, dễ thấy hơn, nhưng trong niệm hơi thở thì ngược lại. Khi phát triển chánh niệm trên hơi thở cao hơn, hơi thở càng lúc càng vi tế đến mức gần như mất luôn hơi thở. Khi đó hành giả không có khả năng nhận diện được hơi thở và do đó họ sẽ phải làm gì? Câu trả lời là, ” Họ không cần làm gì cả”. Đó là một dấu hiệu cho thấy sự tiến bộ, nếu cứ cố để làm gì đó để thấy được hơi thở thì hành giả có thể mất định vừa được thiết lập và phải bắt đầu lại từ đầu. Nếu bắt đầu lại, tất nhiên định có thể được thiết lập, tăng dần nhưng đến một lúc hơi thở vi tế một lần nữa hành giả lại không nhận biết được về hơi thở. Cho nên tất cả việc mà hành giả cần phải làm ở đây thay vì cố đi tìm hơi thở thì họ chỉ việc định tâm vào điểm xúc chạm. Bất cứ khi nào khó có thể thấy được hơi thở thì hành giả chỉ việc quay về và hay biết điểm xúc chạm. Thế là đủ mặc dầu hơi thở trên thực tế không biến mất đi đâu cả, nhưng có thể nói hành giả nên kiên nhẫn chờ đến lúc hơi thở quay trở lại.
    Để hoài nghi và trạo cử trong tâm không sanh khởi hãy nên để tâm thoải mái khi qúy vị suy xét điều này: ai là người có hơi thở và ai là người không có hơi thở. Chỉ có bảy loại người không có hơi thở là: người chết, thai nhi trong bào thai, người bị chìm dưới nước, người bất tỉnh, người đang nhập tứ thiền, người đang nhập thiền diệt tức là nhập diệt thọ tưởng định , một vị Phạm Thiên. Suy xét bảy loại người trên hành giả có thể hiểu rõ là mình vẫn còn hơi thở, mình vẫn đang tiếp tục thở, bởi vì mình không thuộc một trong bảy loại người trên. Chỉ vì hơi thở quá vi tế nên hành giả không thấy nó được. Nguyên nhân ở đây là do Định vẫn còn yếu và chưa đủ mạnh. Hãy hiểu rõ điều này trong tâm rồi chỉ gắn tâm mình trên điểm xúc chạm và đợi cho hơi thở trở nên rõ rệt.
    Có những hành giả khi đạt đến hơi thở vi tế như thế này, họ thường đưa tay lên mũi để xem mình còn hơi thở hay không. Xin quý vị đừng làm như vậy. Tôi sợ rằng tay quý vị lúc đó có mùi gì đó. Đối với những người mũi dài thì hơi thở xúc chạm ngay đầu mũi, đối với những người mũi tẹt thì hơi thở sẽ xúc chạm ở phía môi trên. Do đó hành giả phải xác định rõ vị trí của điểm xúc chạm, đó là điểm mà nimitta sẽ chạm vào. Việc luôn ghi nhớ được điểm xúc chạm hính là lý do mà Đức Phật dạy chúng ta, ” Này các Tỳ kheo ta không nói rằng những người sau đây sẽ thành tựu được đề mục chánh niệm hơi thở , đó là những người thứ nhất là thất niệm tức là những người hay quên và thứ hai là đối với những ai thiếu tỉnh giác, tức là không thấy biết rõ ràng mọi việc” Đức Phật dạy chúng ta điều này bởi vì Ngài là một đấng toàn giác. Trong khi tôi không là bậc toàn giác như Ngài, nên tôi dạy niệm hơi thở cho tất cả quý vị bởi vì tôi không đọc được tâm của quý vị xem ai là người thất niệm, ai là người thiếu tỉnh giác.
    Dầu Đức Phật nói điều trên áp dụng cho tất cả các đề mục trong thiền định nhưng hầu như nó được ám chỉ nhiều nhất vào đề mục niệm hơi thở, vì với đề mục này hơi thở càng lúc càng trở nên an tịnh và vi tế khi đã phát triển được chánh niệm và đây là đề mục rất khó. Đây là đề mục mà các Đức Phật toàn giác, cũng như các vị độc giác Phật và các đệ tử của Phật đều thực tập. Nếu chúng ta tu tập thực hành niệm hơi thở đúng theo cách mà Đức Phật chỉ dạy thì chúng ta là đệ tử của Ngài . Tôi nghĩ nếu quý vị muốn thật sự trở thành con Phật thì quý vị phải thành công trong đề mục niệm hơi thở này. Quý vị có muốn trở thành con trai con gái của Phật không ?
    Để thành công trên đề mục chánh niệm hơi thở thì hành giả cần có chánh niệm sắc bén và sự tỉnh giác cao độ. Chúng ta có thể so sánh những khó khăn lúc hành thiền với đề mục chánh niệm hơi thở giống như công việc của người may thêu. Khi thêu hoặc may trên một tấm vải rất mỏng và mịn thì cần có cây kim thật mảnh. Khi luồn chỉ vào lỗ kim nhỏ ấy ta cần một dụng cụ xỏ kim còn mỏng và sắc hơn cây kim. Để có thể làm được công việc thêu may này chánh niệm giống như một cây kim nhỏ sắcvà mảnh và nó cần một lực mạnh mẽ để xuyên thủng tấm vải và tỉnh giác hoặc sự hiểu biết đầy đủ ở đây có thể ví như dụng cụ xỏ kim, tức là nó cũng cần có một lực rất mạnh và liên tục. Vì vậy cần thiết phải ráng sức và nổ lực thiết lập được một độ chánh niệm và tinh cần và tỉnh giác cần thiết và cần phải biết hơi thở ra-vào không ở một chỗ nào khác ngoài điểm xúc chạm .
    Hành giả không được cố ý tạo ra hơi thở dài ngắn hoặc vi tế theo ý của mình. Nếu hơi thở đã trở nên vi tế hành giả cũng không được thở mạnh lên để nhận biết hơi thở rõ hơn. Vì nếu làm như vậy Thất giác chi tức là bảy yếu tố cần thiết cho sự giác ngộ là tinh tấn và trạch pháp sẽ bị dư thừa một cách quá mức, đồng nghĩa với trạo cử và phóng tâm sẽ xuất hiện và lập tức định sẽ bị giảm sút. Tự hơi thở không trở thành khó nhận biết, nó chỉ không rõ rệt bởi các yếu tố trong thất giác chi là niệm, định và trạch pháp còn thiếu chưa phát triển đầy đủ. Cho nên tốt nhất là cứ để hơi thở diễn biến một cách tự nhiên. Có thể có lúc hơi thở dài, có lúc lại ngắn , tốt thôi , cứ để nó dài và ngắn như vậy và hãy cố gắng để hay biết toàn thân hơi thở. Vì vậy nếu hơi thở vi tế thì lúc đó quý vị cần phải biết hơi thở vi tế này dài hay ngắn. Nếu có thể tập trung vào toàn thân hơi thở vi tế đó trong vòng một đến hai tiếng đồng hồ mỗi một thời thiền, thì định của quý vị sẽ được tăng cường thêm.
    Điều vô cùng cần thiết mà hành giả cần làm là luôn luôn thực tập một cách miên mật về chánh niệm trên hơi thở. Và điều quan trọng là hãy dừng tất cả các suy nghĩ, dừng nói chuyện và tôi thêm một điều nữa là tắt ngay điện thoại di động . Một điều quan trọng nữa là quý vị đừng tiếp khách, có ai đến thăm xin cũng đừng tiếp. Ngoài việc dừng suy nghĩ, dừng nói chuyện, đừng tiếp khách, trong tất cả các oai nghi như đi đứng nằm ngồi cần phải tập trung duy nhất vào một đối tượng là hơi thở chứ không chuyển tâm sang bất cứ một đối tượng nào khác. Xin nhắc lại là quý vị không để tâm vào bất cứ một đối tượng nào khác. Xin quý vị hãy dừng tất cả những suy nghĩ trong tâm, nghĩ vế nhà cửa, họ hàng, gia đình, công việc làm ăn. Quý vị chỉ làm một điều là hít vô thở ra.
    Tôi xin dứt lời tại đây.
    Mời quý hữu đọc kỹ rồi nói tiếp

  2. #42

    Mặc định

    Tuệ thứ III - Sammasananàna - Tuệ suy xét thấy Danh Sắc là vô thường, khổ não, vô ngã.
    (Tuệ Thấu Ðạt)
    Ðây là do sự suy xét mà thấy, chớ không phải thấy bằng Trí Tuệ. Có 4 loại suy xét:
    1) Suy xét từ bộ phận của thân, thấy không có gì tốt đẹp. Thí dụ suy xét tay, chân, thấy có da, có lông, bên trong là bắp thịt, gân, máu, xương, chất dơ bẩn, lúc thì nổi mụt sần sùi, khi thì da nhăn, ngứa ngáy. Hành-giả nhận thấy sự vô thường của thân.
    2) Suy xét từ lúc còn bé thơ đến lúc già, có nhiều sự thay đổi. Mới hồi nào còn ham ăn, ham chơi, ham đánh lộn, lớn lên ham coi hát, ham hoạt động, bây giờ già, như mặt trời về chiều, tóc điểm sương, răng rụng, mắt lờ. Ðời là vô thường.
    3) Suy xét thấy sự nối tiếp (Santati) của Danh Sắc. Tóc mới hớt, râu mới cạo, nay đã ra dài; móng tay, móng chân mới cắt, tiếp tục mọc ra, đó là sự nối tiếp của cơ thể. Cảm giác cũng có sự nối tiếp, hết buồn đến vui, hết đau đến mạnh, hết an vui đến lo sợ. Chúng sanh sống trong sự vô thường.
    4) Suy xét hơi thở hay sự hô hấp. Khi Hành-giả niệm "Phồng à" thấy bụng phồng lần lần, đến một mức nào phồng không đặng nữa, là khổ, tức nhiên phải xọp, niệm "Xọp à". Xọp đến một bực nào, chịu không đặng, là khổ, phải phồng lại, v.v... Có lúc Hành-giả niệm thấy Phồng Xọp rất nhanh, có lúc phồng xọp rất chậm, có lúc phồng xọp mất, đó là sự vô thường của hơi thở. Hành-giả nhận thấy tự mình không điều khiển được hơi thở được, đó là vô ngã.
    Do 4 điều suy xét trên, Hành-giả nhận biết được một cách thô sơ về Tam Tướng là: vô thường, khổ não, vô ngã.
    Khi Hành-giả bắt đầu niệm qua Tuệ thứ III, Ðại Ðức Thiền Sư thường dặn phải khời tâm bằng niệm "Muốn à". Như "muốn đi à, muốn nằm à, muốn uống nước à, muốn ăn à, muốn ngồi à" v.v...
    Nếu Tuệ thứ III mạnh, thì có mười vi-tế phiền não phát sanh (Vipassanupakilesa), làm cho Thiền Minh-Sát ô nhiễm hay lu mờ. Hành giả không biết đó là phiền não, ôm ấp hoài, cho là vật quí báu, dính ở đó, không tiến tới được. Mỗi Pháp nếu tách riêng ra là Thiện pháp, song bởi Hành-giả, do tâm ái dục, ngã mạn, tà kiến, cho mình đã đắc đạo quả, không tiến tới và bị kẹt ở Tuệ thứ III, nên gọi là phiền não vi tế.
    Sau đây là 10 vi-tế phiền não:
    1. Obha - Ánh sáng - Tùy người, ánh sáng phát sanh lúc ngồi tham thiền, hoặc lúc đi kinh hành. Ánh sáng có thể yếu ớt như đom đóm, rõ hơn như bóng đèn pin. Có khi sáng loà như đèn pha xe hơi, xẹt qua xẹt lại. Ðại Ðức Thiền Sư Raja Siddhimuni thuật chuyện, lúc Ngài mới hành Minh-Sát-Tuệ tại Thiền-đường chùa Mahadhatu thấy ánh sáng lần đầu tiên. Ngài tưởng mình đã đắc quả Tu-đà-hườn. Vì Ngài đã học xong Pháp học (Abhidhamma, Vi Diệu Pháp), trong đó nói rằng ánh sáng cũng là một trong những triệu chứng đắc đạo quả. Một lúc sau, Ngài thấy ánh sáng lại xẹt qua xẹt lại. Ngài mừng quá nghĩ rằng mình đắc quả Tu-đà-hườn rồi. Kế đó Ngài đau bụng, đứng dậy về cốc kiếm thuốc uống. Khi ra tới cửa có người gác cửa hỏi "Ngài đi đâu?" "- Tôi đau bụng quá, định về Cốc lấy thuốc uống." "Không được, Ngài phải trở vô, ngồi lại, niệm 'đau bụng à, đau bụng à' thì hết đau bụng". Ðại Ðức trở lại ngồi, niệm it tiếng "đau bụng à" thì hết đau bụng. Ngài tự xét mình chưa đắc quả, đây chẳng qua là Ma Vương nó quấy phá. Người gác cửa mà còn biết hơn mình. Vì vậy Ðại Ðức dạy Hành-giả khi thấy ánh sáng, phải niệm "thấy à" thì ánh sáng mất.
    Ðại Ðức Raia Siddhimuni nhắc thêm một tích nữa. Thuở xưa có một vị Thiền Sư chưa đắc đạo quả mà tự cho là mình đã đắc quả A-la-hán. Ngài dạy cho nhiều đệ tử, cũng có người đắc đạo quả. Ngài biết thần thông, biến hoá các thú như voi, cọp, sư tử. Trong số đệ tử Ngài, có một Sadi đã đắc quả rồi. Ngày nọ Sadi đến thăm thầy và bạch thầy: "Xin Ðại Ðức biến một con voi cho tôi coi" "- Ðược, Sadi sẽ coi đây". Rồi Ðại Ðức Thiền Sư liền hoá phép một con voi to tướng hiện ra cho Sadi xem. Sadi nói tiếp: "Ngài bảo con voi đút vòi vào mồm" "- Ðược, xem đây, voi đút vòi vào mồm." "Ngài cho con voi rống coi." "- Ðược, xem đây, voi rống to lên." "- Ngài cho voi chạy coi chơi?" Lúc ấy Ðại Ðức Thiền Sư sợ voi chạy đạp bể đổ hết đổ trong chùa, Ngài định chận voi lại. Sadi kéo y Ngài lại và nói: "Một vị A-la-hán không còn sợ voi đạp bể đồ". Ðại Ðức sực tỉnh lại, biết mình chưa đắc đạo quả gì. Sadi chỉ cho thầy mình hành lại cho đến khi đắc đạo quả thật.
    2- Piti - Phỉ lạc - Có năm loại phỉ lạc:

    a) Neo-piti - Phỉ lạc chút ít, như rởn ốc, rùn mình, mát mẻ, xây xẩm chút ít, thấy trong mình như nặng nặng, chảy nước mắt.
    b) Khamikapiti - Phỉ lạc chốc lác. Hành-giả thấy màu đỏ, ánh bình minh, thấy như rát rát ở thân, như ruồi bay hay kiến bu nhột nhột, như kiến bò ở mặt, ở tay, ở lưng. Hành-giả rờ, phủi, thấy không có gì hết. Khi nghe tim run run như mất ngủ, có khi thấy như cây cấm dưới nước, bị nước chảy làm rung rung vậy.
    c) Okkantikapiti - Phỉ lạc trong một cơn hay hải-triều-hỉ. Hành-giả thấy như sóng tấp vào mình, thân mình lúc lắc, nghiêng qua, nghiêng lại, hất tay, hất chân, có khi muốn ói hoặc ói thật.
    d) Ubengapiti - Hân hoan phỉ lạc. Thân hành-giả nhẹ nhàng, cao lên, đụng trần nhà. Có khi thân hỏng lên khỏi chỗ ngồi một gang. Ðại Ðức Raja Siddhimuni nhắc tích một Sadi 19 tuổi, gọi là "Sadi bay". Cách nay ít năm, tại chùa Mahadhatu, có một Sadi lúc đi kinh-hành, phỉ lạc Ubengapiti phát sanh. Nhằm lúc Sadi nhớ mẹ, muốn về nhà thăm mẹ ở ngoại ô Bangkok, Sadi liền bay thẳng về nhà lúc đêm khuya. Các anh ra mở cửa hỏi: "Sao em về khuya vậy?" "- Nhớ mẹ quá em bay về ". Khi trở lại chùa, Sadi phải đi bộ, vì không bay được nữa.
    Phỉ lạc này phát sanh làm Hành-giả gục tới, gục lui, hoặc xây qua, xây lại, khi thì hả miệng nhóp nhép như lầm thầm chửi ai.
    e) Pharamapiti - Phỉ lạc tràn ngập - Hành-giả thấy mát cả châu thân. Có khi ngứa cả châu thân, gải rồi ngứa nữa, có khi mát lạnh như ngồi trên nước đá. Có khi thấy màu đẹp như ngọc bích, như màu đọt chuối.

    Ðấy là hết 5 loại phỉ lạc. Hành-giả có 1 hay 2 loại nào cũng tốt, không cần phải có đủ 5 loại. Ðiều cần nhất là khi phỉ lạc phát sanh, Hành-giả nhớ niệm "rởn ốc à", "rần rần à", "ngứa à, nhẹ hỏng à, mát mẻ à, xây à", v.v... Nếu không niệm, Hành-giả sẻ dính mắc ở đó, không tiến được. Phải niệm cho mất phỉ lạc.
    3. Sukha - Sự an vui - Ðây là sự an vui của Chư Thiên. Vì là sự an vui chưa từng thấy, Hành-giả tưởng là Niết-Bàn, nên mắc dính ở đó. Ðại Ðức Raja Siddhimuni nhắc chuyện một Hành-giả người Hoa-Kỳ, gốc ở California, hành Thiền Minh-Sát tại chùa Mahadhatu. Khi được Sukha phát sanh, tìm đến vị Thiền sư bạch rằng "Bạch Ngài, trên 30 năm nay, tôi mới có được an vui như ngày hôm nay khi tôi ngồi thiền. Xin Ngài cho tôi xuất gia." Ðại Ðức Thiền sư khuyên Hành-giả nên tiếp tục hành cho xong. Hiện nay người Mỹ này đã xuất gia và còn tu học tại chùa Mahadhatu, Bangkok.
    4. Passaddhi - Tịnh - Lúc niệm, Hành-giả thấy từ từ nhẹ nhẹ, ít ít, rồi mất, như mê vậy. Hành giả tưởng mình đã đắc đạo quả. Hành-giả tưởng mê là tịnh, là Niết Bàn.
    Tịnh là Thiện pháp, song bởi Hành-giả tham dục, ngã mạn, tà kiến, chấp dính, không tiến tới, cho nên gọi là vi-tế phiền não.
    5. Saddha - Ðức tin - Lúc Hành-giả đang hành Tuệ III, đức tin phát sanh mạnh mẽ. Hành-giả suy tính liên miên, phát tâm muốn làm phước, muốn đền ơn Thầy tổ, muốn trả ơn cho bạn bè đã dìu dắt, chỉ bảo, khuyến khích các người chưa biết Thiền-Minh-Sát, nên hành Thiền-Minh-Sát. Ðức tin là Thiện pháp, nhưng Hành-giả vi tính toán về vị lai, vì để tâm suy nghĩ về quá khứ mà quên hiện tại, không hành cho đến nơi đến chốn. Vì đó mà đức tin biến thành vi tế phiền não.
    6. Paggàha - Tinh tấn - Pháp Tinh Tấn phát sanh, Hành-giả hành hoài, không biết mỏi mệt, không nghỉ ngơi. Hết đi rồi ngồi. Ban đêm cũng ít ngủ. Vì tinh tấn quá mức lại ít ngủ, nên làm Hành-giả kém trí nhớ, có hại cho sức khoẻ. Ðây là vi tế phiền não.
    7. Upatthana - Trí nhớ - Khi trí nhớ phát sanh, Hành-giả tự thấy mình sáng láng, hiểu biết nhiều. Thường thường Hành-giả nhớ tới những chuyện viễn vông ở quá khứ rất rõ ràng, rồi lơ là không tiếp tục hành thiền cho đến tiến hoá. Ðó cũng là vi tế phiền não.
    8. Panna - Tuệ - Tuệ biết chúng sanh là Danh Sắc, không có nhơn, ngã, bỉ thử, thú, người, trời. Nhớ lời Ðức Phật dạy: "Này Mokkharàja, người nên biết rằng thân thể này là vật rỗng không, là vô ngã. Như vậy tử thần theo không kịp". Khi tuệ phát sanh mạnh, nếu Hành giả là người biết Pháp học (Abhidhamma) thường đem đó ra bình phẩm. Hành-giả nghĩ sau này mình sẽ thuyết pháp giỏi, nghĩ chuyện vị lai, bình phẩm cái hiện tại, quên lo hành. Như thế gọi là vi tế phiền não.
    9. Upekkha - Xả - Khi pháp này phát sanh, Hành-giả tự thấy mình có tâm bình thản, không buồn, không vui. Ai làm gì cũng dửng dưng, không thỏa thích, cũng không giận hờn. Có người nghĩ rằng mình đã đắc đạo quả vì không còn phiền não khuấy động. Nghĩ như vậy là sai, vì Hành-giả chưa đắc gì cả.
    10. Nikanti - Vọng - Hành-giả có tâm mong muốn thấy lại các ấn chứng mà mình đã thấy rồi như ánh sáng, rừng, núi, sông, rạch, nhà, cửa, dinh thự. Muốn thấy lại các hình ảnh hoặc đẹp như đàn bà, cô gái hoặc xấu xí như ngạ quỉ, a-tu-la hoặc thú vật. Những người có tánh sân, thường thấy thú dữ hoặc những cảnh đáng ghê sợ. Người có tánh tham, thường thấy cảnh đẹp đẻ. Người có tánh si, thường thấy những cảnh lu mờ không rõ rệt.
    Trong 10 vi tế phiền não vừa kể trên, Hành-giả ít khi có đủ hết 10 phiền não vừa kể trên, mà có một số ít thôi, thí dụ có phỉ lạc, ánh sáng, hoặc pháp an vui.
    Ðại Ðức Thiền Sư giải thích rằng 10 pháp vi tế phiền não này đều là Thiện pháp, vì những pháp này đều có trong 37 Pháp chứng quả Bồ-Ðề. Song đến Tuệ III, Hành-giả thường mắc dính ở đây, do tâm Tham dục, Ngã mạn và Tà kiến; 3 Pháp nầy kết hợp với mỗi pháp vi tế phiền não kể trên, thành ra đến 3 x 10 = 30 Pháp vi tế phiền não.
    Tuệ thứ III là ranh phận của Thiền Chỉ (Samatha) và Thiền Minh-Sát (Vipassana), 95% Hành-giả đều bị kẹt ở đây vì tưởng mình đã hành xong, vì đã đắc đạo quả rồi. Vì tưởng sai nên không tiến tới kết quả thật sự.
    Mời quý hữu đọc kỹ rồi nói tiếp

  3. #43

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi ga tê ga tê Xem Bài Gởi
    Mời quý hữu đọc kỹ rồi nói tiếp
    Cảm ơn bạn đã trích dẫn. Bạn có thể hoan hỷ giải thích kỹ hai đoạn bôi đỏ đó theo hiểu biết của bạn không ?
    "Đừng tìm lỗi người. Nếu khi bạn chỉ cho họ thấy sai lầm của họ mà họ vẫn không sửa đổi, hãy để yên như thế. Ajahn Chah"

  4. #44

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi delightdhamma Xem Bài Gởi
    Cảm ơn bạn đã trích dẫn. Bạn có thể hoan hỷ giải thích kỹ hai đoạn bôi đỏ đó theo hiểu biết của bạn không ?
    Phần đã post phía trên đã giải thích rõ ràng , ga tê chỉ nêu ý chính như sau:
    An tịnh thân hành bằng cách ta thở vô và thở ra, chánh niệm vẫn là hơi thở vô /ra, nhờ có chánh niệm nầy mà ta an tịnh được thân và chú ý được hành động của thân là ngồi ngay ngắn , lưng thẳng , thả lỏng toàn thân, không gồng và chú ý tới hít vào và thở ra.
    Như vậy trong suốt qua trình thiền, chánh niệm vẫn là “tôi hít vào tôi thở ra” , hoặc “phồng à? xẹp à?” , khi đã quen rồi thì chỉ còn "hít / thở" , "phồng / xẹp" ngoài ra trong tâm không còn một niệm nào khác.
    Tuy vậy nếu bạn cứ giữ mãi pháp thiền samadhi ( thiền định) mà không chuyển sang thiền quán sát ( vispassana) thì đến một lúc sẽ chẳng bao giờ trở lại thiền quán sát được nữa, do đó khi ở bước tuệ thứ ba là phải thực hành thiền quán sát , lúc đó tâm bạn đã gần như yên ắng , không tầm không tứ chỉ còn đề mục, nên nhiều người có cảm giác sao mình thiền lâu vậy mà chẳng thấy hỷ lạc gì cả , hay tại mình thiền sai, sự thật khi đã đi vào thiền quán sát thì hỷ sẽ qua rất nhanh , ngay sau lúc xả thiền hoặc ở một lúc nào đó trong ngày không phải trong lúc thiền, rồi người ta cảm thấy xung hỷ cực kỳ và vui thích với nó và mong mau mau để đến thời thiền được như vậy nữa , thì nó lại mất , rồi không mong, thì nó lại trở lại, chán rồi họ không còn mong nữa thì nó lại đến rất nhanh và chuyển sang an lạc, ........nhiều khi những trạng thái Hỷ / Lạc nầy không rõ ràng , nhưng họ sẽ thấy một khoảng lặng rất dài của tâm chơn như , rốti hợt một câu nào trong kinh hay sự đàm đạo về pháp mà trước đây họ chưa giải được , họ chợt nhận ra đáp án và miên mật với đề mục nầy .....
    Nếu ai chỉ tu thiền định samatha thì có lẽ khi thành tựu chắn chắn sẽ đến tứ thiền , còn nếu ai tu từ đầu samatha sau khi đã đạt tới một phần tâm chơn như, rồi chuyển sang quán sát thì chắc chắn sẽ từng bước chứng phần thăng theo đạo tuệ 4. 5, 6.....cho tới lúc gặp tuệ cuốn chiếu.....
    Có rất nhiều người đã thực chứng ở đạo tuệ thứ 13 ( tuệ chán nản/cuốn chiếu) và khi họ vượt qua được thì cũng không còn muốn khoe mình nữa, nên các vị cứ tưởng không có ai đắc thiền.Vì khi đó tham sân si chỉ còn vi tế tâm, rất khó thấy, khó nhận ra.

    Tuệ thứ III - Sammasananàna - Tuệ suy xét thấy Danh Sắc là vô thường, khổ não, vô ngã.
    (Tuệ Thấu Ðạt)
    Ðây là do sự suy xét mà thấy, chớ không phải thấy bằng Trí Tuệ. Có 4 loại suy xét:
    1) Suy xét từ bộ phận của thân, thấy không có gì tốt đẹp. Thí dụ suy xét tay, chân, thấy có da, có lông, bên trong là bắp thịt, gân, máu, xương, chất dơ bẩn, lúc thì nổi mụt sần sùi, khi thì da nhăn, ngứa ngáy. Hành-giả nhận thấy sự vô thường của thân.
    2) Suy xét từ lúc còn bé thơ đến lúc già, có nhiều sự thay đổi. Mới hồi nào còn ham ăn, ham chơi, ham đánh lộn, lớn lên ham coi hát, ham hoạt động, bây giờ già, như mặt trời về chiều, tóc điểm sương, răng rụng, mắt lờ. Ðời là vô thường.
    3) Suy xét thấy sự nối tiếp (Santati) của Danh Sắc. Tóc mới hớt, râu mới cạo, nay đã ra dài; móng tay, móng chân mới cắt, tiếp tục mọc ra, đó là sự nối tiếp của cơ thể. Cảm giác cũng có sự nối tiếp, hết buồn đến vui, hết đau đến mạnh, hết an vui đến lo sợ. Chúng sanh sống trong sự vô thường.
    4) Suy xét hơi thở hay sự hô hấp. Khi Hành-giả niệm "Phồng à" thấy bụng phồng lần lần, đến một mức nào phồng không đặng nữa, là khổ, tức nhiên phải xọp, niệm "Xọp à". Xọp đến một bực nào, chịu không đặng, là khổ, phải phồng lại, v.v... Có lúc Hành-giả niệm thấy Phồng Xọp rất nhanh, có lúc phồng xọp rất chậm, có lúc phồng xọp mất, đó là sự vô thường của hơi thở. Hành-giả nhận thấy tự mình không điều khiển được hơi thở được, đó là vô ngã.
    Do 4 điều suy xét trên, Hành-giả nhận biết được một cách thô sơ về Tam Tướng là: vô thường, khổ não, vô ngã.
    Khi Hành-giả bắt đầu niệm qua Tuệ thứ III, Ðại Ðức Thiền Sư thường dặn phải khời tâm bằng niệm "Muốn à". Như "muốn đi à, muốn nằm à, muốn uống nước à, muốn ăn à, muốn ngồi à" v.v...
    Nếu Tuệ thứ III mạnh, thì có mười vi-tế phiền não phát sanh (Vipassanupakilesa), làm cho Thiền Minh-Sát ô nhiễm hay lu mờ. Hành giả không biết đó là phiền não, ôm ấp hoài, cho là vật quí báu, dính ở đó, không tiến tới được. Mỗi Pháp nếu tách riêng ra là Thiện pháp, song bởi Hành-giả, do tâm ái dục, ngã mạn, tà kiến, cho mình đã đắc đạo quả, không tiến tới và bị kẹt ở Tuệ thứ III, nên gọi là phiền não vi tế.
    Sau đây là 10 vi-tế phiền não:
    1. Obha - Ánh sáng - Tùy người, ánh sáng phát sanh lúc ngồi tham thiền, hoặc lúc đi kinh hành. Ánh sáng có thể yếu ớt như đom đóm, rõ hơn như bóng đèn pin. Có khi sáng loà như đèn pha xe hơi, xẹt qua xẹt lại. Ðại Ðức Thiền Sư Raja Siddhimuni thuật chuyện, lúc Ngài mới hành Minh-Sát-Tuệ tại Thiền-đường chùa Mahadhatu thấy ánh sáng lần đầu tiên. Ngài tưởng mình đã đắc quả Tu-đà-hườn. Vì Ngài đã học xong Pháp học (Abhidhamma, Vi Diệu Pháp), trong đó nói rằng ánh sáng cũng là một trong những triệu chứng đắc đạo quả. Một lúc sau, Ngài thấy ánh sáng lại xẹt qua xẹt lại. Ngài mừng quá nghĩ rằng mình đắc quả Tu-đà-hườn rồi. Kế đó Ngài đau bụng, đứng dậy về cốc kiếm thuốc uống. Khi ra tới cửa có người gác cửa hỏi "Ngài đi đâu?" "- Tôi đau bụng quá, định về Cốc lấy thuốc uống." "Không được, Ngài phải trở vô, ngồi lại, niệm 'đau bụng à, đau bụng à' thì hết đau bụng". Ðại Ðức trở lại ngồi, niệm it tiếng "đau bụng à" thì hết đau bụng. Ngài tự xét mình chưa đắc quả, đây chẳng qua là Ma Vương nó quấy phá. Người gác cửa mà còn biết hơn mình. Vì vậy Ðại Ðức dạy Hành-giả khi thấy ánh sáng, phải niệm "thấy à" thì ánh sáng mất.
    Ðại Ðức Raia Siddhimuni nhắc thêm một tích nữa. Thuở xưa có một vị Thiền Sư chưa đắc đạo quả mà tự cho là mình đã đắc quả A-la-hán. Ngài dạy cho nhiều đệ tử, cũng có người đắc đạo quả. Ngài biết thần thông, biến hoá các thú như voi, cọp, sư tử. Trong số đệ tử Ngài, có một Sadi đã đắc quả rồi. Ngày nọ Sadi đến thăm thầy và bạch thầy: "Xin Ðại Ðức biến một con voi cho tôi coi" "- Ðược, Sadi sẽ coi đây". Rồi Ðại Ðức Thiền Sư liền hoá phép một con voi to tướng hiện ra cho Sadi xem. Sadi nói tiếp: "Ngài bảo con voi đút vòi vào mồm" "- Ðược, xem đây, voi đút vòi vào mồm." "Ngài cho con voi rống coi." "- Ðược, xem đây, voi rống to lên." "- Ngài cho voi chạy coi chơi?" Lúc ấy Ðại Ðức Thiền Sư sợ voi chạy đạp bể đổ hết đổ trong chùa, Ngài định chận voi lại. Sadi kéo y Ngài lại và nói: "Một vị A-la-hán không còn sợ voi đạp bể đồ". Ðại Ðức sực tỉnh lại, biết mình chưa đắc đạo quả gì. Sadi chỉ cho thầy mình hành lại cho đến khi đắc đạo quả thật.
    2- Piti - Phỉ lạc - Có năm loại phỉ lạc:
    a) Neo-piti - Phỉ lạc chút ít, như rởn ốc, rùn mình, mát mẻ, xây xẩm chút ít, thấy trong mình như nặng nặng, chảy nước mắt.
    b) Khamikapiti - Phỉ lạc chốc lác. Hành-giả thấy màu đỏ, ánh bình minh, thấy như rát rát ở thân, như ruồi bay hay kiến bu nhột nhột, như kiến bò ở mặt, ở tay, ở lưng. Hành-giả rờ, phủi, thấy không có gì hết. Khi nghe tim run run như mất ngủ, có khi thấy như cây cấm dưới nước, bị nước chảy làm rung rung vậy.
    c) Okkantikapiti - Phỉ lạc trong một cơn hay hải-triều-hỉ. Hành-giả thấy như sóng tấp vào mình, thân mình lúc lắc, nghiêng qua, nghiêng lại, hất tay, hất chân, có khi muốn ói hoặc ói thật.
    d) Ubengapiti - Hân hoan phỉ lạc. Thân hành-giả nhẹ nhàng, cao lên, đụng trần nhà. Có khi thân hỏng lên khỏi chỗ ngồi một gang. Ðại Ðức Raja Siddhimuni nhắc tích một Sadi 19 tuổi, gọi là "Sadi bay". Cách nay ít năm, tại chùa Mahadhatu, có một Sadi lúc đi kinh-hành, phỉ lạc Ubengapiti phát sanh. Nhằm lúc Sadi nhớ mẹ, muốn về nhà thăm mẹ ở ngoại ô Bangkok, Sadi liền bay thẳng về nhà lúc đêm khuya. Các anh ra mở cửa hỏi: "Sao em về khuya vậy?" "- Nhớ mẹ quá em bay về ". Khi trở lại chùa, Sadi phải đi bộ, vì không bay được nữa.
    Phỉ lạc này phát sanh làm Hành-giả gục tới, gục lui, hoặc xây qua, xây lại, khi thì hả miệng nhóp nhép như lầm thầm chửi ai.
    e) Pharamapiti - Phỉ lạc tràn ngập - Hành-giả thấy mát cả châu thân. Có khi ngứa cả châu thân, gải rồi ngứa nữa, có khi mát lạnh như ngồi trên nước đá. Có khi thấy màu đẹp như ngọc bích, như màu đọt chuối.
    Ðấy là hết 5 loại phỉ lạc. Hành-giả có 1 hay 2 loại nào cũng tốt, không cần phải có đủ 5 loại. Ðiều cần nhất là khi phỉ lạc phát sanh, Hành-giả nhớ niệm "rởn ốc à", "rần rần à", "ngứa à, nhẹ hỏng à, mát mẻ à, xây à", v.v... Nếu không niệm, Hành-giả sẻ dính mắc ở đó, không tiến được. Phải niệm cho mất phỉ lạc.
    3. Sukha - Sự an vui - Ðây là sự an vui của Chư Thiên. Vì là sự an vui chưa từng thấy, Hành-giả tưởng là Niết-Bàn, nên mắc dính ở đó. Ðại Ðức Raja Siddhimuni nhắc chuyện một Hành-giả người Hoa-Kỳ, gốc ở California, hành Thiền Minh-Sát tại chùa Mahadhatu. Khi được Sukha phát sanh, tìm đến vị Thiền sư bạch rằng "Bạch Ngài, trên 30 năm nay, tôi mới có được an vui như ngày hôm nay khi tôi ngồi thiền. Xin Ngài cho tôi xuất gia." Ðại Ðức Thiền sư khuyên Hành-giả nên tiếp tục hành cho xong. Hiện nay người Mỹ này đã xuất gia và còn tu học tại chùa Mahadhatu, Bangkok.
    4. Passaddhi - Tịnh - Lúc niệm, Hành-giả thấy từ từ nhẹ nhẹ, ít ít, rồi mất, như mê vậy. Hành giả tưởng mình đã đắc đạo quả. Hành-giả tưởng mê là tịnh, là Niết Bàn.
    Tịnh là Thiện pháp, song bởi Hành-giả tham dục, ngã mạn, tà kiến, chấp dính, không tiến tới, cho nên gọi là vi-tế phiền não.
    5. Saddha - Ðức tin - Lúc Hành-giả đang hành Tuệ III, đức tin phát sanh mạnh mẽ. Hành-giả suy tính liên miên, phát tâm muốn làm phước, muốn đền ơn Thầy tổ, muốn trả ơn cho bạn bè đã dìu dắt, chỉ bảo, khuyến khích các người chưa biết Thiền-Minh-Sát, nên hành Thiền-Minh-Sát. Ðức tin là Thiện pháp, nhưng Hành-giả vi tính toán về vị lai, vì để tâm suy nghĩ về quá khứ mà quên hiện tại, không hành cho đến nơi đến chốn. Vì đó mà đức tin biến thành vi tế phiền não.
    6. Paggàha - Tinh tấn - Pháp Tinh Tấn phát sanh, Hành-giả hành hoài, không biết mỏi mệt, không nghỉ ngơi. Hết đi rồi ngồi. Ban đêm cũng ít ngủ. Vì tinh tấn quá mức lại ít ngủ, nên làm Hành-giả kém trí nhớ, có hại cho sức khoẻ. Ðây là vi tế phiền não.
    7. Upatthana - Trí nhớ - Khi trí nhớ phát sanh, Hành-giả tự thấy mình sáng láng, hiểu biết nhiều. Thường thường Hành-giả nhớ tới những chuyện viễn vông ở quá khứ rất rõ ràng, rồi lơ là không tiếp tục hành thiền cho đến tiến hoá. Ðó cũng là vi tế phiền não.
    8. Panna - Tuệ - Tuệ biết chúng sanh là Danh Sắc, không có nhơn, ngã, bỉ thử, thú, người, trời. Nhớ lời Ðức Phật dạy: "Này Mokkharàja, người nên biết rằng thân thể này là vật rỗng không, là vô ngã. Như vậy tử thần theo không kịp". Khi tuệ phát sanh mạnh, nếu Hành giả là người biết Pháp học (Abhidhamma) thường đem đó ra bình phẩm. Hành-giả nghĩ sau này mình sẽ thuyết pháp giỏi, nghĩ chuyện vị lai, bình phẩm cái hiện tại, quên lo hành. Như thế gọi là vi tế phiền não.
    9. Upekkha - Xả - Khi pháp này phát sanh, Hành-giả tự thấy mình có tâm bình thản, không buồn, không vui. Ai làm gì cũng dửng dưng, không thỏa thích, cũng không giận hờn. Có người nghĩ rằng mình đã đắc đạo quả vì không còn phiền não khuấy động. Nghĩ như vậy là sai, vì Hành-giả chưa đắc gì cả.
    10. Nikanti - Vọng - Hành-giả có tâm mong muốn thấy lại các ấn chứng mà mình đã thấy rồi như ánh sáng, rừng, núi, sông, rạch, nhà, cửa, dinh thự. Muốn thấy lại các hình ảnh hoặc đẹp như đàn bà, cô gái hoặc xấu xí như ngạ quỉ, a-tu-la hoặc thú vật. Những người có tánh sân, thường thấy thú dữ hoặc những cảnh đáng ghê sợ. Người có tánh tham, thường thấy cảnh đẹp đẻ. Người có tánh si, thường thấy những cảnh lu mờ không rõ rệt.
    Trong 10 vi tế phiền não vừa kể trên, Hành-giả ít khi có đủ hết 10 phiền não vừa kể trên, mà có một số ít thôi, thí dụ có phỉ lạc, ánh sáng, hoặc pháp an vui.
    Ðại Ðức Thiền Sư giải thích rằng 10 pháp vi tế phiền não này đều là Thiện pháp, vì những pháp này đều có trong 37 Pháp chứng quả Bồ-Ðề. Song đến Tuệ III, Hành-giả thường mắc dính ở đây, do tâm Tham dục, Ngã mạn và Tà kiến; 3 Pháp nầy kết hợp với mỗi pháp vi tế phiền não kể trên, thành ra đến 3 x 10 = 30 Pháp vi tế phiền não.
    Tuệ thứ III là ranh phận của Thiền Chỉ (Samatha) và Thiền Minh-Sát (Vipassana), 95% Hành-giả đều bị kẹt ở đây vì tưởng mình đã hành xong, vì đã đắc đạo quả rồi. Vì tưởng sai nên không tiến tới kết quả thật sự.


    Bạn cứ nhìn vào tuệ thứ ba sẽ thấy Hỷ-lạc- tịnh của tứ thiền hữu sắc ở trong đó, vì vậy có ai hỏi vị arahan :
    - Ngài đã chứng được tứ thiền hay chưa?
    Vị đó chỉ cười.....
    Last edited by ga tê ga tê; 25-02-2013 at 11:22 AM.

  5. #45

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi ga tê ga tê Xem Bài Gởi
    Phần đã post phía trên đã giải thích rõ ràng , ga tê chỉ nêu ý chính như sau:
    An tịnh thân hành bằng cách ta thở vô và thở ra, chánh niệm vẫn là hơi thở vô /ra, nhờ có chánh niệm nầy mà ta an tịnh được thân và chú ý được hành động của thân là ngồi ngay ngắn , lưng thẳng , thả lỏng toàn thân, không gồng và chú ý tới hít vào và thở ra.
    Như vậy trong suốt qua trình thiền, chánh niệm vẫn là “tôi hít vào tôi thở ra” , hoặc “phồng à? xẹp à?” , khi đã quen rồi thì chỉ còn "hít / thở" , "phồng / xẹp" ngoài ra trong tâm không còn một niệm nào khác.
    [/SIZE]
    Bạn gategate bị nhầm rồi. Phần bạn bôi đỏ ''Thân có nghĩa có nghĩa là toàn bộ thân của hơi thở vô và hơi thở ra.''giai đoạn cảm giác toàn thân, chứ có phải là phần an tịnh toàn thân như bạn giải thích đâu. Ngay cả phần an tịnh toàn thân ở đây, trong topic này tôi chưa hề nói đến. Bạn đang nhầm giữa ''cảm giác toàn thân tôi thở vào/ra'' thành ''an tịnh toàn thân tôi thở vào/ra'' ?!
    "Đừng tìm lỗi người. Nếu khi bạn chỉ cho họ thấy sai lầm của họ mà họ vẫn không sửa đổi, hãy để yên như thế. Ajahn Chah"

  6. #46

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi ga tê ga tê Xem Bài Gởi

    Tuy vậy nếu bạn cứ giữ mãi pháp thiền samadhi ( thiền định) mà không chuyển sang thiền quán sát ( vispassana) thì đến một lúc sẽ chẳng bao giờ trở lại thiền quán sát được nữa, do đó khi ở bước tuệ thứ ba là phải thực hành thiền quán sát , lúc đó tâm bạn đã gần như yên ắng , không tầm không tứ chỉ còn đề mục, nên nhiều người có cảm giác sao mình thiền lâu vậy mà chẳng thấy hỷ lạc gì cả , hay tại mình thiền sai, sự thật khi đã đi vào thiền quán sát thì hỷ sẽ qua rất nhanh , ngay sau lúc xả thiền hoặc ở một lúc nào đó trong ngày không phải trong lúc thiền, rồi người ta cảm thấy xung hỷ cực kỳ và vui thích với nó và mong mau mau để đến thời thiền được như vậy nữa , thì nó lại mất , rồi không mong, thì nó lại trở lại, chán rồi họ không còn mong nữa thì nó lại đến rất nhanh và chuyển sang an lạc, ........nhiều khi những trạng thái Hỷ / Lạc nầy không rõ ràng , nhưng họ sẽ thấy một khoảng lặng rất dài của tâm chơn như , rốti hợt một câu nào trong kinh hay sự đàm đạo về pháp mà trước đây họ chưa giải được , họ chợt nhận ra đáp án và miên mật với đề mục nầy .....

    Nếu ai chỉ tu thiền định samatha thì có lẽ khi thành tựu chắn chắn sẽ đến tứ thiền , còn nếu ai tu từ đầu samatha sau khi đã đạt tới một phần tâm chơn như, rồi chuyển sang quán sát thì chắc chắn sẽ từng bước chứng phần thăng theo đạo tuệ 4. 5, 6.....cho tới lúc gặp tuệ cuốn chiếu.....
    Có rất nhiều người đã thực chứng ở đạo tuệ thứ 13 ( tuệ chán nản/cuốn chiếu) và khi họ vượt qua được thì cũng không còn muốn khoe mình nữa, nên các vị cứ tưởng không có ai đắc thiền.Vì khi đó tham sân si chỉ còn vi tế tâm, rất khó thấy, khó nhận ra.

    [/SIZE]

    Bạn cứ nhìn vào tuệ thứ ba sẽ thấy Hỷ-lạc- tịnh của tứ thiền hữu sắc ở trong đó, vì vậy có ai hỏi vị arahan :
    - Ngài đã chứng được tứ thiền hay chưa?
    Vị đó chỉ cười.....
    Trên diễn đàn tôi sẽ tham gia vào topic nào tôi thấy cần tham gia. Khôn lẽ có topic ''Đạo Phật là chán đời'' tôi tham gia vào cũng bảo tôi chán đời sao. Cũng vậy, ở đây topic là về thiền Niệm hơi thở anapanasati (bạn nên xem lại chủ đề nhé) tôi tham gia chẳng lẽ là tôi NẮM GIỮ MÃI thiền Định sao ? Cảm ơn bạn đã lo lắng cho tôi. Còn tôi thì lo lắng cho chủ topic và một số bạn đọc sẽ bị bị nhầm trong các tiến trình thiền hơi thở nên mới có bài viết ở đây.

    Trờ lại vấn đề bạn đã không trả lời được dòng bôi đỏ về câu hành giả bị ket ở Tuệ thứ 3 giữa Định và Tuệ mà lại trích lại trong bài viết. Việc này cũng dễ hiểu thôi. Bạn chưa co kinh nghiệm về Thiền nhưng lại bê sách vở sao chép ra cho rằng đấy là cái biết của bạn nhưng lại không ăn nhập gì vào THÂN và TÂM bạn nến cái biết này không giúp gì được cho bạn hay người khác vì khi có người hỏi lại bạn không thể trả lời rõ ràng. Lại lấy trích dẫn này cho trả lời kia...

    Các loại Phỉ lạc (HỶ, Lạc) mà bạn bôi to đó bạn đã từng được trải nghiệm chưa ? Bạn có hiểu không ? Bạn có biết PHỉ lạc bạn trích dẫn ghép từ 2 từ HỶ và Lạc không ? Hỷ là gì và Lạc là gì bạn có biết không ? Hỷ, Lạc trong thiền Định và Hỷ, Lạc trong thiền Tuệ khác nhau chỗ nào bạn có biết không ? Chẳng ai đến với đạo Phật mà chỉ đi học Giới-Định (thiền Định) mà bỏ Tuệ (thiền Tuệ). Nên lời khuyên của bạn cho ai đến với đạo Phật nắm giữ Định là thừa. Việc này ví như người võ sĩ thượng đài giành giải với vài mớ rau. Nhờ có ĐỊNH vững chắc nên cái Tuệ có được của họ mới là SỰ THẬT chứ không phải ảo tưởng. Họ biết đoạn nào chỗ nào lý thuyết đúng, sai, thừa, thiếu. chỗ nào căn cơ nào phù hợp, không phù hợp .Việc này y như người bác sĩ lâu năm kê bênh bốc thuốc đầy kinh nghiệm khác với vị bác sĩ tập sự kê thuốc đến đâu phải tra từ điển đến đó đó là chưa nói về kinh nghiệm khám bệnh.

    Tại sao các tầng thiền Tuệ không được bàn đến trong toàn bộ 5 bộ kinh Pali ngoài kinh Trạm Xe bạn có biết không ? Tại sao trong kinh Tứ Niệm Xứ , Đức Phật tuyên bố đây là con đường độc nhất dẫn đến chứng ngộ Chánh trí mà không phải ở kinh khác và cũng không có ở kinh Trạm Xe (nói về 7 tầng tuệ Minh sát) bạn có biết không ? Bạn hãy thực hành thiền Tứ Niệm Xứ bạn sẽ có câu trả lời.

    * Ghi chú: Thiền Tứ Niệm Xứ là thiền Đinh-Tuệ song hành. Định trong Tuệ và Tuệ trong Định. Hành giả vào Định trước bằng Niệm hơi thở (niệm thân) qua 4 bước rồi sau đó bước vào thiền Tuệ. Tuệ này của hành giả gọi là Tuệ trong Định. Định này gọi là Định trong Tuệ hay định trong từng sát -na.

    Đức Phật đã từng nói có Niết Bàn nhưng không có người chứng Niết Bàn. Ai đó cho mình đến tầng Tuệ này nọ tức là họ chưa chứng được tuệ Tam Tướng vì có đặc tinh Vô Ngã (ko có chúng sinh ngoài năm uẩn hợp thành). Ngay cả sự khiêm tốn (thấy cái tôi nhỏ bé) hay khoe khoang (thấy cái tôi hiểu biết) đều là có tôi có ngã rồi. Chúng ta sống trong Tục Đế nên nói theo cái quy ước, nói theo cái THẤY BIẾT trong tương đối với quan niệm :''Biết mà không nói là bất nhân, nói mà không biết là bất nghĩa''. Nghĩa là bạn lấy NHÂN và NGHĨA mà nói thì chẳng có gì ngăn ngại cả.
    Last edited by delightdhamma; 25-02-2013 at 12:19 PM.
    "Đừng tìm lỗi người. Nếu khi bạn chỉ cho họ thấy sai lầm của họ mà họ vẫn không sửa đổi, hãy để yên như thế. Ajahn Chah"

  7. #47

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi delightdhamma Xem Bài Gởi
    hì hì, bạn nói thì không đúng rồi, có gì sai nhưng mà trúng
    hì hì, bạn nói thì chẳng đúng rồi, chẳng k gì sai nhưng mà chẳng trật
    hì hì, bạn nói thì cũng chẳng đúng, cũng chẳng không đúng, cũng sai, cũng chẳng k có gì sai nhưng mà cũng chẳng trật, cũng chẳng không trật.

    * Ghi chú: Học mót đoạn trên từ ngài Mã Tổ. (Tứ cú, bách phi) :)
    hì hì, mình nói trật ở đây có nghĩa là ví dụ như người ta hỏi bạn ăn cơm chưa, bạn lại trả lời là tôi uống nước rồi, thế gọi là trật, chú ý câu hỏi của người đệ tử : - làm thế nào để con có thể nhập thiền

    công án này rất hay, hiểu nó sẽ thấy được cổng vào của thiền

  8. #48

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi fengtumz Xem Bài Gởi
    hì hì, mình nói trật ở đây có nghĩa là ví dụ như người ta hỏi bạn ăn cơm chưa, bạn lại trả lời là tôi uống nước rồi, thế gọi là trật, chú ý câu hỏi của người đệ tử : - làm thế nào để con có thể nhập thiền

    công án này rất hay, hiểu nó sẽ thấy được cổng vào của thiền
    Bạn tham khảo thêm ở đây nhé không thì lại TRẬT CHỦ ĐỀ CỦA TOPIC

    http://www.thegioivohinh.com/diendan...d.php?t=123265

    http://www.thegioivohinh.com/diendan...d.php?t=431306

    http://www.thegioivohinh.com/diendan...d.php?t=430323
    Last edited by delightdhamma; 25-02-2013 at 12:33 PM.
    "Đừng tìm lỗi người. Nếu khi bạn chỉ cho họ thấy sai lầm của họ mà họ vẫn không sửa đổi, hãy để yên như thế. Ajahn Chah"

  9. #49

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi delightdhamma Xem Bài Gởi
    ồ, hem có trật đâu là hem có trật đâu bạn à, mình đi sát chủ đề đó chứ, hì hì, chủ đề ở đây là niệm hơi thở có đúng k ? mình đi sát đến từng chữ luôn

    những cái link này nói chung là có thể có chỗ sai, có thể có chỗ đúng, nhưng mà trật, hì hì

    mà cho dù bạn có đem hết link của cả vạn quyển kinh phật ra đây thì nói chung cũng có chỗ sai, cũng có chỗ đúng, nhưng mà trật:kiss:

    túm lại, bạn chưa nắm được cốt tủy của cái công án này
    mình đã đem công án này đi thử rất nhìu người, nói chung là người ta cũng trả lời y như bạn vậy, chưa có ai thực sự nắm được nó cả.
    Last edited by fengtumz; 25-02-2013 at 05:30 PM.

  10. #50

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi fengtumz Xem Bài Gởi
    ồ, hem có trật đâu là hem có trật đâu bạn à, mình đi sát chủ đề đó chứ, hì hì

    những cái link này nói chung là có thể có chỗ sai, có thể có chỗ đúng, nhưng mà trật, hì hì

    mà cho dù bạn có đem hết link của cả vạn quyển kinh phật ra đây thì nói chung cũng có chỗ sai, cũng có chỗ đúng, nhưng mà trật:kiss:

    túm lại, bạn chưa nắm được cốt tủy của cái công án này
    mình đã đem công án này đi thử rất nhìu người, nói chung là người ta cũng trả lời y như bạn vậy, chưa có ai thực sự nắm được nó cả.
    Xin chúc mừng bạn nhé. Bạn và thầy bạn có thể lập dòng phái riêng và xưng là Tổ truyền pháp được rồi. Hoan hỷ trong thời mạt pháp này có được những người như vậy.:thumbs_up:.

    À tiện đây xin hỏi bạn về công án: ''Tại sao con gà nó lại gáy, con chó sủa gâu gâu, con vịt nó kêu cạc các mà không phải là ngược lại nhỉ ?''.
    "Đừng tìm lỗi người. Nếu khi bạn chỉ cho họ thấy sai lầm của họ mà họ vẫn không sửa đổi, hãy để yên như thế. Ajahn Chah"

  11. #51

    Mặc định

    Vì vậy khi Đức Phật nói về bước thực tập đầu tiên Ngài dùng thì hiện tại
    ” Khi thở vào một hơi dài, vị ấy biết tôi đang thở vào một hơi dài. Khi thở ra một hơi dài, vị ấy biết tôi đang thở ra một hơi dài. Khi thở vào một hơi ngắn, vị ấy biết tôi đang thở vào một hơi ngắn. Khi thở ra một hơi ngắn, vị ấy biết tôi đang thở ra một hơi ngắn”
    Trong các bước thứ nhất và thứ hai vừa rồi, hành giả cũng cần có những kiến thức về hơi thở nhưng những kiến thức này rất cơ bản, rất đơn giản và dễ có thể làm được. Ngược lại ở bước thứ ba là cảm giác toàn thân hơi thở hành giả phải bắt đầu phát triển sự hiểu biết sâu sắc hơn về hơi thở ra-vào.

    Ở bước thứ ba hành giả phải có đầy đủ giới định tuệ tức là sự hiểu biết về hơi thở, bởi những bước tiếp theo sẽ rất khó thực hiện giống như một người đi trên cạnh sắc của lưỡi dao vậy. Vì vậy để nhấn mạnh sự cần thiết của sự tinh tấn và nổ lực Đức Phật đã dùng thì tương lai trong câu, ” Cảm giác toàn thân hơi thở tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. Cảm giác toàn thân hơi thở tôi sẽ thở vô, vị ấy tập”.

    Nếu thực hành đúng theo cách này tức là biết và cảm nhận toàn thân hơi thở từ đầu đến cuối thì nimitta sẽ xuất hiện. Nhưng điều rât phổ biến là ngay khi hành giả có nimitta họ thường chuyển tâm mình trú sang nimitta thì nó sẽ biến mất ngay. Tại sao lại như vậy? Vì lúc đó hành giả chuyển sang một đề mục mới trong khi đáng lẽ họ phải chờ cho đến lúc nimitta và hơi thở chập lại thành một. Cho nên khi nimitta xuất hiện các hành giả cần phải rất kiên nhẫn, hãy chú tâm vào hơi thở từ đầu đến cuối và phớt lờ không chú ý đến nimitta. Nếu hành giả ngồi một tiếng đồng hồ liên tục và nhẹ nhàng hay biết toàn thân hơi thở mà nimitta vẫn chưa xuất hiện thì hành giả hãy chuyển sang bước thư tư. Bước thứ tư là an tịnh thân hành tôi sẽ xin giảng trong tối ngày hôm nay.

    Tôi xin dứt lời tại đây.
    ............................................là cảm nhận toàn hơi thở từ điểm đầu tới điểm cuối.

  12. #52

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi ga tê ga tê Xem Bài Gởi
    ............................................là cảm nhận toàn hơi thở từ điểm đầu tới điểm cuối.
    Bạn có thấy bài pháp này sai lầm ở chỗ nào không ? Bạn có thể đặt tâm ở điểm xúc chạm, rồi lại duy trì trì tâm ở 3 đoạn khác nữa không ? Đức Phật nói hãy suy xét kể cả lời 1 đạo sư xem nó có đúng và có lợi ích khi áp dụng hay không ?

    Bây giờ tôi chỉ giúp bạn nhé: ABC là mô phỏng về điểm đầu A, giữa B và cuối C của hơi thở vào. M là điểm xúc chạm, tôi để M trong ngoặc kép (M).

    C-----(M)----B---------->A

    Vì (M) là điểm xúc chạm của thân với hơi thở nên chỉ có một tâm duy nhất đặt ở (M) khi hơi ra vào. Nếu bạn duy trì tâm ở (M) nhưng bạn lại phải tưởng nhớ tới đầu hơi thở A khi hơi thở đã đi qua M, rồi lại tưởng nhớ hơi thở ở B mà lại phải ĐOÁN là B ở giữa hơi thở AC cho dù C chưa thấy vì C chưa đên cửa mũi (M). Làm sao bạn có thể biết đoạn giữa hơi thở B ở khoảng giữa của cả đoạn hơi thở AC vì C chưa đến M tức là bạn chưa thở vào trọn vẹn ? Ngay khi bạn thở trọn vẹn thì bạn chỉ biết đoạn cuối C của hơi thở khi C ở điểm xúc chạm M (C trùng với M). Lúc này nếu bạn nhớ được cả B và A thì sự nhớ này là TƯỞNG TƯỢNG không có thật. Bây giờ bạn thử ngồi tập thở vào, bạn sẽ thấy khi bạn biết điểm đến cuối hơi thở C thì đoạn đầu A và đoạn giữa B của hơi thở sẽ không thấy biết đựợc nữa, nếu tồn tại bạn rơi vào tưởng tượng mà thôi.

    Có một lời khuyên tôi khuyên bạn là lấy THÂN và TÂM này làm giáo pháp, làm thực nghiệm vì chính thân và tâm này tạo Nhân và trả Quả theo duyên nghiệp chứ không phải cuốn sách hay vị thầy dạy thiền. Tôi xin nhấn mạnh RẤT, RẤT, RẤT nhiều thầy dạy sai phàp hành trong thời mạt pháp. Hãy học đạo thông minh bạn à ! Nếu bạn gặp phải cuốn dạy thiền nào không đúng hay sai lạc hay dạy vòng vo thì bỏ nó đi cho lành. Hãy biết tập giải phóng tư tưởng hay thân tâm ra khỏi những cuốn sách như vậy trước khi học thiền.

    THIỀN là gì ? Là 1. Thấy và 2. Biết 3. Ở Đây và 4. Bây Giờ đó gọi là THỰC TẠI. Thiền là Thấy và Biết thực tại, đối tượng được thấy, biết phải ở đây và bây giờ.Cái gì do Tưởng sinh lên ngoài 4 yếu tố này nó không được gọi là thiền nữa.

    Khi điểm C được xác định thì điểm B và A đã: Không Thấy (1), Không Biết (2), Không Ở đây (3) tức là ở điểm xúc chạm M, Không Bây Giờ (4) vì nó không có mặt ở điểm M khi C có mặt.

    Việc xác định đọan giữa hơi thở hoàn toàn là TƯỞNG sinh lên vì bạn không thể xác định được nó khi hơi thở chưa kết thúc. Mà kết thúc rồi bạn cũng không xác định được nó vì nếu xác định thì thuôc về TƯỞNG và đánh mất điểm xúc chạm.[/B]

    * Một điều hết sức ngây ngô về ngôn từ thôi, chưa nói về kinh nghiệm thiền. Đức Phật dạy cảm giác toàn thân ta thở vào/ra thì lại cho rằng cảm giác thấy toàn bộ đoạn đầu, giữa và cuối hơi thở. Với lý luận như vậy thì khi chuyển sang ''An tịnh toàn thân'' là an tịnh hơi thở, sao không thấy vị đó lý luận như vậy nữa ???!!!.
    Last edited by delightdhamma; 25-02-2013 at 08:02 PM.
    "Đừng tìm lỗi người. Nếu khi bạn chỉ cho họ thấy sai lầm của họ mà họ vẫn không sửa đổi, hãy để yên như thế. Ajahn Chah"

  13. #53

    Mặc định

    Bài thuyết pháp nầy là bài pháp thuyết tối 15 tháng 9 năm 2008 của Thày Dhammapala.
    Khóa thiền từ ngày 14 tháng 9 năm 2008 đến ngày 23 tháng 9 năm 2008
    Chuyển ngữ: Cô Viên Hương, cô Nguyệt Minh
    Chuyển thành văn bản: Tu nữ Santa Citta

    Ga tê chỉ đọc và tham khảo mà không hành theo, ga tê chỉ thiền theo 16 tuệ quán sát

  14. #54

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi ga tê ga tê Xem Bài Gởi
    Bài thuyết pháp nầy là bài pháp thuyết tối 15 tháng 9 năm 2008 của Thày Dhammapala.
    Khóa thiền từ ngày 14 tháng 9 năm 2008 đến ngày 23 tháng 9 năm 2008
    Chuyển ngữ: Cô Viên Hương, cô Nguyệt Minh
    Chuyển thành văn bản: Tu nữ Santa Citta

    Ga tê chỉ đọc và tham khảo mà không hành theo, ga tê chỉ thiền theo 16 tuệ quán sát
    Tôi có biết bài bạn trích dãn này từ đâu rồi. Tôi không nói đến cá nhân hay tập thể. Tôi chỉ quan tâm đến pháp hành. Vì tất cả đều là Pháp mà thôi. Hành đúng thì giải thoát, không hành đúng thì bị kẹt cho dù mặc áo tu sĩ, cư sĩ, thiền sư, thiền sinh vì tận cùng chẳng có ai cả. Trong pháp hành Minh Sát vị thiền sư chỉ nguyện kiếp sau là một tỳ kheo cũng đã là vô minh rồi.

    Tóm lại học thiền có 4 yếu tố quan trọng:

    1. Vị thầy thích hợp
    2. Pháp hành thích hợp
    3. Trú xứ thích hợp
    4. Bạn đạo thích hợp

    Tôi thường khuyên những người tôi biết học thiền thì nên đi học vài vị thầy, vài trường thiền rồi chuyên tâm hành Thiền Tứ Niệm Xứ để dứt trừ nghi ngờ về pháp Hành.
    "Đừng tìm lỗi người. Nếu khi bạn chỉ cho họ thấy sai lầm của họ mà họ vẫn không sửa đổi, hãy để yên như thế. Ajahn Chah"

  15. #55

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi ga tê ga tê Xem Bài Gởi

    Ga tê chỉ đọc và tham khảo mà không hành theo, ga tê chỉ thiền theo 16 tuệ quán sát
    16 Tuệ Minh Sát được khai triển từ 7 Tuệ Minh Sát trong kinh Trạm Xe. Nó ví như hành giả thiền Tuệ đi qua lần lượt từng trạm xe, mỗi trạm xe làm một tầng tuệ.

    Vậy muốn đi đến các tram xe tầng tuệ đó, vị hành giả phải có xe đi (là đối tượng thiền Tuệ là thân, thọ, tâm, pháp) và cách lái xe (tu tập giới, định). Giới ví như đổ xăng cho xe, định ví như người lái xe trong trạng thái toản mái để lái chiếc xe thân-thọ-tâm-pháp đi qua các trạm xe.

    Vậy nên nếu không có giới và định cùng với đối tượng thiền Tuệ (thân, thọ, tâm, pháp) thì việc đến các tầng Tuệ minh sát là tưởng tượng mà thôi. Ví như ta có bản đồ đi đến tháp Aicaajp nhưng ta không có phương tiện và nhiên liệu và hành trang đến rồi ta cho rằng ta đến đó rồi.

    Việc giảng giải 16 Tuệ Minh Sát là cần thiết trong thời mạt pháp cho người tu được hoan hỷ nhưng cũng thêm khó khăn cho người tu. Vì họ nhận lầm pháp Chế Định thành Chân Đế. Trong thiền Minh Sát, chủ thể và đối tượng là pháp Hiệp Thế và Siêu Thế tức là pháp Chân Đế không qua khái niệm. Nhưng này giảng giải ra trở thành khái niệm. Đối tượng khái niệm thì sẽ rơi vào TƯỞNG về khái niệm và đánh rơi thực tại. Vì trên khái niệm thì 16 tầng Tuệ đó mới tồn tại. Còn tận cùng thì không thể khái niệm được các tầng Tuệ đó vì chỉ thuần khiết sự THẤY và BIẾT suông mà không có bóng dáng của Tưởng trong đó.
    "Đừng tìm lỗi người. Nếu khi bạn chỉ cho họ thấy sai lầm của họ mà họ vẫn không sửa đổi, hãy để yên như thế. Ajahn Chah"

  16. #56

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi delightdhamma Xem Bài Gởi
    Xin chúc mừng bạn nhé. Bạn và thầy bạn có thể lập dòng phái riêng và xưng là Tổ truyền pháp được rồi. Hoan hỷ trong thời mạt pháp này có được những người như vậy.:thumbs_up:.

    À tiện đây xin hỏi bạn về công án: ''Tại sao con gà nó lại gáy, con chó sủa gâu gâu, con vịt nó kêu cạc các mà không phải là ngược lại nhỉ ?''.
    hì hì, gặp phật giết phật, gặp tổ giết tổ bạn à, trong lòng người tu hành luôn có một ông phật đấy, bạn phải giết ổng đi, bạn hỉu hem, mà k riêng gì bạn, mình thấy nhìu người pro phật giáo nguyên thủy trong này trong lòng đều có phật:kiss:
    Last edited by fengtumz; 25-02-2013 at 10:57 PM.

  17. #57

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi fengtumz Xem Bài Gởi
    hì hì, gặp phật giết phật, gặp tổ giết tổ bạn à, trong lòng người tu hành luôn có một ông phật đấy, bạn phải giết ổng đi, bạn hỉu hem, mà k riêng gì bạn, mình thấy nhìu người pro phật giáo nguyên thủy trong này trong lòng đều có phật:kiss:
    Tôi đã có bài phân tích tại sao Thiền Tông không còn truyền thừa nữa vì những người như bạn đó. Nói lý thì to tát , nhưng sự thì như đầu tăm. Bạn lấy lời của Lâm Tế (lý) nhưng Sự thì vẫn đang nương tụa vào chính câu nói này. Sao bạn không giết luôn câu nói đó để xứng đáng là học trò của Thiền Tông để Lý và Sự viên dung ! Thiền Tông ví kẻ bắt chiếc, nói lại như những kẻ khóc mà dỗ mãi không chịu nín.

    Giáo lý dạy thiền Nguyên Thủy, Đức Phật và các A La Hán chưa từng dạy ai la, hét, dánh , đập, chặt rắn, chém mèo (nghiệp sát sanh), hay dạy đạo nói năng kiểu gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ(khảu nghiệp). Bạn đừng bắt chiếc mà nghiệp tạo cho bản thân thêm nặng. Thiền Tông khuyến cáo kẻ bắt chiếc lời Tổ mà tâm chưa đến là nghiệpp đọa đia ngục, xin hãy bảo trọng :not_worthy:
    Last edited by delightdhamma; 25-02-2013 at 11:13 PM.
    "Đừng tìm lỗi người. Nếu khi bạn chỉ cho họ thấy sai lầm của họ mà họ vẫn không sửa đổi, hãy để yên như thế. Ajahn Chah"

  18. #58

    Mặc định

    hì hì, đấy là lời mình, hem phải lời tổ, mình nói đấy :*
    mình cũng chẳng muốn nói đến thiền tông làm gì, chỉ là bạn chưa nắm được ý nghĩa của cái câu : con có nghe thấy tiếng suối xa k ? rồi trích ra thật nhiều điều giải thích về thực tại, rồi về tự nhiên, nói chung là về đủ thứ, ừa thì giải thích cũng đúng nhưng mà trật ... đề, vậy thôi:*

  19. #59

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi fengtumz Xem Bài Gởi
    hì hì, đấy là lời mình, hem phải lời tổ, mình nói đấy :*
    mình cũng chẳng muốn nói đến thiền tông làm gì, chỉ là bạn chưa nắm được ý nghĩa của cái câu : con có nghe thấy tiếng suối xa k ? rồi trích ra thật nhiều điều giải thích về thực tại, rồi về tự nhiên, nói chung là về đủ thứ, ừa thì giải thích cũng đúng nhưng mà trật ... đề, vậy thôi:*
    Hi hi vậy thôi ! Tớ cũng có công án tiếng con gà gáy, vịt kêu đang chờ cao thủ Thiền Tông đấy, vậy thôi hi hi.
    "Đừng tìm lỗi người. Nếu khi bạn chỉ cho họ thấy sai lầm của họ mà họ vẫn không sửa đổi, hãy để yên như thế. Ajahn Chah"

  20. #60

    Mặc định

    nói chung vòng vo, vòng vo mãi, nhưng mà chỉ túm lại một câu như ban đầu : bạn nói thật là đúng, nhưng mà trật ... đề rồi :kiss:
    mình k bận tâm đến vịt kêu, gà kêu hay chó sủa đâu bạn:kiss:
    Last edited by fengtumz; 25-02-2013 at 11:21 PM.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 622
    Bài mới gởi: 06-11-2016, 11:10 PM
  2. Tài liệu Tịnh Độ cho những người nhập môn!
    By Nhất Niệm in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 17
    Bài mới gởi: 23-04-2013, 04:44 AM
  3. Vãng sanh Tịnh Độ
    By semus9x in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 5
    Bài mới gởi: 01-01-2013, 11:56 AM
  4. Bốn Mươi Tám Pháp Niệm Phật
    By micronbmt in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 06-04-2012, 01:09 PM
  5. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 09-09-2011, 11:38 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •