Trước khi chư Phật thị hiện, chư Pháp không giảm.
Sau khi chư Phật thị hiện, chư Pháp không tăng.
Như vậy gọi là Đồng!
:)
http://2.bp.blogspot.com/-6pdoaW4Ymy...ndfulness1.jpg
Hỏi: Thân hiện tại này dựa vào đâu được hình thành?
Đáp: Đã nói là vô thỉ thì làm sao có chỗ dựa? Như trong Kinh Lăng Nghiêm,
Phú Lâu Na hỏi Phật: “Trong Như Lai Tạng vốn là trong sạch, tại sao bỗng hiện núi sông đất đai, tất cả chúng sanh sanh rồi diệt, diệt rồi sanh?”
Phật bảo:”Đã nói là vọng thì chẳng thể có tại sao, vọng chẳng có nhân, nếu có tại sao tức chẳng phải vọng.” Phật chỉ trả lời như thế.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:cow:
http://www.bobiasg.com/wp-content/up...goisaonoel.jpg
Hỏi: Tất cả pháp đều qui về một để đưa chúng con đi về chỗ giải thoát, phải không?
Đáp: Phải. Một là một tâm, nói chung là tâm. Vạn pháp duy tâm, phàm tất cả kinh Phật đều hiển bày tâm này, chư Tổ cũng là hiển bày tâm này. Con người mỗi mỗi đều có cái tâm, tất cả năng lượng xuất phát từ tâm. Ngài Lục Tổ trong Kinh Pháp Bảo Đàn nói thẳng ra:”Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, là tâm của ông động.”Do sức của tâm nên gió mới động, phướn mới động, nên nói “nhất thiết duy tâm tạo.”
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
stop 1
http://d.f6.photo.zdn.vn/upload/orig...67_574_574.jpg
Kệ truyền pháp của chư Phật, Tổ Sư
________________________________________
Đức Phật Tỳ Bà Thi
"Thân tùng vô tướng trung thụ sinh
Do như huyễn xuất chư hình tượng
Huyễn nhân tâm thức bổn lai vô
Tội phước giai không vô sở trụ".
"Thân từ trong vô tướng sinh ra
Giống như huyễn sinh các hình tượng
Tâm thức người huyễn vốn là không
Tội phước đều không chẳng chỗ nương".
Đức Phật Thi Khí
Khởi các thiện pháp bổn thị huyễn
Tạo chư ác nghiệp diệc thị huyễn
Thân như tụ mạc tâm như phong
Huyễn hoá vô căn vô thật tính.
"Khởi các pháp lành vốn là huyễn
Tạo các nghiệp ác cũng là huyễn
Thân như bọt tụ tâm như gió
Huyễn hoá không gốc không thật tính".
Đức Phật Tỳ Xá Phù
Giả tạ tứ đại dĩ vi thân
Tâm bổn vô sinh nhân cảnh hữu
Tiền cảnh nhược vô tâm diệc vô
Tội phước như huyễn khởi diệc diệt.
Giả mượn bốn đại dùng làm thân
Tâm vốn không sinh do cảnh có
Nếu cảnh trước không tâm cũng không
Tội phước như huyễn khởi cũng diệt.
Đức Phật Câu Lưu Tôn
Kiến thân vô thật thị Phật thân
Liễu tâm như huyễn thị Phật huyễn
Liễu đắc tâm thân bổn tính không
Tư nhân dữ Phật hà thù biệt.
Thấy thân không thật là thân Phật
Rõ tâm như huyễn là Phật huyễn
Rõ được thân tâm tánh vốn không
Người đó với Phật nào khác gì.
Đức Phật Ca Diếp
Nhất thiết chúng sinh tánh thanh tịnh
Tùng bổn vô sinh vô khả diệt
Tức thử thân tâm thị huyễn sinh
Huyễn hoá chi trung vô tội phước.
Hết thảy chúng sinh tánh thanh tịnh
Do gốc không sinh không thể diệt
Tức thân tâm nầy là huyễn sinh
Ở trong huyễn hoá chẳng tội phước.
Phật Thích Ca Mâu Ni
Pháp bổn pháp vô pháp
Vô pháp pháp diệc pháp
Kim phó vô pháp thời
Pháp pháp hà tằng pháp
Pháp, gốc pháp không pháp
Không pháp, pháp cũng pháp
Nay lúc truyền không pháp
Pháp, pháp chưa từng pháp.
Tây Thiên Sơ Tổ Đại Ca Diếp
Pháp pháp bổn lai pháp
Vô pháp vô phi pháp
Hà ư nhất pháp trung
Hữu pháp hữu phi pháp
Pháp, pháp vốn là pháp
Chẳng pháp, chẳng không pháp
Sao ở trong một pháp
Có pháp có phi pháp.
Tây Thiên Tổ thứ hai Tôn Giả A Nan
Bổn lai phó hữu pháp
Phó liễu ngôn vô pháp
Cá cá tu tự ngộ
Ngộ liễu vô vô pháp.
Bổn lai phó có pháp
Phó rồi nói không pháp
Mỗi mỗi phải tự ngộ
Ngộ rồi chẳng không pháp.
Tây Thiên Tổ thứ ba Tôn Giả Thương Na Hoà Tu
Phi pháp diệc phi tâm
Vô tâm diệc vô pháp
Thuyết thị tâm pháp thời
Thị pháp phi tâm pháp.
Chẳng pháp cũng chẳng tâm
Không tâm cũng không pháp
Khi nói tâm pháp thời
Là pháp chẳng tâm pháp.
Tây Thiên Tổ thứ tư Ưu Ba Cúc Đa
Tâm tự bổn lai tâm
Bổn tâm phi hữu pháp
Hữu pháp hữu bổn tâm
Phi tâm phi bổn pháp.
Tự tâm vốn là tâm
Bản tâm chẳng có pháp
Có pháp có bản tâm
Chẳng tâm chẳng bản pháp.
Tây Thiên Tổ thứ năm Đề Đa Ca Tôn Giả
Thông đạt bổn tâm pháp
Vô pháp vô phi pháp
Ngộ liễu đồng vị ngộ
Vô tâm diệc vô pháp.
Thông đạt gốc tâm pháp
Không pháp chẳng không pháp
Ngộ rồi đồng chưa ngộ
Không tâm cũng không pháp.
Tây Thiên Tổ thứ sáu Di Giá Ca Tôn Giả.
Vô tâm vô khả đắc
Thuyết đắc bất danh pháp
Nhược liễu tâm phi tâm
Thuỷ liễu tâm tâm pháp.
Không tâm không thể đắc
Nói đắc chẳng gọi là pháp
Nếu rõ tâm chẳng phải tâm
Trước hết rõ tâm tâm pháp.
Tây Thiên Tổ thứ bảy Bà Tu Mật Tôn Giả.
Tâm đồng hư không giới
Thị đẳng hư không pháp
Chứng đắc hư không thời
Vô thị vô phi pháp.
Tâm đồng cõi hư không
Hiện đồng pháp hư không
Khi chứng được hư không
Chẳng phải chẳng không pháp.
Tây Thiên Tổ thứ tám Phật Đà Nan Đề Tôn Giả.
Hư không vô nội ngoại
Tâm pháp diệt như thử
Nhược liễu hư không cố
Thị đạt chân như lý.
Hư không chẳng trong ngoài
Tâm pháp cũng như vậy
Nếu thấu rõ hư không
Thông đạt lý chân như.
Tây Thiên Tổ thứ chín Phục Đà Mật Đa Tôn Giả.
Chân lý bất vô danh
Nhân danh hiển chân lý
Thọ đắc chân thật pháp
Phi chân diệc phi nguỵ.
Chân lý đâu chẳng tên
Do tên hiển chân lý
Thọ được pháp chân thật
Chẳng thật cũng chẳng giả.
Tây Thiên Tổ thứ mười Hiếp Tôn Giả.
Chân thật tự nhiên chân
Nhân chân thuyết hữu lý
Lãnh đắc chân chân pháp
Vô hành diệc vô chỉ.
Thể thật tự nhiên thật
Do thật nói có lý
Lãnh được pháp chân thật
Không hành cũng không ngừng.
Tây Thiên Tổ thứ mười một Phú Na Dạ Xà Tơn Giả
Mê ngộ như ẩn hiển
Minh ám bất tương ly
Kim phó ẩn hiển pháp
Phi nhất diệt phi nhị.
Mê ngộ như ẩn hiển
Sáng tối khơng lìa nhau
Nay truyền pháp ẩn hiển
Chẳng một cũng chẳng hai.
Tây Thiên Tổ thứ mười hai Tôn Giả Mã Minh
Ẩn hiển tức bổn pháp
Minh ám nguyên bất nhị
Kim phó ngộ liễu pháp
Phi thủ diệc phi ly.
Ẩn hiện tức pháp gốc
Sáng tối vốn không hai
Nay truyền pháp tỏ ngộ
Chẳng lấy cũng chẳng lìa.
Tây Thiên Tổ thứ mười ba Tôn Giả Ca Tỳ Ma La
Phi ẩn phi hiển pháp
Thuyết thị chân thật tế
Ngộ thử ẩn hiển pháp
Phi ngu diệc phi trí.
Pháp chẳng ẩn chẳng hiện
Nói đó chân thật tế
Ngộ pháp ẩn hiện nầy
Chẳng ngu cũng chẳng trí.
Tây Thiên Tổ thứ mười bốn Bồ Tát Long Thọ.
Vi minh ẩn hiển pháp
Phương thuyết giải thoát lý
Ư pháp tâm bất chứng
Vô sân diệc vô hỷ.
Vì rõ pháp ẩn hiển
Mới nói lý giải thoát
Nơi pháp tâm chẳng chứng
Không giận cũng không vui.
Tây Thiên Tổ thứ mười lăm Tôn giả Ca Na Đề Bà
Bổn đối truyền pháp nhân
Vi thuyết giải thoát lý
Ư pháp thật vô chứng
Vô chung diệc vô thuỷ.
Vốn đối người truyền pháp
Vì nói lý giải thoát
Nơi pháp thật không chứng
Không đầu cũng không cuối.
Tây Thiên Tổ thứ mười sáu Ðại sĩ La Hầu La Ða
Ư pháp thật vô chứng
Bất thủ diệc bất ly
Pháp phi hữu vô tướng
Nội ngoại vân hà khởi.
Nơi pháp thật không chứng
Không lấy cũng không lìa
Pháp chẳng có vô tướng
Trong ngoài sao lại khởi.
Tây Thiên Tổ thứ mười bảy Tăng Già Nan Đề.
Tâm địa bổn vô sanh
Nhân địa tùng duyên khởi
Duyên chủng bất tương phương
Hoa quả diệc phục nhĩ.
Ðất tâm vốn không sinh
Nhân đất từ duyên khởi
Duyên, giống không ngại nhau
Hoa quả cũng như thế.
Tây Thiên Tổ thứ mười tám Già Na Xá Ða
Hữu chủng hữu tâm địa
Nhân duyên đắc phát manh
Ư duyên bất tương ngại
Đương sanh sanh bất sanh.
Có giống có đất tâm
Nhân duyên nảy mầm pháp
Với duyên chẳng ngại nhau
Sẽ sanh sanh chẳng sanh.
Tây Thiên Tổ thứ mười chín Cưu Ma La Ða
Tánh thượng bổn vô sanh
Vi đối cầu nhân thuyết
Ư pháp tức vô đắc
Hà hoài quyết bất quyết.
Trong tánh vốn không sinh
Vì đối người cầu nói
Nơi pháp tức không đắc
Sao nhớ quyết chẳng quyết.
Tây thiên Tổ thứ hai mươi Xà Da Ða tôn giả.
Ngôn hạ hợp vô sanh
Đồng ư pháp giới tánh
Nhược năng như thị giải
Thông đạt sự lý cánh.
Nói ra hợp vô sanh
Ðồng với tánh pháp giới
Nếu hiểu được như vậy
Thông đạt hết sự lý !
Tây thiên tổ thứ hai mươi mốt Bà Tu Bàn Ðầu
Phao huyễn đồng vô ngại
Như hà bất liễu ngộ
Đạt pháp tại kỳ trung
Phi kim diệc phi cổ.
Bọt huyễn đồng không ngại
Sao lại không tỏ ngộ
Rõ pháp ở bên trong
Chẳng nay cũng chẳng xưa.
Tây thiên tổ thứ hai mươi hai Ma Noa La
Tâm tuỳ vạn cảnh chuyển
Chuyển xứ thật năng u
Tuỳ lưu chứng đắc tánh
Vô hỷ diệc vô ưu.
Tâm theo vạn cảnh chuyển
Nơi chuyển thật ẩn được
Theo dòng nhận được tánh
Không vui cũng không buồn.
Tây thiên Tổ thứ hai mươi ba Hạc Lặc Na tôn giả
Nhẫn đắc tâm địa thời
Bất thuyết bất tư nghì
Liễu liễu vô khả đắc
Đắc thời bất thuyết tri.
Khi tâm địa nhẫn được
Chẳng nói không nghĩ bàn
Thấu rõ vô khả đắc
Khi đắc chẳng nói biết.
Tây Thiên Tổ thứ hai mươi bốn Sư Tử Tôn Giả
Chánh thuyết tri kiến thời
Tri kiến câu thị tâm
Đương tâm tức tri kiến
Tri kiến tức ư kim.
Chính khi nói tri kiến,
Tri kiến đều là tâm,
Chính tâm tức tri kiến,
Tri kiến tức là hiện nay.
Trích dẫn:
Kệ truyền pháp của chư Phật, Tổ Sư
________________________________________
Đức Phật Tỳ Bà Thi
"Thân tùng vô tướng trung thụ sinh
Do như huyễn xuất chư hình tượng
Huyễn nhân tâm thức bổn lai vô
Tội phước giai không vô sở trụ".
"Thân từ trong vô tướng sinh ra
Giống như huyễn sinh các hình tượng
Tâm thức người huyễn vốn là không
Tội phước đều không chẳng chỗ nương".
Đức Phật Thi Khí
Khởi các thiện pháp bổn thị huyễn
Tạo chư ác nghiệp diệc thị huyễn
Thân như tụ mạc tâm như phong
Huyễn hoá vô căn vô thật tính.
"Khởi các pháp lành vốn là huyễn
Tạo các nghiệp ác cũng là huyễn
Thân như bọt tụ tâm như gió
Huyễn hoá không gốc không thật tính".
Đức Phật Tỳ Xá Phù
Giả tạ tứ đại dĩ vi thân
Tâm bổn vô sinh nhân cảnh hữu
Tiền cảnh nhược vô tâm diệc vô
Tội phước như huyễn khởi diệc diệt.
Giả mượn bốn đại dùng làm thân
Tâm vốn không sinh do cảnh có
Nếu cảnh trước không tâm cũng không
Tội phước như huyễn khởi cũng diệt.
Đức Phật Câu Lưu Tôn
Kiến thân vô thật thị Phật thân
Liễu tâm như huyễn thị Phật huyễn
Liễu đắc tâm thân bổn tính không
Tư nhân dữ Phật hà thù biệt.
Thấy thân không thật là thân Phật
Rõ tâm như huyễn là Phật huyễn
Rõ được thân tâm tánh vốn không
Người đó với Phật nào khác gì.
Đức Phật Ca Diếp
Nhất thiết chúng sinh tánh thanh tịnh
Tùng bổn vô sinh vô khả diệt
Tức thử thân tâm thị huyễn sinh
Huyễn hoá chi trung vô tội phước.
Hết thảy chúng sinh tánh thanh tịnh
Do gốc không sinh không thể diệt
Tức thân tâm nầy là huyễn sinh
Ở trong huyễn hoá chẳng tội phước.
Phật Thích Ca Mâu Ni
Pháp bổn pháp vô pháp
Vô pháp pháp diệc pháp
Kim phó vô pháp thời
Pháp pháp hà tằng pháp
Pháp, gốc pháp không pháp
Không pháp, pháp cũng pháp
Nay lúc truyền không pháp
Pháp, pháp chưa từng pháp.
Tây Thiên Sơ Tổ Đại Ca Diếp
Pháp pháp bổn lai pháp
Vô pháp vô phi pháp
Hà ư nhất pháp trung
Hữu pháp hữu phi pháp
Pháp, pháp vốn là pháp
Chẳng pháp, chẳng không pháp
Sao ở trong một pháp
Có pháp có phi pháp.
Tây Thiên Tổ thứ hai Tôn Giả A Nan
Bổn lai phó hữu pháp
Phó liễu ngôn vô pháp
Cá cá tu tự ngộ
Ngộ liễu vô vô pháp.
Bổn lai phó có pháp
Phó rồi nói không pháp
Mỗi mỗi phải tự ngộ
Ngộ rồi chẳng không pháp.
Tây Thiên Tổ thứ ba Tôn Giả Thương Na Hoà Tu
Phi pháp diệc phi tâm
Vô tâm diệc vô pháp
Thuyết thị tâm pháp thời
Thị pháp phi tâm pháp.
Chẳng pháp cũng chẳng tâm
Không tâm cũng không pháp
Khi nói tâm pháp thời
Là pháp chẳng tâm pháp.
Tây Thiên Tổ thứ tư Ưu Ba Cúc Đa
Tâm tự bổn lai tâm
Bổn tâm phi hữu pháp
Hữu pháp hữu bổn tâm
Phi tâm phi bổn pháp.
Tự tâm vốn là tâm
Bản tâm chẳng có pháp
Có pháp có bản tâm
Chẳng tâm chẳng bản pháp.
Tây Thiên Tổ thứ năm Đề Đa Ca Tôn Giả
Thông đạt bổn tâm pháp
Vô pháp vô phi pháp
Ngộ liễu đồng vị ngộ
Vô tâm diệc vô pháp.
Thông đạt gốc tâm pháp
Không pháp chẳng không pháp
Ngộ rồi đồng chưa ngộ
Không tâm cũng không pháp.
Tây Thiên Tổ thứ sáu Di Giá Ca Tôn Giả.
Vô tâm vô khả đắc
Thuyết đắc bất danh pháp
Nhược liễu tâm phi tâm
Thuỷ liễu tâm tâm pháp.
Không tâm không thể đắc
Nói đắc chẳng gọi là pháp
Nếu rõ tâm chẳng phải tâm
Trước hết rõ tâm tâm pháp.
Tây Thiên Tổ thứ bảy Bà Tu Mật Tôn Giả.
Tâm đồng hư không giới
Thị đẳng hư không pháp
Chứng đắc hư không thời
Vô thị vô phi pháp.
Tâm đồng cõi hư không
Hiện đồng pháp hư không
Khi chứng được hư không
Chẳng phải chẳng không pháp.
Tây Thiên Tổ thứ tám Phật Đà Nan Đề Tôn Giả.
Hư không vô nội ngoại
Tâm pháp diệt như thử
Nhược liễu hư không cố
Thị đạt chân như lý.
Hư không chẳng trong ngoài
Tâm pháp cũng như vậy
Nếu thấu rõ hư không
Thông đạt lý chân như.
Tây Thiên Tổ thứ chín Phục Đà Mật Đa Tôn Giả.
Chân lý bất vô danh
Nhân danh hiển chân lý
Thọ đắc chân thật pháp
Phi chân diệc phi nguỵ.
Chân lý đâu chẳng tên
Do tên hiển chân lý
Thọ được pháp chân thật
Chẳng thật cũng chẳng giả.
Tây Thiên Tổ thứ mười Hiếp Tôn Giả.
Chân thật tự nhiên chân
Nhân chân thuyết hữu lý
Lãnh đắc chân chân pháp
Vô hành diệc vô chỉ.
Thể thật tự nhiên thật
Do thật nói có lý
Lãnh được pháp chân thật
Không hành cũng không ngừng.
Tây Thiên Tổ thứ mười một Phú Na Dạ Xà Tơn Giả
Mê ngộ như ẩn hiển
Minh ám bất tương ly
Kim phó ẩn hiển pháp
Phi nhất diệt phi nhị.
Mê ngộ như ẩn hiển
Sáng tối khơng lìa nhau
Nay truyền pháp ẩn hiển
Chẳng một cũng chẳng hai.
Tây Thiên Tổ thứ mười hai Tôn Giả Mã Minh
Ẩn hiển tức bổn pháp
Minh ám nguyên bất nhị
Kim phó ngộ liễu pháp
Phi thủ diệc phi ly.
Ẩn hiện tức pháp gốc
Sáng tối vốn không hai
Nay truyền pháp tỏ ngộ
Chẳng lấy cũng chẳng lìa.
Tây Thiên Tổ thứ mười ba Tôn Giả Ca Tỳ Ma La
Phi ẩn phi hiển pháp
Thuyết thị chân thật tế
Ngộ thử ẩn hiển pháp
Phi ngu diệc phi trí.
Pháp chẳng ẩn chẳng hiện
Nói đó chân thật tế
Ngộ pháp ẩn hiện nầy
Chẳng ngu cũng chẳng trí.
Tây Thiên Tổ thứ mười bốn Bồ Tát Long Thọ.
Vi minh ẩn hiển pháp
Phương thuyết giải thoát lý
Ư pháp tâm bất chứng
Vô sân diệc vô hỷ.
Vì rõ pháp ẩn hiển
Mới nói lý giải thoát
Nơi pháp tâm chẳng chứng
Không giận cũng không vui.
Tây Thiên Tổ thứ mười lăm Tôn giả Ca Na Đề Bà
Bổn đối truyền pháp nhân
Vi thuyết giải thoát lý
Ư pháp thật vô chứng
Vô chung diệc vô thuỷ.
Vốn đối người truyền pháp
Vì nói lý giải thoát
Nơi pháp thật không chứng
Không đầu cũng không cuối.
Tây Thiên Tổ thứ mười sáu Ðại sĩ La Hầu La Ða
Ư pháp thật vô chứng
Bất thủ diệc bất ly
Pháp phi hữu vô tướng
Nội ngoại vân hà khởi.
Nơi pháp thật không chứng
Không lấy cũng không lìa
Pháp chẳng có vô tướng
Trong ngoài sao lại khởi.
Tây Thiên Tổ thứ mười bảy Tăng Già Nan Đề.
Tâm địa bổn vô sanh
Nhân địa tùng duyên khởi
Duyên chủng bất tương phương
Hoa quả diệc phục nhĩ.
Ðất tâm vốn không sinh
Nhân đất từ duyên khởi
Duyên, giống không ngại nhau
Hoa quả cũng như thế.
Tây Thiên Tổ thứ mười tám Già Na Xá Ða
Hữu chủng hữu tâm địa
Nhân duyên đắc phát manh
Ư duyên bất tương ngại
Đương sanh sanh bất sanh.
Có giống có đất tâm
Nhân duyên nảy mầm pháp
Với duyên chẳng ngại nhau
Sẽ sanh sanh chẳng sanh.
Tây Thiên Tổ thứ mười chín Cưu Ma La Ða
Tánh thượng bổn vô sanh
Vi đối cầu nhân thuyết
Ư pháp tức vô đắc
Hà hoài quyết bất quyết.
Trong tánh vốn không sinh
Vì đối người cầu nói
Nơi pháp tức không đắc
Sao nhớ quyết chẳng quyết.
Tây thiên Tổ thứ hai mươi Xà Da Ða tôn giả.
Ngôn hạ hợp vô sanh
Đồng ư pháp giới tánh
Nhược năng như thị giải
Thông đạt sự lý cánh.
Nói ra hợp vô sanh
Ðồng với tánh pháp giới
Nếu hiểu được như vậy
Thông đạt hết sự lý !
Tây thiên tổ thứ hai mươi mốt Bà Tu Bàn Ðầu
Phao huyễn đồng vô ngại
Như hà bất liễu ngộ
Đạt pháp tại kỳ trung
Phi kim diệc phi cổ.
Bọt huyễn đồng không ngại
Sao lại không tỏ ngộ
Rõ pháp ở bên trong
Chẳng nay cũng chẳng xưa.
Xin Chào Thiện Hữu Richardhieu05,
C.Ơn Thiện hữu đã bỏ công sưu tầm các "Kệ truyền Pháp của Chư Phật, Tổ Sư.".*Nhưng khi đọc, lại thấy có wa' nhiều từ "PHÁP". Vậy ...PHÁP là gì ?TH Richardhieu05 & các Bạn hảy định nghĩa giúp giùm .Kính rose4
sao mấy lời mấy huynh nói tôi thấy nó giống trong trang tử nam hoa kinh quá vậy,mình muốn các huynh nói cái sỡ đắc cũa chính các huynh đễ cùng học hõi,cùng nhau tiến bộ trên đường học đạo ,tôi mới vào diễn đàn mong gặp được thiện tri thức trên diễn đàn thì hay lắm
https://encrypted-tbn0.google.com/im...p3fLf1MVmrI9ag
Hỏi: Vừa rồi Hòa thượng có nói trong kinh Kim Cang là “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Vậy một hành giả dụng công phải nhận biết như thế nào? Bây giờ nhận biết các pháp vô sở trụ hay chúng ta dụng công phu trên lục căn không trụ trên lục trần, ấy là nhận vô sở trụ? Hoặc nhận tánh các pháp vô trụ, rồi mình sống vô trụ đó?
Đáp: Phật pháp là muốn hiển bày chơn tâm cũng gọi là tự tánh. Chơn tâm là bất nhị không có tương đối, không có tương đối nên không thể dùng lời nói của thế gian để diễn đạt được. Vì muốn diễn đạt thì phải có tương đối, mà chứng tỏ cái tương đối đó đúng hay sai gọi là logic, nó có hai cái mới thành logic được.
Còn chơn tâm thì không có tương đối là bất nhị, siêu việt logic, nó không có thể dùng logic để chứng tỏ, vì dùng logic để chứng tỏ là tương đối rồi. Cho nên, muốn chứng minh phải qua tự tâm của cá nhân.
(trích khai thị của Hòa Thượng Thích Duy Lực)
:smug:
http://www.congphu.com/images/plg_im...859-dao-01.jpg
Hỏi: Trong kinh sách chư Tổ thường đả phá tất cả. Như “gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ”. Nếu ngày nay, mọi người thấy vậy, có ảnh hưởng đến đạo pháp không?
Đáp: Gặp Phật giết Phật là giết cái tâm chấp Phật, chứ đâu phải giết Phật Thích Ca; chấp ma là giết tâm chấp ma, chứ đâu phải giết ma. Tức là chấp cái gì là giết cái đó.
(trích khai thị của Hòa Thượng Thích Duy Lực)
:rock_on:
http://www.amia.ca/media/directory/p...00x400_q85.jpg
Hỏi:
Tu Thiền phải có người hướng dẫn, nếu không có người hướng dẫn sẽ bị lạc. Vậy muốn tu không có thầy hướng dẫn, thì phải tu như thế nào?
Đáp:
“Vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”. Nếu thực hành được 9 chữ này thì bảo đảm không có bị lạc, vì chánh pháp phải cần phá ngã chấp. Nếu không phá ngã chấp thì không giải thoát mà thành tà ma ngoại đạo. Tà ma ngoại đạo cũng có thiền định rất cao, nhưng họ không có phá ngã chấp.
(trích khai thị của Hòa Thượng Thích Duy Lực)
:nail_biting:
Xin chào các bạn , các bạn giải thích giúp mình thế nào là vía với?
trong đạo phật không có từ này, nên không thể giúp gì được cho bạn, mong bạn tìm kiếm nơi khác
nói hoài màn tà kiến không bỏ. nghiệp được coi là một thói quen được vân tập từ 3 nghiệp thân , khẩu, ý. như vậy nghiệp bản thân nó không phải là chủ thể.
ví dụ
người A đấm vào mặt người B một cái. vậy thì ta buộc tội người A hay buộc tội nắm đấm. nếu nắm đấm đó gây chết người thì tòa buộc tội ông A giết người hay buộc tội nắm đấm giết người. Rõ khổ
Sẻ có người nói huynh sai, nói huynh này nọ. Nhưng huynh đừng cãi lại làm gì ^^ Đệ thích câu này của huynh ^^Trích dẫn:
Thân ngũ uẩn này khi chết thì sẽ tan rã, không còn linh hồn hay xía gì cả. Chỉ có nghiệp lực đi đầu thai mà thôi.
1 Vị A La Hán đã dứt sạch lậu hoặc nhưng vẫn còn nghiệp vậy vị A La Hán đó có còn bị hành nghiệp nữa ko ? :big_grin:
Nhưng nếu vị A La Hán đã ko còn tái sinh nữa vì ở trong người vị ấy vô minh đã được diệt sạch, ko còn tham tình luyến ái, vậy vị A La Hán đó nếu vẫn còn nghiệp lực thì vị ấy có bị tái sinh ko ?
Thể vía do thọ uẩn hợp thành, làm trung gian giữa linh hồn và thế giới vật chất. Tất cả mọi hiện tượng do sắc uẩn tạo ra đều trước tiên được biết đến bởi thể vía, suy xét, nhận định, rồi truyền đạt thông tin vào ý, tức tưởng uẩn, ghi nhận, trừu tượng, rồi lại truyền thông tin trừu tượng đó đến đại trí, tức hành uẩn, nhận định, minh triết, phân biện, xong lại truyền đến linh hồn, tức thức uẩn, thấu suốt sâu xa. Do đó, ngũ uẩn: sắc thọ tưởng hành thức, đều phi Ngã. Thể vía cũng phi Ngã.
Những ai không hiểu rõ chư Phật ra đời đều đem Đại Thành Giáo Pháp giảng dạy, ý nghĩa thâm sâu, vô lượng, đều không phải thật là đệ tử Phật, dẫu có nói lời hàm ý cao sâu đến đâu cũng chỉ là triết lý ngoài miệng. Tinh túy của giáo pháp không thực thành không thể nắm rõ. Phật trước nói Không sau nói Có là do dụng ngụ nhân duyên phương tiện giáo hóa chúng sanh tùy theo căn cơ.
Không có một thể vía bạn lấy gì tiếp thu cảm thọ từ cõi sắc? Không có linh hồn bạn lấy gì điều khiển mọi hoạt động hàng ngày? Linh hồn đó là chơn linh, tức Ngã. Thể vía là dụng thể, nên gọi phi Ngã. Ngũ uẩn là phương tiện truyền đạt sự hiểu biết, nên cũng là phi Ngã. Hiểu được tất cả đều phi Ngã thì tức chơn linh hiển hiện, chủ nhơn ông xuất thế. Muôn hình vạn tượng đều là phi Ngã, duy chỉ có chơn linh mới thực là Ta. Do đó, "Thiên Thượng Địa Hạ Duy Ngã Độc Tôn," tức trên trời dưới đất không có gì là Ta.
Nghiệp là do hành uẩn tạo tác hợp thành, huân tập từ hằng hà sa số kiếp. Nghiệp cũng như gió thổi trong hư không, vốn dĩ không có làm sao đi chuyển thế đầu thai? Gió là do sự tạo tác của hai khí âm dương mà thành, như nghiệp là do sự tạo tác giữa hai đối tượng mà thành. Không có hai khí âm dương tương tác làm sao có gió? Không có hai đối tượng tương tác làm sao có nghiệp? Do đó, nghiệp theo chơn linh chuyển thế đầu thai, hết duyên thì nghiệp dứt, cũng như gió thổi theo sự tương tác của âm dương, hết sự tương tác đó thì gió ngừng.
Cho nên, phải hiểu rõ rằng nếu duy chỉ có Nghiệp đi đầu thai, thì khi Nghiệp hết, một chơn linh phải kết thúc hay sao, tức không còn tồn tại nữa hay sao? Vậy tu hành để làm gì? Giải nghiệp để làm gì? Đàng nào một ngày nào đó nghiệp hết thì không còn tồn tại gì nữa. Hay chăng cứ tạo thêm nhiều nghiệp để được "tồn tại vĩnh cửu?"
Like !!!
ai nói nghiệp sinh ra minh trí thì nghiệp càng nhiều --> minh trí càng mạnh :rolling_on_the_floo
còn ai nói nghiệp đi đầu thai vậy khi nghiệp hết -->:hee_hee:
ai đó lại nói là không cần tranh luận vẫn có thể đi đúng dg, nhưng bản thân lại giữ một thứ kiến chấp phi logic đến vậy..
về chủ đề topic, không rõ vía là cái gì, nhưng theo mình, tổng thể con ng gồm 3 phần :thể xác,tâm trí/tình cảm, tinh thần. (linh hồn thì tạm không bàn đến vì vì nó quá phức tạp..). có lẽ vía chính là cái tổ hợp tâm trí/ tình cảm và vẫn còn lại sau khi chết ở một mức độ nào đấy đủ để người chết ý thức phần nào đó về cái "ta" khi còn sống, họ là ai..
Theo một số cao nhân sau khi tu chứng về nói thì con người có 3 thể :
1 > Thể xác : cái này bạn biết rùi
2 > Thể Phách : cầu tạo bằng vật chất tế nhẹ vô cùng ..
3 > Thể Vía ( theo kiểu hiểu bình thường là linh hồn ) : Cấu tạo bằng vật chất siêu tế nhẹ hơn thể phách
Hình dáng 3 thể này đều có hình dáng giống nhau . Thể xác thì bạn biết rùi ko phải nói . Thể phách thì có chức năng nối giữa thể vía và thể xác vào nhau . Thể phách và thể vía có hình dáng giống hết nhau 95 % . 2 thể này có hình dáng giống thể xác khoảng 70 % nhưng thực ra rất khó so sánh vì thể xác thì năm ở không gian 3 chiều ( không gian mình đang sống ) Ngược lại thể vía và thể phách thì lại năm ở chiều không gian khác khi nhìn ..cho nên có nhiều điểm khác nhau
Ví dụ một người xuất hồn tức là xuất cái thể vía đi ra khỏi thể xác , Thể vía đi xa đến vô cùng nhưng vẫn luôn nhớ đường về vì chỉ cần 1 niệm " về " thể xác lập tức kéo 1 cái là về ngay là nhờ có " sợi dây " thể phách kéo về .Sọi dây này 1 đầu nối thể xác , đầu kia nối thể vía .
Nó giồng như bạn chơi thả diều . Thể xác là ngươi thả diều , thể vía là con diều ,thể phách là sợi dây thả diều .
Thể vía rất nhẹ có thể bay rất xa .
Khi 1 người chết đi thì thể xác bị hư hoại kéo theo thể phách ( cọng dây ) cũng hư hoại tan rả vì thể phách phụ thuộc tuyệt đối vào thể xác và tồn tại chủ yếu dựa vào năng lượng thể xác là chính . Do đó thể xác mất ko còn năng lương nuôi thể phách thì thể phách sẽ chết theo . Lúc này thể vía ko còn chỗ bám nên buộc phải xuất ra khỏi thể xác mà trong Phật giáo ay gọi là " Thân Trung Ấm " chờ đi đầu thai .
Ở nghĩa địa thường hay thấy ma không đầu , hoặc thấy 1 vài bộ phận giống người bay lơ lửng nhưng thực ra chỉ là các thể phách đang tan rả . vì thể phách rất nhẹ nên hay bay lơ lưng . Lúc này thể vía người chết đã ở nơi khác
Thể vía không phải là bất tử . thể vía nó cũng chết . Trong thời gian thân trung ấm nếu hợp duyên đi đâu thai thì thể vía sẽ chết đi để đi chuyển kiếp .Khi thể vía chết đi thì rơi vào trang thái chỉ còn thức thứ 7 + 8 ( theo Phật nói ở đấy chính là nghiệp lực )
Ở những người bình thường ko được sinh về các cõi lành của Phật hoặc cõi trời thì sẽ phải ở trang thái thể vía khá lâu từ vài chục năm đến vài trăm năm ... mới có chỗ để đầu thai . Thực ra trạng thái như vậy phần nhiều đều đã hóa sanh thành các loại quỹ rồi .
( bây giờ bận , nếu bạn có hứng nghe khi khác nói tiếp )
Tôi rất thương những người như NghiemDucManh. Trong sáu nẻo ba đường, duy chỉ có một đường dọn sẳn dành riêng chờ đợi nhân giả.
Tâm như như
Ý như như
Nội quang tỏa chiếu suốt huỳnh lư
Tịch thế thanh
Hải triều khai
Phạm âm răn rắt thấu linh đài
Cám ơn các bạn đã giải thích giúp mình , mình đã hiểu được phần nào về Vía rồi.
Chúc các bạn luôn luôn hạnh phúc.
Có một đường linh rất hay ,nói về quái vât ăn linh hồn ,đây là chuyện khể thật khó tin
http://www.tamlinh.net/kho-tin/khotin15.shtml
xin phép chủ pic mưon pic này luôn :
Tăng chi - chánh giác
108. BA NHÂN DUYÊN (2)
- Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba ?
Vô tham là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi, vô sân là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi, vô si là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi.
Phàm nghiệp nào do vô tham tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ vô tham, do vô tham làm nhân duyên, do vô tham tập khởi, nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy không có phạm tội, nghiệp ấy có lạc dị thục, nghiệp ấy đưa đến nghiệp đoạn diệt, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp tập khởi. Phàm nghiệp nào do vô sân tác thành … Phàm nghiệp nào do vô si tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ vô si, do vô si làm nhân duyên, do vô si tập khởi, nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy không có phạm tội, nghiệp ấy có lạc dị thục, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp tập khởi, nghiệp ấy đưa đến nghiệp đoạn diệt. Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi
VD đọc kĩ lại và trả lời hộ : vô tham đưa đến nghiệp tập khởi hay đoạn diệt ?
Theo bạn tuk thì khi nào là hết nghiệp ? Lý giải đúng tinh thần PG bạn tutk nhé
Phật và ala hán đã hết nghiệp hay chưa VD thân mến :)
nhất thiết duy tâm tạo
vạn pháp tôn duyên sanh
vạn pháp tôn duyên diệt
dịch:
mọi thứ do tâm tạo
mọi thứ hiện do duyên sanh
mọi thứ diệt do duyên diệt
vạn pháp đã là do duyên sinh ra ,thức do duyên khởi nốt
như khi nhìn thấy mèo (cái duyên là con mắt +ánh sáng+con mèo)thì các dữ kiện (thức) về con mèo mới hiện (pháp hiện thành)
Đưc phật trả lời rõ ràng và minh bạch wa rồi còn gì ? đạo hữu còn thắc mắc gì nữa ???Trích dẫn:
Phàm nghiệp nào do vô tham tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ vô tham, do vô tham làm nhân duyên, do vô tham tập khởi, nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy không có phạm tội, nghiệp ấy có lạc dị thục, nghiệp ấy đưa đến nghiệp đoạn diệt, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp tập khởi. Phàm nghiệp nào do vô sân tác thành … Phàm nghiệp nào do vô si tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ vô si, do vô si làm nhân duyên, do vô si tập khởi, nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy không có phạm tội, nghiệp ấy có lạc dị thục, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp tập khởi, nghiệp ấy đưa đến nghiệp đoạn diệt. Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi
Các đạo hữu đọc kinh, thì trước hết hãy hiểu kinh nói gì, diễn giải điều gì rồi hãy trích dẫn để giải thích ý mình. Đừng nên lấy luận giải của mình làm tiêu đề rồi dò kinh xem câu cú chỗ nào phù hợp rồi cut và pass, mà ý nghĩa bài kinh hoàn toàn sai lệch như vậy
nếu nói linh hồn chính là ta thì là có cái bản ngã rồi
linh hồn ko bao giờ chết , siêu việt thì người ta giết người vô số ..tuy giết đc thân xác mà cái linh hồn bất tử rồi
nếu chấp linh hồn là ta thì bít bao nhiu người làm việc ác
phật đâu có nói linh hồn là ta đâu nào ?
Thương thay những người học chữ chưa thông, không cầu diệu nghĩa, chỉ bị lôi cuốn theo chữ nghĩa bên ngoài; thánh nhân gọi là đứng xa mà nhìn. Lại thương những người thông thuộc kinh nghĩa nhưng không thực hành cầu chứng, tin tưởng mù oán; thánh nhân gọi là đứng ngoài cửa mà không chịu vào.
Chư thiện tri thức nên biết rằng chữ nghĩa là mượn tạm để gọi. Phật không dùng danh từ Linh Hồn, nhưng đã dùng chữ "Tâm" định nghĩa nó. Nên biết, tam sao thất bổn, dịch chữ mượn chữ, không phải là bản gốc. Ngày nay chư vị đọc đó là chữ Việt, do dịch từ Hán Tạng, Pali Tạng, không phải là nguyên văn gốc. Nên hiểu đó là phương tiện đưa đến giác ngộ, từ ngộ đưa đến thực hành minh triết.
Chỉ có một chữ "CHẤP" mà vô số người phải bị mắc kẹt giữa Có và Không, Phi và Hữu. Chư thiện tri thưc đương tri, Không chấp đó là không vướng mắc, chạy theo sự hiểu biết về cái gọi là "Linh Hôn" hay "Tâm." Ưng Vô Sở Trụ Nhi Sanh Kỳ Tâm; đó là không bám víu vào bất cứ điều gì, ý nghĩ hoàn toàn rỗng tuếch, thì chơn linh mới hiển hiện. Phật bảo không Chấp linh hồn là ta, không có nói là nó không tồn tại. Mà Phật bảo phải để tâm không vướng mắc vào sự hiện hữu của nó, thì lúc bấy giờ nó mới lộ diện. Khi để ý chạy rong ruổi, cho rằng chơn tâm hiển lộ, thì đó là vọng, không phải chơn. Cho nên mới nói "không chấp trước."
Các bạn của thiền môn có bao giờ nhìn thấy nội quang tỏa chiếu? Chúng hành giả đã từng thấy được ánh sáng, có phải là khi không để tâm "chấp trước" rong ruỗi theo bất cứ sự vật gì thì nội quang mới lộ diê.n chăng?
Chư thiện tri thức, chữ nghĩa là phương tiện để học, học để biết, biết để hiểu, hiểu để thông quán, thông quán để ngộ, ngộ để hành, hành để chứng, chứng để minh triết. Không minh triết thì vẫn còn lẫn quẩn trong vô minh, rong ruỗi đông tay, theo thập nhị nhân duyên luân chuyển không ngừng.
Nghiemducmanh thử tìm xem trong kinh Nguyên Thủy Đức Phật có giảng bài nào là Trái Đất hình quả cầu không, rằng Trái Đất luôn quay quanh mình nó và quay quanh Mặt Trời không.
Do đó không phải chỉ có những gì Đức Phật nói trong kinh Nguyên Thủy (về nghĩa đen) mới đúng. Hãy tư duy xa hơn nữa mới có thể hiểu rộng được.
Chúc Nghiemducmanh sớm hiểu ra vấn đề
Kinh Lá rừng Simsapà (Tương Ưng 56.31)
… Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapà. Ngài lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapà, rồi bảo các Tỳ khưu:
- “Này các Tỳ khưu, quý vị nghĩ thế nào, cái gì là nhiều hơn, số lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay, hay số lá trong rừng Simsapà?”.
- “Bạch Thế Tôn, số lá Simsapàmà Ngài nắm lấy trong tay thật là quá ít, còn số lá trong rừng Simsapà thật là quá nhiều”.
- “Này các Tỳ khưu, cũng giống như những gì Ta đã biết rõ mà không giảng dạy cho quý vị thật là quá nhiều; còn những gì mà Ta đã giảng dạy thật là quá ít. Tại sao Ta không giảng dạy tất cả những điều ấy? Bởi vì có những điều không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho đời sống thanh cao, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Do vậy, Ta không giảng dạy những điều ấy .
“Này các Tỳ khưu, Ta giảng dạy những điều gì? "Ðây là Khổ", là điều Ta giảng dạy. "Ðây là Khổ tập", là điều Ta giảng dạy. "Ðây là Khổ diệt", là điều Ta giảng dạy. "Ðây là Con đường đưa đến Khổ diệt", là điều Ta giảng dạy.
“Nhưng tại sao Ta giảng dạy những điều ấy? Bởi vì những điều ấy liên hệ đến mục đích, là căn bản cho đời sống thanh cao, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Do vậy, Ta giảng dạy những điều ấy.
“Vì thế, này các Tỳ khưu, quý vị cần phải nỗ lực để biết rõ: "Ðây là Khổ", cần phải nỗ lực để biết rõ: "Ðây là Khổ tập", cần phải nỗ lực để biết rõ: "Ðây là Khổ diệt", cần phải nỗ lực để biết rõ: "Ðây là Con đường đưa đến Khổ diệt"".
.......
Nghiemducmanh. Bạn đã đọc được bao nhiêu tạng kinh nguyên thủy rồi?
http://s.daminhvn.net/daminhvn/tulie.../tusithien.jpg
Hỏi:
“Nhất nhân hành đạo, cửu huyền siêu thăng” là sao?
Đáp:
Ấy là phá hoại nhân quả. Nhân quả thì người nào người nấy chịu, không có ai làm thay thế cho ai được. Con cháu có hiếu cách mấy cũng không ăn no dùm cho cha mẹ được, cha mẹ thương con cách mấy cũng không ăn dùm cho con được. Nếu là vậy không có nhân quả. Như Ngài Mục Kiền Liên tu chứng quả A La Hán, nhưng mẹ của Ngài đâu có siêu thoát? Như vậy là rõ ràng rồi!
(trích khai thị của Hòa Thượng Thích Duy Lực)
violent105