Trang 1 trong 2 12 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 26

Ðề tài: Càn Khôn vũ trụ là gì ?

  1. #1
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định Càn Khôn vũ trụ là gì ?


    Kể từ Thái Cực, Lưỡng Nghi, ba mươi sáu từng Trời (36) Chín từng Cửu Thiên Khai Hóa. Nhứt mạch Đẳng Tinh-Vi, Thập Phương Chư Phật, Vạn-Chưởng Thế Giái, Đại Thiên Thế Giái, Tam Thiên Thế Giái, Tứ Đại Bộ Châu, Thất Thập Nhị Địa Cầu và chư Động Phủ Phật, Thánh, Tiên cư ngụ.

    Thưa chư Hiền-huynh, Hiền-tỷ, Tôi xin nhắc ngày giờ mới khai Đàn tại Cần Thơ, có mấy vị Đồ Nho hầu Đàn xin Bạch THẦY như vầy: xin THẦY từ bi giải cho chúng con rõ hình thức quả Càn Khôn Vũ Trụ sao mà con thường nghe mấy vị Đồ Nho bàn cải với nhau, mỗi mỗi không in một lý. Người thì nói TRỜI lớn, người thì nói PHẬT lớn, còn trong sách Tam-Tự Kinh chú giải thì Đức Thánh nói Tam Thập Tam Thiên, nên phần nhiều bình luận phân-phân bất nhứt. Con không rõ thế nào là đúng. Xin THẦY từ bi xá lỗi.

    THẦY ĐÁP: Các con có học rộng, nhưng cái rộng còn khuyết điểm muôn phần. Nơi Thế Giái hữu hình hiện tượng trước mặt mà con chưa hiểu đặng, huống hồ gì thấu đáo sư vô hình, vì huyền diệu Thiêng Liêng mà người không học Đạo dễ gì hiểu đặng. Những bậc Thánh trước Hiền xưa ra công tham khảo cùn đời, mãn kiếp còn chưa vén nổi cái màng bí mật của Đấng Tạo Hóa đón ngăn, huống chi người thường nhơn luận bàn làm sao cho suốt lý.
    (Paragraph 4)
    Kể từ khi THẦY sai Bàn Cổ xuống thế mở mang địa cầu nầy, nhơn-loại thuở đó còn mang hình tượng Thiêng Liêng chưa biết mặc áo quần, còn ở nơi hang hố chưa có nhà cửa, chưa có văn tự. Từ đó về sau mấy ngàn năm đến đời Ngũ Đế, họ Phục Hi, họ thường hết tâm theo quái điểu tích (tầm dấu chân chim) chế ra văn tự để mà ghi nhớ. Từ đó về sau mới có lịch-sữ, nên sách Nho có câu:
    cái cái thiên nhị chi dân,
    sào cư huyệt sữ nhụ mao ẩm huyết,
    đồng nhi các vĩ kỳ hàn,
    ẩm cư vĩ thị kỳ thử.
    Nên lúc đó văn tự bất quá nghe truyền ngôn độ chừng rồi chép bướng, hỏi vậy lấy đâu làm bằng chứng. Ấy là nói tích ở Thế gian nầy còn chưa rõ, còn luận qua Thế-giới khác, như nhắm mắt mò kim đáy biển, hay bầy kiến tầm đường lên Núi Tu-Di, thì chẳng khác sự học thuyết của người mài kiếm dưới bóng trăng, ếch nằm đáy giếng, cũng có lắm người gọi mình là hay giỏi, dẫn người đi lạc bước sai đường. Thân mình mù-quáng mà chưa hay, còn tài khôn dắt thêm kẻ tối đui thì làm sao khỏi lọt vào đám chông gai cùng sa hầm sa hố … Cười …

    "Nếu người nào muốn học hỏi thì THẦY cũng rộng giãng dạy, còn kẻ nào không chịu học, sau đừng đổ cho Phật giã vô ngôn."

    Vậy trước khi chưa phân Trời Đất, khí Hư Vô bao quát Càn Khôn sáng soi đầy Vũ Trụ. Đó là một cái trung tâm điểm tức là ĐẠO, rồi ĐẠO ấy mới sanh Thái Cực. Hồng mông sơ khởi huyền-huyền hạo-hạo, khối lại thành ngôi Thái Cực rất đầm ấm lưng chừng. Trong đó toàn là một khối, đúng mấy muôn năm đùng nổ ra một tiếng dường như Thiên khuynh, địa-phúc, thì đã có THầY ngự trong ngôi Thái-Cực. Rồi đó có một tầng DƯƠNG một tầng ÂM gác chồng nhau thành hình chữ thập ló ra bốn cánh, kể là lưỡng nghi sanh tứ tượng, chữ thập mới dần-dần quanh lộn chạy lăn tròn như chong-chống. Giăng tủa ra muôn ngàn quả tinh cầu Thế giái, chữ Thập ấy dưới có bốn cánh bóng kêu là tứ Âm, tứ Dương tác thành Bát-quái là: CÀN, KHẨM, CẤN, CHẤN, TỐN, LY, KHÔN, ĐOÀI. Bát-quái mới biến hóa vô cùng phân định ngũ-hành, Càn Khôn muôn vật, Thái Cực sanh lưỡng nghi tức là Tam Thiên Vị (3 ngôi Trời) dưới ba ngôi ấy có Tam-Thập Tam Thiên (33 từng Trời) cộnh với ba ngôi trên là 36 từng… Nên kiêu là Tam Thập Lục Thiên. Trong mỗi từng Thầy chia chơn linh có một vị Đại-La Thiên-Đế Chưởng-Quản. Chỗ THẦY ngự là nơi Bạch-Ngọc Kinh là Kinh-Thành toàn là ngọc trắng rộng cao vọi-vọi. Ngoài là Huỳnh-Kim-Khuyết, cửa ngỏ bằng vàng cực kỳ mỹ lệ, dưới ba mươi sáu tầng Trời, còn một tầng kế Nhứt Mạch Đẳng Tinh-Vi gọi là cảnh Niết-Bàn. Chín tầng nữa gọi là Cửa-Thiên Khai-Hóa, tức là chín phương Trời cộng với Niết-Bàn là mười, gọi là Thập-phương Chư Phật. Gọi chín phương Trời mười phương Phật là do nơi đó.”

    “Trong cõi Niết-Bàn là chư Phật ngự: Phật-Tổ ngự nơi hướng Tây, Quan-Âm ngự hướng Nam, mỗi từng đều có sơn xuyên hà hải, tứ phương, bát hướng liên Đài hằng hà sa số Phật. Còn hai chữ Như-Lai là Cảnh Phật chớ không phải là danh Phật. Nên trong Kinh có câu: “Bổn Giái Vị Như Kim Giái Như Lai” còn Bồ-Đề là chỗ Phật ngự, Phạm-Môn là cửa Phật, Bĩ-Ngạn là Đất Phật, Huỳnh-Kim Bố-Địa là vàng rồng đầy đất, còn chỗ Nam-Hải ngạn thượng là Quan-Âm ngự gần bờ biển Nam nơi cảnh Phật, chớ không phải hướng Nam như cảnh phàm. Đó là còn ở thượng từng không-khí hay là hư-vô chi-khí, rồi kế đó có Đại-Thiên Thế-Giái là Thế-Giái rất lớn có mấy triệu tinh-cầu bao trùm cả nơi mấy Thế-Giái đó. Kế đó là Thượng-Phương Thế-Giái đó là chỗ Đức TâY VƯƠNG MẫU ngự nơi Cung Diêu Trì, gần đó có vườn Ngạn-Uyển Bàn-Đào, Ngũ-Nhạc Bồng-Lai Nhược-Thũy. Còn các Đấng Thiêng-Liêng nam nữ hằng hà sa số lầu Đài Cung Điện toàn bằng Ngọc-Ngà Châu-Báu, Hổ-Phách San-Hô, như lục, Thiên-Ngân-Cung Tử-Phủ Thánh-Đế Điện-Đài Lãng-Phóng trong cảnh nhị châu Chơn-Võ, Nơi Linh-Tiêu-Điện là chỗ chư TIÊN nhóm hội, có Ngọc-Vệ Kim-Nương, giao-lê quả-táo toàn là kim-dược nhẹ-nhàng cũng Kim-Đơn Đề-Hồ, Huỳnh-Tương, trường-sanh chi tử, lò rượu trường-sanh dùng đặng sống hoài không chết.”

    Kế đó là Trung-Phương Thế-Giái cũng là nơi cung Điện của THẦN, TIÊN, Nhơn-Tiên, Quỉ-Tiên, các bậc Quần-Tiên. Kế đó là Hạ-Từng Thế-Giái, Tam-Thiên Thế-Giái, ba ngàn quả Tinh-Cầu là Địa-Cầu Số 1 cho đến Địa-Cầu các con ở là Địa-Cầu 68. Từ hồi có Địa-Cầu nầy đến nay kể ra đặng: 12 MUÔN, CHÍN NGÀN, SÁU TRĂM NĂM. Dưới các con còn bốn Địa-Cầu nữa, còn U-Minh chưa có loài người kêu bằng U-MINH-GIỚI, nên từng Thế-Giới Địa Cầu đều có các đẳng nhơn-loại.”

    Nên chi có điều khác nhau là do không-khí nặng nhẹ cùng tùy theo công-quả của mỗi Tinh-Cầu cách nhau từ một MUÔN cho đến mười MUÔN dặm, luôn-luôn xây tròn giáp một Vòng là 360 ngày gọi là một NĂM. Nơi Địa-Cầu cũng có Sơn-Xuyên Hà-Hải như: Thái-Bình Dương, Đại-Tây Dương, Bạch-Hải, Hắc-Hải, Hồng-Hải chỗ trắng, chỗ đen, chỗ xanh, chỗ đỏ, bề sâu có chỗ tới 8,000 ngàn thước, chỗ 3,000 thước, chỗ 2,000 thước không đều nhau. Còn núi Tu-Di cao độ phỏng 8,000 thước. Núi nhiều chỗ thấp, chỗ cao không đồng. Phong Thũy mùa tuyết nóng nực không đồng, như mùa nắng đây, chỗ khác lại mưa, xứ nóng nực, xứ lạnh lùng, như ngày đêm trong Lục-Địa có 24 giờ, còn người ở Bắc-Băng Dương sáu tháng tối, sáu tháng sáng, quanh năm nước đặc như giá, chỗ chua, chỗ mặn, chỗ ngọt không đều. Còn màu da của người, nào là da trắng, da đen, da vàng, da đỏ. Nước thì lớn cao đồ-sộ, nước thì lùn thấp nhỏ con. Dân số trên Toàn-Cầu phỏng định 2 tỷ 300 triệu sanh-sanh tử-tử không ngừng. Điểu thú côn trùng cũng đều khác lạ như chim Đại-bàng rất lớn lần-lần nhỏ như chim Sắc chim Sâu. Loài Cá như cá Ông, Cá Mập, Cá Sà, Cá Sấu, rồi nhỏ lần Cá Bạc-Mạ, Cá Trắng. Loài thú như Tượng-Voi, rồi tới những loài Nhiếm-Mang, Chuột, Bọ. Chính những loài cầm-thú suốt đời ta chưa còn hiểu biết hết lựa là đến việc cao-siêu, nếu ta không học hỏi các Đấng vô-hình thì ta phải chịu tối tăm mù-mịch không mong gì đoạt thấu huyền-vi mà siêu Phàm nhập Thánh. Hễ ta học nhiều chừng nào ta sẽ thấy dốt nhiều chừng nấy.

    Vậy chư Huyền-Huynh, Hiền-Tỷ, ta phải gia tâm sưu-tầm cho hoạt-bát, nếu ỷ lại sự biết của mình là đủ thì dạ-thảo bích-châu, đường muôn dặm bóng xế chiều không rán bước ắt là phải trể.
    SAO Y NGUYÊN VĂN TÒA-THÁNH, ngày 20 tháng 6 năm BÍNH-TÝ (dl.03.8.1996)
    Cải Trạng LÊ MINH KHUYÊN

  2. #2

    Mặc định

    -hê hê,,nên mình chĩ hiễu võn vẹn trước mắt..càn là tốc bay lên trời,khôn thì đôi chân nhẹ nhàn chấm đất..vũ là lắc sương mông quay tròn,trụ là lã lướt..hê hê..dịch ra nghĩa tây thiên là vũ diệu đường tu..ayza má ơi đừng huýnh con đễ con vế với cha già đang mong đợi
    trần gian là 1 chốn nô đùa ta chơi cho đã 4 mùa về 0'''...0937532387 anhhungdenhatngu

  3. #3

    Mặc định

    Càn khôn vũ tru là càn khôn vũ trụ...cái hữu hạn còn chưa biết hết làm sao biết cái vô hạn...hay hay...đức thầy chí lý, chí lý. Kêu 2k bắt chí..ha ha để về với cha già.

  4. #4

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mynhan Xem Bài Gởi
    Hễ ta học nhiều chừng nào ta sẽ thấy dốt nhiều chừng nấy.

    Vậy chư Hiền Huynh, Hiền Tỷ, ta phải gia tâm sưu tầm cho hoạt bát, nếu ỷ lại sự biết của mình là đủ thì dạ thảo bích châu, đường muôn dặm bóng xế chiều không rán bước ắt là phải trễ.
    Câu nói hay nhất của Thầy. Cám ơn Thầy.

    Đọc các lời giảng của Thầy mà LTL nhớ lại cuốn sách Địa Cầu Trong Không Gian và Thời Gian của TS Trần Kim Thạch cũng có giới thiệu khái quát về tương quan giữa Địa Cầu và Vũ Trụ bao la.

    Lời Thầy giảng vừa Hữu hình, vừa Vô hình, chúng ta chỉ hiểu được theo nhận thức riêng của mỗi người, tất nhiên khác nhau theo cách của riêng mình. Nhưng phải thừa nhận đây là một thông điệp từ vũ trụ rất đáng để chúng ta chiêm nghiệm, suy nghĩ.

  5. #5

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mynhan Xem Bài Gởi

    Kể từ Thái Cực, Lưỡng Nghi, ba mươi sáu từng Trời (36) Chín từng Cửu Thiên Khai Hóa. Nhứt mạch Đẳng Tinh-Vi, Thập Phương Chư Phật, Vạn-Chưởng Thế Giái, Đại Thiên Thế Giái, Tam Thiên Thế Giái, Tứ Đại Bộ Châu, Thất Thập Nhị Địa Cầu và chư Động Phủ Phật, Thánh, Tiên cư ngụ.

    Thưa chư Hiền-huynh, Hiền-tỷ, Tôi xin nhắc ngày giờ mới khai Đàn tại Cần Thơ, có mấy vị Đồ Nho hầu Đàn xin Bạch THẦY như vầy: xin THẦY từ bi giải cho chúng con rõ hình thức quả Càn Khôn Vũ Trụ sao mà con thường nghe mấy vị Đồ Nho bàn cải với nhau, mỗi mỗi không in một lý. Người thì nói TRỜI lớn, người thì nói PHẬT lớn, còn trong sách Tam-Tự Kinh chú giải thì Đức Thánh nói Tam Thập Tam Thiên, nên phần nhiều bình luận phân-phân bất nhứt. Con không rõ thế nào là đúng. Xin THẦY từ bi xá lỗi.

    THẦY ĐÁP: Các con có học rộng, nhưng cái rộng còn khuyết điểm muôn phần. Nơi Thế Giái hữu hình hiện tượng trước mặt mà con chưa hiểu đặng, huống hồ gì thấu đáo sư vô hình, vì huyền diệu Thiêng Liêng mà người không học Đạo dễ gì hiểu đặng. Những bậc Thánh trước Hiền xưa ra công tham khảo cùn đời, mãn kiếp còn chưa vén nổi cái màng bí mật của Đấng Tạo Hóa đón ngăn, huống chi người thường nhơn luận bàn làm sao cho suốt lý.
    (Paragraph 4)
    Kể từ khi THẦY sai Bàn Cổ xuống thế mở mang địa cầu nầy, nhơn-loại thuở đó còn mang hình tượng Thiêng Liêng chưa biết mặc áo quần, còn ở nơi hang hố chưa có nhà cửa, chưa có văn tự. Từ đó về sau mấy ngàn năm đến đời Ngũ Đế, họ Phục Hi, họ thường hết tâm theo quái điểu tích (tầm dấu chân chim) chế ra văn tự để mà ghi nhớ. Từ đó về sau mới có lịch-sữ, nên sách Nho có câu:
    cái cái thiên nhị chi dân,
    sào cư huyệt sữ nhụ mao ẩm huyết,
    đồng nhi các vĩ kỳ hàn,
    ẩm cư vĩ thị kỳ thử.
    Nên lúc đó văn tự bất quá nghe truyền ngôn độ chừng rồi chép bướng, hỏi vậy lấy đâu làm bằng chứng. Ấy là nói tích ở Thế gian nầy còn chưa rõ, còn luận qua Thế-giới khác, như nhắm mắt mò kim đáy biển, hay bầy kiến tầm đường lên Núi Tu-Di, thì chẳng khác sự học thuyết của người mài kiếm dưới bóng trăng, ếch nằm đáy giếng, cũng có lắm người gọi mình là hay giỏi, dẫn người đi lạc bước sai đường. Thân mình mù-quáng mà chưa hay, còn tài khôn dắt thêm kẻ tối đui thì làm sao khỏi lọt vào đám chông gai cùng sa hầm sa hố … Cười …

    "Nếu người nào muốn học hỏi thì THẦY cũng rộng giãng dạy, còn kẻ nào không chịu học, sau đừng đổ cho Phật giã vô ngôn."

    Vậy trước khi chưa phân Trời Đất, khí Hư Vô bao quát Càn Khôn sáng soi đầy Vũ Trụ. Đó là một cái trung tâm điểm tức là ĐẠO, rồi ĐẠO ấy mới sanh Thái Cực. Hồng mông sơ khởi huyền-huyền hạo-hạo, khối lại thành ngôi Thái Cực rất đầm ấm lưng chừng. Trong đó toàn là một khối, đúng mấy muôn năm đùng nổ ra một tiếng dường như Thiên khuynh, địa-phúc, thì đã có THầY ngự trong ngôi Thái-Cực. Rồi đó có một tầng DƯƠNG một tầng ÂM gác chồng nhau thành hình chữ thập ló ra bốn cánh, kể là lưỡng nghi sanh tứ tượng, chữ thập mới dần-dần quanh lộn chạy lăn tròn như chong-chống. Giăng tủa ra muôn ngàn quả tinh cầu Thế giái, chữ Thập ấy dưới có bốn cánh bóng kêu là tứ Âm, tứ Dương tác thành Bát-quái là: CÀN, KHẨM, CẤN, CHẤN, TỐN, LY, KHÔN, ĐOÀI. Bát-quái mới biến hóa vô cùng phân định ngũ-hành, Càn Khôn muôn vật, Thái Cực sanh lưỡng nghi tức là Tam Thiên Vị (3 ngôi Trời) dưới ba ngôi ấy có Tam-Thập Tam Thiên (33 từng Trời) cộnh với ba ngôi trên là 36 từng… Nên kiêu là Tam Thập Lục Thiên. Trong mỗi từng Thầy chia chơn linh có một vị Đại-La Thiên-Đế Chưởng-Quản. Chỗ THẦY ngự là nơi Bạch-Ngọc Kinh là Kinh-Thành toàn là ngọc trắng rộng cao vọi-vọi. Ngoài là Huỳnh-Kim-Khuyết, cửa ngỏ bằng vàng cực kỳ mỹ lệ, dưới ba mươi sáu tầng Trời, còn một tầng kế Nhứt Mạch Đẳng Tinh-Vi gọi là cảnh Niết-Bàn. Chín tầng nữa gọi là Cửa-Thiên Khai-Hóa, tức là chín phương Trời cộng với Niết-Bàn là mười, gọi là Thập-phương Chư Phật. Gọi chín phương Trời mười phương Phật là do nơi đó.”

    “Trong cõi Niết-Bàn là chư Phật ngự: Phật-Tổ ngự nơi hướng Tây, Quan-Âm ngự hướng Nam, mỗi từng đều có sơn xuyên hà hải, tứ phương, bát hướng liên Đài hằng hà sa số Phật. Còn hai chữ Như-Lai là Cảnh Phật chớ không phải là danh Phật. Nên trong Kinh có câu: “Bổn Giái Vị Như Kim Giái Như Lai” còn Bồ-Đề là chỗ Phật ngự, Phạm-Môn là cửa Phật, Bĩ-Ngạn là Đất Phật, Huỳnh-Kim Bố-Địa là vàng rồng đầy đất, còn chỗ Nam-Hải ngạn thượng là Quan-Âm ngự gần bờ biển Nam nơi cảnh Phật, chớ không phải hướng Nam như cảnh phàm. Đó là còn ở thượng từng không-khí hay là hư-vô chi-khí, rồi kế đó có Đại-Thiên Thế-Giái là Thế-Giái rất lớn có mấy triệu tinh-cầu bao trùm cả nơi mấy Thế-Giái đó. Kế đó là Thượng-Phương Thế-Giái đó là chỗ Đức TâY VƯƠNG MẫU ngự nơi Cung Diêu Trì, gần đó có vườn Ngạn-Uyển Bàn-Đào, Ngũ-Nhạc Bồng-Lai Nhược-Thũy. Còn các Đấng Thiêng-Liêng nam nữ hằng hà sa số lầu Đài Cung Điện toàn bằng Ngọc-Ngà Châu-Báu, Hổ-Phách San-Hô, như lục, Thiên-Ngân-Cung Tử-Phủ Thánh-Đế Điện-Đài Lãng-Phóng trong cảnh nhị châu Chơn-Võ, Nơi Linh-Tiêu-Điện là chỗ chư TIÊN nhóm hội, có Ngọc-Vệ Kim-Nương, giao-lê quả-táo toàn là kim-dược nhẹ-nhàng cũng Kim-Đơn Đề-Hồ, Huỳnh-Tương, trường-sanh chi tử, lò rượu trường-sanh dùng đặng sống hoài không chết.”

    Kế đó là Trung-Phương Thế-Giái cũng là nơi cung Điện của THẦN, TIÊN, Nhơn-Tiên, Quỉ-Tiên, các bậc Quần-Tiên. Kế đó là Hạ-Từng Thế-Giái, Tam-Thiên Thế-Giái, ba ngàn quả Tinh-Cầu là Địa-Cầu Số 1 cho đến Địa-Cầu các con ở là Địa-Cầu 68. Từ hồi có Địa-Cầu nầy đến nay kể ra đặng: 12 MUÔN, CHÍN NGÀN, SÁU TRĂM NĂM. Dưới các con còn bốn Địa-Cầu nữa, còn U-Minh chưa có loài người kêu bằng U-MINH-GIỚI, nên từng Thế-Giới Địa Cầu đều có các đẳng nhơn-loại.”

    Nên chi có điều khác nhau là do không-khí nặng nhẹ cùng tùy theo công-quả của mỗi Tinh-Cầu cách nhau từ một MUÔN cho đến mười MUÔN dặm, luôn-luôn xây tròn giáp một Vòng là 360 ngày gọi là một NĂM. Nơi Địa-Cầu cũng có Sơn-Xuyên Hà-Hải như: Thái-Bình Dương, Đại-Tây Dương, Bạch-Hải, Hắc-Hải, Hồng-Hải chỗ trắng, chỗ đen, chỗ xanh, chỗ đỏ, bề sâu có chỗ tới 8,000 ngàn thước, chỗ 3,000 thước, chỗ 2,000 thước không đều nhau. Còn núi Tu-Di cao độ phỏng 8,000 thước. Núi nhiều chỗ thấp, chỗ cao không đồng. Phong Thũy mùa tuyết nóng nực không đồng, như mùa nắng đây, chỗ khác lại mưa, xứ nóng nực, xứ lạnh lùng, như ngày đêm trong Lục-Địa có 24 giờ, còn người ở Bắc-Băng Dương sáu tháng tối, sáu tháng sáng, quanh năm nước đặc như giá, chỗ chua, chỗ mặn, chỗ ngọt không đều. Còn màu da của người, nào là da trắng, da đen, da vàng, da đỏ. Nước thì lớn cao đồ-sộ, nước thì lùn thấp nhỏ con. Dân số trên Toàn-Cầu phỏng định 2 tỷ 300 triệu sanh-sanh tử-tử không ngừng. Điểu thú côn trùng cũng đều khác lạ như chim Đại-bàng rất lớn lần-lần nhỏ như chim Sắc chim Sâu. Loài Cá như cá Ông, Cá Mập, Cá Sà, Cá Sấu, rồi nhỏ lần Cá Bạc-Mạ, Cá Trắng. Loài thú như Tượng-Voi, rồi tới những loài Nhiếm-Mang, Chuột, Bọ. Chính những loài cầm-thú suốt đời ta chưa còn hiểu biết hết lựa là đến việc cao-siêu, nếu ta không học hỏi các Đấng vô-hình thì ta phải chịu tối tăm mù-mịch không mong gì đoạt thấu huyền-vi mà siêu Phàm nhập Thánh. Hễ ta học nhiều chừng nào ta sẽ thấy dốt nhiều chừng nấy.

    Vậy chư Huyền-Huynh, Hiền-Tỷ, ta phải gia tâm sưu-tầm cho hoạt-bát, nếu ỷ lại sự biết của mình là đủ thì dạ-thảo bích-châu, đường muôn dặm bóng xế chiều không rán bước ắt là phải trể.
    SAO Y NGUYÊN VĂN TÒA-THÁNH, ngày 20 tháng 6 năm BÍNH-TÝ (dl.03.8.1996)
    Cải Trạng LÊ MINH KHUYÊN
    "12 MUÔN, CHÍN NGÀN, SÁU TRĂM NĂM" = 129.600 năm ?
    Nhưng theo khoa vật lý địa cầu thì tuổi trái đất khoảng 5 tỷ năm (~ 5.000.000.000 năm).
    Khoa học đúng hay cơ bút đúng ?

  6. #6
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi NguNgo Xem Bài Gởi
    "12 MUÔN, CHÍN NGÀN, SÁU TRĂM NĂM" = 129.600 năm ?
    Nhưng theo khoa vật lý địa cầu thì tuổi trái đất khoảng 5 tỷ năm (~ 5.000.000.000 năm).
    Khoa học đúng hay cơ bút đúng ?

    Ấy tu thì phải hành, hành thì đắc. Đắc thì tất sẽ hiểu câu thánh ngôn trên. Rán lên nào... peacepeace:kiss:

  7. #7

    Mặc định


    "12 MUÔN, CHÍN NGÀN, SÁU TRĂM NĂM" = 129.600 năm ?
    Nhưng theo khoa vật lý địa cầu thì tuổi trái đất khoảng 5 tỷ năm (~ 5.000.000.000 năm).
    Khoa học đúng hay cơ bút đúng ?

  8. #8

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mynhan Xem Bài Gởi
    Ấy tu thì phải hành, hành thì đắc. Đắc thì tất sẽ hiểu câu thánh ngôn trên. Rán lên nào... peacepeace:kiss:
    Này em Mỹ Nhân ! Anh thật lòng khuyên em hãy chịu khó ra nhà sách mua vài cuốn "Thiên Văn học loại dành cho trẻ em" về mà đọc cho mở mang cái đầu óc u tối của em đi đã, rồi hãy nói chuyện tu hành, nếu không thì chỉ có tu...hú !

    TB : Sách Thiên văn học có nhiều hình ảnh màu đẹp lắm đó, hấp dẫn không thua gì truyện tranh đâu !

  9. #9

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mynhan Xem Bài Gởi

    Kể từ Thái Cực, Lưỡng Nghi, ba mươi sáu từng Trời (36) Chín từng Cửu Thiên Khai Hóa. Nhứt mạch Đẳng Tinh-Vi, Thập Phương Chư Phật, Vạn-Chưởng Thế Giái, Đại Thiên Thế Giái, Tam Thiên Thế Giái, Tứ Đại Bộ Châu, Thất Thập Nhị Địa Cầu và chư Động Phủ Phật, Thánh, Tiên cư ngụ.

    Thưa chư Hiền-huynh, Hiền-tỷ, Tôi xin nhắc ngày giờ mới khai Đàn tại Cần Thơ, có mấy vị Đồ Nho hầu Đàn xin Bạch THẦY như vầy: xin THẦY từ bi giải cho chúng con rõ hình thức quả Càn Khôn Vũ Trụ sao mà con thường nghe mấy vị Đồ Nho bàn cải với nhau, mỗi mỗi không in một lý. Người thì nói TRỜI lớn, người thì nói PHẬT lớn, còn trong sách Tam-Tự Kinh chú giải thì Đức Thánh nói Tam Thập Tam Thiên, nên phần nhiều bình luận phân-phân bất nhứt. Con không rõ thế nào là đúng. Xin THẦY từ bi xá lỗi.

    THẦY ĐÁP: Các con có học rộng, nhưng cái rộng còn khuyết điểm muôn phần. Nơi Thế Giái hữu hình hiện tượng trước mặt mà con chưa hiểu đặng, huống hồ gì thấu đáo sư vô hình, vì huyền diệu Thiêng Liêng mà người không học Đạo dễ gì hiểu đặng. Những bậc Thánh trước Hiền xưa ra công tham khảo cùn đời, mãn kiếp còn chưa vén nổi cái màng bí mật của Đấng Tạo Hóa đón ngăn, huống chi người thường nhơn luận bàn làm sao cho suốt lý.
    (Paragraph 4)
    Kể từ khi THẦY sai Bàn Cổ xuống thế mở mang địa cầu nầy, nhơn-loại thuở đó còn mang hình tượng Thiêng Liêng chưa biết mặc áo quần, còn ở nơi hang hố chưa có nhà cửa, chưa có văn tự. Từ đó về sau mấy ngàn năm đến đời Ngũ Đế, họ Phục Hi, họ thường hết tâm theo quái điểu tích (tầm dấu chân chim) chế ra văn tự để mà ghi nhớ. Từ đó về sau mới có lịch-sữ, nên sách Nho có câu:
    cái cái thiên nhị chi dân,
    sào cư huyệt sữ nhụ mao ẩm huyết,
    đồng nhi các vĩ kỳ hàn,
    ẩm cư vĩ thị kỳ thử.
    Nên lúc đó văn tự bất quá nghe truyền ngôn độ chừng rồi chép bướng, hỏi vậy lấy đâu làm bằng chứng. Ấy là nói tích ở Thế gian nầy còn chưa rõ, còn luận qua Thế-giới khác, như nhắm mắt mò kim đáy biển, hay bầy kiến tầm đường lên Núi Tu-Di, thì chẳng khác sự học thuyết của người mài kiếm dưới bóng trăng, ếch nằm đáy giếng, cũng có lắm người gọi mình là hay giỏi, dẫn người đi lạc bước sai đường. Thân mình mù-quáng mà chưa hay, còn tài khôn dắt thêm kẻ tối đui thì làm sao khỏi lọt vào đám chông gai cùng sa hầm sa hố … Cười …

    "Nếu người nào muốn học hỏi thì THẦY cũng rộng giãng dạy, còn kẻ nào không chịu học, sau đừng đổ cho Phật giã vô ngôn."

    Vậy trước khi chưa phân Trời Đất, khí Hư Vô bao quát Càn Khôn sáng soi đầy Vũ Trụ. Đó là một cái trung tâm điểm tức là ĐẠO, rồi ĐẠO ấy mới sanh Thái Cực. Hồng mông sơ khởi huyền-huyền hạo-hạo, khối lại thành ngôi Thái Cực rất đầm ấm lưng chừng. Trong đó toàn là một khối, đúng mấy muôn năm đùng nổ ra một tiếng dường như Thiên khuynh, địa-phúc, thì đã có THầY ngự trong ngôi Thái-Cực. Rồi đó có một tầng DƯƠNG một tầng ÂM gác chồng nhau thành hình chữ thập ló ra bốn cánh, kể là lưỡng nghi sanh tứ tượng, chữ thập mới dần-dần quanh lộn chạy lăn tròn như chong-chống. Giăng tủa ra muôn ngàn quả tinh cầu Thế giái, chữ Thập ấy dưới có bốn cánh bóng kêu là tứ Âm, tứ Dương tác thành Bát-quái là: CÀN, KHẨM, CẤN, CHẤN, TỐN, LY, KHÔN, ĐOÀI. Bát-quái mới biến hóa vô cùng phân định ngũ-hành, Càn Khôn muôn vật, Thái Cực sanh lưỡng nghi tức là Tam Thiên Vị (3 ngôi Trời) dưới ba ngôi ấy có Tam-Thập Tam Thiên (33 từng Trời) cộnh với ba ngôi trên là 36 từng… Nên kiêu là Tam Thập Lục Thiên. Trong mỗi từng Thầy chia chơn linh có một vị Đại-La Thiên-Đế Chưởng-Quản. Chỗ THẦY ngự là nơi Bạch-Ngọc Kinh là Kinh-Thành toàn là ngọc trắng rộng cao vọi-vọi. Ngoài là Huỳnh-Kim-Khuyết, cửa ngỏ bằng vàng cực kỳ mỹ lệ, dưới ba mươi sáu tầng Trời, còn một tầng kế Nhứt Mạch Đẳng Tinh-Vi gọi là cảnh Niết-Bàn. Chín tầng nữa gọi là Cửa-Thiên Khai-Hóa, tức là chín phương Trời cộng với Niết-Bàn là mười, gọi là Thập-phương Chư Phật. Gọi chín phương Trời mười phương Phật là do nơi đó.”

    “Trong cõi Niết-Bàn là chư Phật ngự: Phật-Tổ ngự nơi hướng Tây, Quan-Âm ngự hướng Nam, mỗi từng đều có sơn xuyên hà hải, tứ phương, bát hướng liên Đài hằng hà sa số Phật. Còn hai chữ Như-Lai là Cảnh Phật chớ không phải là danh Phật. Nên trong Kinh có câu: “Bổn Giái Vị Như Kim Giái Như Lai” còn Bồ-Đề là chỗ Phật ngự, Phạm-Môn là cửa Phật, Bĩ-Ngạn là Đất Phật, Huỳnh-Kim Bố-Địa là vàng rồng đầy đất, còn chỗ Nam-Hải ngạn thượng là Quan-Âm ngự gần bờ biển Nam nơi cảnh Phật, chớ không phải hướng Nam như cảnh phàm. Đó là còn ở thượng từng không-khí hay là hư-vô chi-khí, rồi kế đó có Đại-Thiên Thế-Giái là Thế-Giái rất lớn có mấy triệu tinh-cầu bao trùm cả nơi mấy Thế-Giái đó. Kế đó là Thượng-Phương Thế-Giái đó là chỗ Đức TâY VƯƠNG MẫU ngự nơi Cung Diêu Trì, gần đó có vườn Ngạn-Uyển Bàn-Đào, Ngũ-Nhạc Bồng-Lai Nhược-Thũy. Còn các Đấng Thiêng-Liêng nam nữ hằng hà sa số lầu Đài Cung Điện toàn bằng Ngọc-Ngà Châu-Báu, Hổ-Phách San-Hô, như lục, Thiên-Ngân-Cung Tử-Phủ Thánh-Đế Điện-Đài Lãng-Phóng trong cảnh nhị châu Chơn-Võ, Nơi Linh-Tiêu-Điện là chỗ chư TIÊN nhóm hội, có Ngọc-Vệ Kim-Nương, giao-lê quả-táo toàn là kim-dược nhẹ-nhàng cũng Kim-Đơn Đề-Hồ, Huỳnh-Tương, trường-sanh chi tử, lò rượu trường-sanh dùng đặng sống hoài không chết.”

    Kế đó là Trung-Phương Thế-Giái cũng là nơi cung Điện của THẦN, TIÊN, Nhơn-Tiên, Quỉ-Tiên, các bậc Quần-Tiên. Kế đó là Hạ-Từng Thế-Giái, Tam-Thiên Thế-Giái, ba ngàn quả Tinh-Cầu là Địa-Cầu Số 1 cho đến Địa-Cầu các con ở là Địa-Cầu 68. Từ hồi có Địa-Cầu nầy đến nay kể ra đặng: 12 MUÔN, CHÍN NGÀN, SÁU TRĂM NĂM. Dưới các con còn bốn Địa-Cầu nữa, còn U-Minh chưa có loài người kêu bằng U-MINH-GIỚI, nên từng Thế-Giới Địa Cầu đều có các đẳng nhơn-loại.”

    Nên chi có điều khác nhau là do không-khí nặng nhẹ cùng tùy theo công-quả của mỗi Tinh-Cầu cách nhau từ một MUÔN cho đến mười MUÔN dặm, luôn-luôn xây tròn giáp một Vòng là 360 ngày gọi là một NĂM. Nơi Địa-Cầu cũng có Sơn-Xuyên Hà-Hải như: Thái-Bình Dương, Đại-Tây Dương, Bạch-Hải, Hắc-Hải, Hồng-Hải chỗ trắng, chỗ đen, chỗ xanh, chỗ đỏ, bề sâu có chỗ tới 8,000 ngàn thước, chỗ 3,000 thước, chỗ 2,000 thước không đều nhau. Còn núi Tu-Di cao độ phỏng 8,000 thước. Núi nhiều chỗ thấp, chỗ cao không đồng. Phong Thũy mùa tuyết nóng nực không đồng, như mùa nắng đây, chỗ khác lại mưa, xứ nóng nực, xứ lạnh lùng, như ngày đêm trong Lục-Địa có 24 giờ, còn người ở Bắc-Băng Dương sáu tháng tối, sáu tháng sáng, quanh năm nước đặc như giá, chỗ chua, chỗ mặn, chỗ ngọt không đều. Còn màu da của người, nào là da trắng, da đen, da vàng, da đỏ. Nước thì lớn cao đồ-sộ, nước thì lùn thấp nhỏ con. Dân số trên Toàn-Cầu phỏng định 2 tỷ 300 triệu sanh-sanh tử-tử không ngừng. Điểu thú côn trùng cũng đều khác lạ như chim Đại-bàng rất lớn lần-lần nhỏ như chim Sắc chim Sâu. Loài Cá như cá Ông, Cá Mập, Cá Sà, Cá Sấu, rồi nhỏ lần Cá Bạc-Mạ, Cá Trắng. Loài thú như Tượng-Voi, rồi tới những loài Nhiếm-Mang, Chuột, Bọ. Chính những loài cầm-thú suốt đời ta chưa còn hiểu biết hết lựa là đến việc cao-siêu, nếu ta không học hỏi các Đấng vô-hình thì ta phải chịu tối tăm mù-mịch không mong gì đoạt thấu huyền-vi mà siêu Phàm nhập Thánh. Hễ ta học nhiều chừng nào ta sẽ thấy dốt nhiều chừng nấy.

    Vậy chư Huyền-Huynh, Hiền-Tỷ, ta phải gia tâm sưu-tầm cho hoạt-bát, nếu ỷ lại sự biết của mình là đủ thì dạ-thảo bích-châu, đường muôn dặm bóng xế chiều không rán bước ắt là phải trể.
    SAO Y NGUYÊN VĂN TÒA-THÁNH, ngày 20 tháng 6 năm BÍNH-TÝ (dl.03.8.1996)
    Cải Trạng LÊ MINH KHUYÊN
    Thưa quý vị ! Xin quý vị chú ý !

    Thầy đã ban dạy cho chúng ta một vũ trụ luận vô tiền khoáng hậu, kính xin đặt cho nó cái phương danh là Vũ trụ luận “thần tiên bát quái“.

    Cái vũ trụ luận “thần tiên bát quái“ này mà đem đi dụ hoặc đàn bà con nít thất học thì ngon ăn rồi, phải không quý vị !

    Nhưng ngon ăn nhất là đem gởi cái “công trình khoa học” này cho các tổ chức Thiên văn học, Vũ trụ học trên khắp thế giới thì ắt họ phải khóc ròng. Vì sao vậy ? Bởi vì họ sẽ vô cùng ân hận rằng họ đã phung phí quá nhiều tiền của và công sức để xây dựng nào là đài thiên văn, nào là máy gia tốc hạt cơ bản, nào là phóng vệ tinh đưa kính thiên văn lên quỹ đạo v.v… và sau đó họ sẽ làm gì nhỉ ?

    Không đến nỗi khó đoán đâu quý vị ! Chắc hẳn là họ ùn ùn tranh nhau đi mua vé máy bay để kéo đến tòa thánh Tây Ninh. Họ sẽ chen lấn tranh nhau đặt hàng, đại để như :

    - Cầu cho chúng tôi một cơ xem vũ trụ sẽ giãn nở mãi mãi hay sẽ dừng lại ?
    - Cầu cho chúng tôi một cơ xem vũ trụ có bao nhiêu % vật chất tối ?
    - Cầu cho chúng tôi một cơ xem vì sao vật chất nhiều hơn phản vật chất ?
    - Cầu cho chúng tôi một cơ xem có còn hạt nào nhỏ hơn hạt quak nữa không ?

    Thế là phát tài ! Phát danh ! Phát lợi !
    Dễ như húp cháo.

    Quý vị nào đồng ý thì giơ hai tay !

  10. #10

    Mặc định

    GS Nguyễn Quang Riệu - Con kiến lạc lõng trong sa mạc
    20/11/2010 1057
    Là Tiến sĩ khoa học vật lý, đại học Sorbonne, Paris, năng lực tổng hợp, tư duy trừu tượng cùng khả năng nghiên cứu độc lập đã giúp ông chinh phục những đỉnh cao khoa học, mang đến những khám phá mới mẻ về hệ mặt trời và các giải ngân hà, giải đáp được nhiều câu hỏi liên quan trực tiếp đến tương lai của con người trên trái đất, những hiểm họa thường trực của các thiên thạch đang đe dọa nền văn minh nhân loại.

    Năm 1973, ông vinh dự nhận giải thưởng Hàn lâm khoa học Pháp. Tâm niệm của ông suốt bao năm là làm thế nào phổ biến kiến thức thiên văn cho người dân trong nước và thế giới, để mọi người đều có thể hiểu và yêu vũ trụ bao la...

    Để cùng GS Nguyễn Quang Riệu "lang thang trên dải Ngân Hà", xin mời đặt câu hỏi TẠI ĐÂY.

    Cuộc giao lưu sẽ chính thức bắt đầu vào 15h30 ngày 22/11/2010.

    "Chúng ta có bổn phận để lại cho hậu thế một hành tinh xinh đẹp"

    Là đời thứ 11 của dòng họ Nguyễn Văn ở Lai Xá, nổi tiếng với nghiệp kinh doanh, lý do gì khiến ông chọn thiên văn học?

    Quê nội tôi ở làng Lai Xá, tỉnh Hà Tây, nơi mà người ta thường coi là cái nôi của ngành nhiếp ảnh Việt Nam. Gia đình tôi cũng kinh doanh ngành nhiếp ảnh tại Hải Phòng. Tuy nhiên dòng họ Nguyễn chúng tôi đã có những bậc tiền bối là nhà trí thức mà nhiều người biết đến. Cố Giáo sư Nguyễn Văn Huyên là con đời thứ 10 cuả dòng họ và là người đầu tiên trong họ đỗ bằng tiến sĩ văn chương ở Pháp.

    Thời thơ ấu, tôi thường được gia đình dẫn lên chơi đồi Phủ Liễn ở ngoại ô Hải Phòng, nơi có thiết bị dành cho những người chiêm ngưỡng bầu trời. Có lẽ đây là cơ duyên thôi thúc tôi theo đuổi ngành thiên văn. Thần tượng của tôi không phải là những nhà khoa học tiếng tăm mà lại là những nhà khoa học vô danh của Đài Phủ Liễn hồi đó.

    Chúng ta có bổn phận để lại cho hậu thế một hành tinh xinh đẹp, trên đó họ có thể có một đời sống lành mạnh


    Hình vẽ giáo sư Nguyễn Quang Riệu. Chân dung hội họa: Võ Thành Lân. Ảnh SGTT

    Quãng thời gian đại học là thời kỳ đầy khó khăn, vì lúc đó quê nhà đang chiến tranh, mất liên lạc với gia đình, hai anh em ông làm thế nào để kiếm sống và hoàn thành chương trình học tiến sĩ?

    Trong quãng thời gian bị đứt liên lạc với gia đình, tôi phải vừa học vừa làm những công việc nhẹ thích hợp với sức lực. Hồi đó, anh bạn Pháp giữ nhiệm vụ trông coi học sinh một trường trung học ở Paris thường xuyên giới thiệu học sinh đến tôi để được kèm thêm về môn toán lý. Người em tôi được học bổng và là học sinh nội trú. Chúng tôi cũng nhận được sự giúp đỡ của một gia đình quen thuộc. Tôi đã từng được làm trợ giảng tại đại học.

    Sau này, tôi được nhận làm nghiên cứu viên trong Trung tâm Nghiên cứu khoa học Pháp. Sở dĩ chúng tôi đã vượt qua được những khó khăn về mặt tình cảm và vật chất để đạt được chỗ đứng như ngày nay, chính là nhờ có nền giáo dục mà chúng tôi đã nhận được của gia đình.

    Ông có thể kể một chút về hai người em trai của mình?

    Nguyễn Quang Quyền, người em trai tôi, nguyên là một nhà giài phẫu kiêm hình thái học đã từng giảng dạy tại Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh. Em tôi đột ngột ra đi sau một tai nạn giao thông, cách đây đã hơn mười năm. Sự ra đi của em tôi không những đã làm cho chúng tôi bàng hoàng thương tiếc mà cả Bộ môn giải phẫu cũng mất một người thầy có uy tín nhiều thế hệ sinh viên. Người em út của tôi là Nguyễn Quý Đạo, một chuyên gia hóa học, cũng thường xuyên về nước tham gia giảng dạy.

    "Chỉ là những con kiến lạc lõng trong sa mạc"

    Khi đối diện với các vì sao xa xôi đã chết hàng tỷ năm, ông nghĩ gì về thân phận của trái đất, thân phận con người?

    Tuổi thọ của những ngôi sao cũng như của con người trên trái đất không phải là vô hạn. Khoảng 5 tỳ năm nữa, mặt trời sẽ phun hết cả vật chất và cuối cùng rồi sẽ đi vào cõi vĩnh hằng. Số phận trái đất gắn liền với số phận mặt trời.

    Tuy nhiên, những thảm họa do chính con người gây ra lại có khả năng xẩy ra ngay trước mắt. Hiện tượng khí hậu ấm lên có thể biến trái đất dần dần thành một hành tinh khô cằn, hạn hán và lũ lụt ngày càng trở nên trầm trọng. Nước biển có khả năng dâng lên làm tràn ngập đất đai trên quy mô lớn. Nước ta vừa hẹp vừa có bờ biển dài hàng nghìn km nên có khả năng bị thiệt hại nhiều. Kịch bản bi quan này có thể xẩy ra, nếu nhân loại cứ tiếp tục sử dụng thoải mái nhiên liệu hóa thạch.

    Nhân Hội nghị Copenhagen tháng 12 năm 2009, chúng ta hy vọng là đại biểu toàn thể các quốc gia trên thế giới ý thức được hậu quả tai hại của hiệu ứng nhà kính nhân tạo mà các nhà khoa học đã tiên đoán và đồng ý thi hành triệt để những biện pháp phòng ngừa. Chúng ta có bổn phận để lại cho hậu thế một hành tinh xinh đẹp trên đó họ có thể có một đời sống lành mạnh.

    Với những tác phẩm Vũ trụ huyền diệu, Lang thang trên Dải Ngân hà, Sông Ngân khi tỏ khi mờ, Bầu trời tuổi thơ…, ông muốn mang lại điều gì cho độc giả? Theo ông, khám phá vũ trụ huyền diệu sẽ giúp con người điều gì khi khám phá bản thân mình?

    Mặc dù ở xa quê và sử dụng thường xuyên tiếng nước ngoài, tôi vẫn thấy cần phải làm thế nào để giữ được cội nguồn. Ngôn ngữ là một yếu tố cần thiết để đạt được mục tiêu này. Những tác phẩm về thiên văn học viết bằng tiếng nước ngoài không thiếu. Đối với tôi, viết sách bằng tiếng Việt mới diễn tả được những tình cảm sâu sắc. Chọn lựa những đề tài thích hợp đối với độc giả trong nước, dù là những tác phẩm phổ biến khoa học, cũng là điều quan trọng.

    Trong những khóa học thiên văn tổ chức trong nước, tôi thường giảng bài bằng tiếng Việt. Như thế tôi cảm thấy gần gũi học viên và đồng thời được tham gia vào công việc duy trì tiếng Việt trong khoa học.

    Thông qua những cuốn sách, tôi muốn gợi lên sự quyến rũ của vũ trụ và kể lại những hoạt động nghề nghiệp của một nhà khoa học. Đôi khi, các nhà thiên văn được tôn sùng quá mức, họ được coi là những người có tầm nhìn rộng và tư tưởng cao siêu. Nhưng thật ra, đối với vũ trụ, họ như những con kiến lạc lõng trong bãi sa mạc và chỉ nhìn thấy xung quanh mình toàn là những hạt cát. Khám phá vũ trụ có thể giúp con người khiêm tốn hơn trước vũ trụ mênh mông và có được tính kiên trì trước những thách thức trong khoa học.

  11. #11

    Mặc định

    Trịnh Xuân Thuận - người tri kỷ với ánh sáng
    Sunday, 08 November 2009
    Như Thanh Niên ngày 5.11.2009 đưa tin, giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã nhận giải thưởng Kalinga về phổ biến khoa học năm 2009 của UNESCO. Năm nay 61 tuổi, ông hiện giảng dạy tại Đại học Virginia (Mỹ), sống độc thân và từng nói: “ánh sáng là người bạn tri kỷ của tôi”.

    Giải mã bí mật ánh sáng

    Ông gắn bó với ánh sáng từ lúc bước chân đến Caltech (Mỹ) - thánh địa của các nhà thiên văn học - là nơi đặt kính thiên văn lớn nhất thế giới lúc bấy giờ (1967), với đường kính 5m trên đỉnh Palomar, cho phép phóng tầm mắt tìm hiểu quá khứ của bầu trời sao trong vòng hàng tỉ năm qua. Ở đó, ông choáng ngợp trước “cái vô hạn” của vũ trụ “có thể quan sát được” với khoảng 100 tỉ thiên hà. Mỗi thiên hà lại chứa trong lòng nó khoảng 100 tỉ ngôi sao và số hành tinh “đang sống” đạt tới 100 nghìn tỉ tỉ! Trong những “tỉ tỉ” đó chẳng lẽ không có sinh vật trí tuệ nào (như con người trên quả đất) hay sao? Khoa học hiện đại chưa có lời giải đáp dứt khoát điều ấy và cũng chưa có phương cách thoát khỏi “lẽ vô thường” đang chi phối và bao trùm vũ trụ. Chính ánh sáng, theo giáo sư Trịnh Xuân Thuận, đã xác nhận “lẽ vô thường” đó. Ông giải thích, đại ý:

    Hãy nhìn lên không trung bao la, trên ấy không có thứ gì đứng yên cả. Tất cả chuyển động và phát sáng. Những ngôi sao, những thiên hà, những cụm thiên hà, luôn quay cuộn quanh mình và tạo sức hút lẫn nhau theo “lực hấp dẫn”. Ông nói Trái đất cũng tham gia vào “điệu múa vũ trụ” bất tận ấy với vận tốc khoảng 30 km/giây. Vì thế chúng ta, những con người, cùng mọi sinh vật, và núi sông cây cỏ, trên thực tế không bao giờ được “đứng yên”, mà lúc nào cũng đang lao đi, theo chuyến du hành của Trái đất quanh Mặt trời. Rồi chính Mặt trời (kéo theo Trái đất) cũng “lang thang” và phóng quanh trung tâm của dải Ngân hà với vận tốc 230 km/giây. Rồi toàn bộ Ngân hà (kéo theo Mặt trời, Trái đất và các hành tinh trong Thái dương hệ) cũng lao đi với vận tốc 90 km mỗi giây. Rồi “cụm thiên hà địa phương” (kéo theo Ngân hà) cũng “rơi” về phía đám Vierge với vận tốc 600 km/giây. Và đám Vierge lại phóng đi theo sức hút của một đám thiên hà khổng lồ khác... Cứ như thế, như thế, tất cả lao vun vút về đâu? Tất cả đều chuyển động theo chiều sinh - diệt tiếp tiếp trùng trùng không dừng lại: “Trong vũ trụ, tất cả đều vô thường, đều thay đổi và chuyển hóa liên tục. Chúng ta không nhìn thấy sự náo động mãnh liệt này bởi vì các thiên thể ở quá xa và cuộc sống của chúng ta quá ngắn ngủi. Một lần nữa, lại chính ánh sáng đã tiết lộ cho chúng ta sự vô thường này của vũ trụ”.

    Ông cho biết, ánh sáng mang bản mật mã vũ trụ đến với chúng ta. Bởi ánh sáng “chỉ có thể nhìn thấy được nếu nó tương tác với các vật, chứ ánh sáng tự thân là ánh sáng không nhìn thấy được. Để ánh sáng nhìn thấy được, thì đường đi của nó phải bị một vật nào đó chặn lại, vật ấy có thể là cánh hoa hồng, là các chất màu trên bảng màu của người họa sĩ, là gương của kính thiên văn hoặc là võng mạc của mắt chúng ta”. Các nhà khoa học thu được quang phổ của ánh sáng do một ngôi sao hay một thiên hà phát ra và tùy theo cấu trúc nguyên tử của vật chất mà ánh sáng tiếp xúc, ánh sáng sẽ bị hấp thụ một lượng năng lượng rất chính xác, qua đó giúp tiến hành các phân tích để tìm hiểu thành phần hóa học của vũ trụ. Ánh sáng không chỉ thiết yếu đối với các nhà thiên văn học mà: “tất cả chúng ta đều là con đẻ của ánh sáng”. Và “tôi muốn khám phá không chỉ các chiều kích khoa học và công nghệ của ánh sáng, mà cả cái chiều kích thẩm mỹ, nghệ thuật và tâm linh của ánh sáng nữa. Tôi muốn nghiên cứu không chỉ vật lý về ánh sáng, mà cả siêu hình học về ánh sáng. Ý đồ của tôi là tìm hiểu xem bằng cách nào, ánh sáng đã giúp chúng ta trở thành người”.

    Ông đã trình bày chi tiết về những điều nêu trên qua một tác phẩm bằng tiếng Pháp, với tựa: Les voies de la lumière (Phạm Văn Thiều và Ngô Vũ dịch sang tiếng Việt: Những con đường của ánh sáng - vật lý và siêu hình học của ánh sáng và bóng tối, NXB Trẻ, 2008), được in lần đầu bởi NXB Fayard năm 2007. Cũng năm ấy, Viện Hàn lâm Pháp quyết định trao giải thưởng lớn Moron cho tác phẩm đó của ông. Người ta đánh giá giải thưởng Moron của Pháp tương đương với giải thưởng Pulitzer hay giải thưởng sách quốc gia của Mỹ và giới thiệu: “Trong tác phẩm dày 750 trang này, Trịnh Xuân Thuận đã thảo luận về ánh sáng và liên quan tới nó là bóng tối, trên nhiều phương diện, bao gồm tầm quan trọng của nó đối với sự sống, đối với khoa học, sự diễn giải ánh sáng của bộ não, nghệ thuật của các họa sĩ thuộc trường phái ấn tượng, việc sử dụng ánh sáng trong kiến trúc và các khía cạnh tâm linh của ánh sáng. Cuốn sách này cũng là bản sử thi về cuộc hành trình của con người đi vào vương quốc ánh sáng và giải mã những bí mật của nó”.

    Kết nối khoa học và tâm linh

    Về “hành trình” riêng, giáo sư Trịnh Xuân Thuận rời Việt Nam năm 16 tuổi, sống và làm việc ở nước ngoài 45 năm qua. Là tiến sĩ ngành vật lý thiên văn, tốt nghiệp Đại học Princeton (Mỹ), ông trở thành một trong những nhà khoa học hàng đầu của thế giới về lĩnh vực nghiên cứu sự hình thành của các thiên hà. Tuy là nhà thiên văn học, song tác phẩm của ông chứa đựng những tư duy triết học, đậm chất văn học, được người đọc trên thế giới đón nhận, đã dịch sang 20 thứ tiếng, xuất bản và phát hành rộng rãi tại Pháp, Mỹ, Đức, Ý, Thụy Điển, Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc...

    Cuối năm 2004, bằng kính viễn vọng không gian Hubble của Cơ quan Nghiên cứu vũ trụ Hoa Kỳ (NASA), ông cùng tiến sĩ người Ukraine là Yuri Izotov, chụp ảnh và khám phá tuổi của thiên hà trẻ nhất (mang tên I Zwicky 18) xuất hiện cách đây 500 triệu năm. So với thiên hà chúng ta đang sống (mang tên Ngân hà) thì I Zwicky 18 chỉ là một “đứa bé” sinh sau đẻ muộn đến hơn 10 tỉ năm và đang nằm ở vị trí mép rìa của vũ trụ, cách quả đất chúng ta khoảng 45 triệu năm ánh sáng. So với bán kính vũ trụ (đo bằng 14 tỉ năm ánh sáng), khoảng cách nêu trên là rất nhỏ, cho phép người trên quả đất tiến hành những nghiên cứu về sự ra đời của các ngôi sao vào thời vũ trụ mới khai sinh. Phát hiện trên của ông và tiến sĩ Yuri Izotov đã gây chấn động và tranh cãi trong giới khoa học trên thế giới.

    Ông đặc biệt nhắc đến cuộc gặp gỡ vào năm 1997 giữa ông với một thiền sư Tây Tạng là Matthieu Ricard. Matthieu là tiến sĩ sinh học người Pháp - đã từ bỏ tất cả để sống đời sống tu sĩ trong một thảo am hoang vắng trên dãy Hymalaya, đã nói với Trịnh Xuân Thuận rằng: điều cốt yếu không chỉ là kiến thức thu thập từ bên ngoài, mà cần nhận thức về những gì tiềm ẩn “bên trong” mỗi người, để tự tìm lấy câu trả lời: Tại sao chúng ta sinh ra và ai cũng phải chết? Tại sao đau khổ? Tại sao yêu và tại sao ghét? Con người chưa bao giờ tách rời khỏi tổng thể và con người không thể nhân danh sự sống của mình để tiêu diệt bất cứ mạng sống của sinh vật nào quanh mình, vì tất cả có chung một nguồn cội thiêng liêng.


    Trịnh Xuân Thuận, dưới góc độ khoa học, soi sáng điều Matthieu nêu trên qua những chứng cứ: “Tất cả chúng ta đều được sinh ra từ các sản phẩm Big Bang. Các nguyên tử hydro và hê-li chiếm 98% tổng khối lượng của vật chất thông thường trong vũ trụ đã được sinh ra trong 3 phút đầu tiên (sau vụ nổ Big Bang). Các nguyên tử hydro của nước trong các đại dương hay trong các cơ thể sống đều xuất phát từ món soup nguyên thủy này”. Món soup đó là hiện thân ban đầu của người Mẹ - sự - sống, không phải bằng xương thịt và máu đỏ như bây giờ, mà là một chất loãng bềnh bồng, nóng và ươn ướt như sữa, đã phôi thai “những người con” gồm loài người chúng ta, cùng mọi loài vật khác như chim trời, cá nước, voi, ngựa, bướm ong, núi sông, đất đai và mây khói. Nhưng dần dần “những người con” đã lỡ quên đi nguồn gốc Mẹ ban đầu nên quay ra “ăn thịt” lẫn nhau. Từ điều ấy, theo ông: “Khoa học có thể hoạt động không cần tới tâm linh. Tâm linh có thể tồn tại không cần tới khoa học. Nhưng con người, để trở nên hoàn thiện, thì cần phải có cả hai”.

  12. #12

    Mặc định


    GS. Trịnh Xuân Thuận

    Thầy Matthieu Ricard

    Trong cuộc đối thoại về mối tương quan và điểm gặp gỡ giữa khoa học với Phật giáo dưới đây, giáo sư Trịnh Xuân Thuận, một nhà vật lý thiên văn học nổi tiếng người Việt quốc tịch Mỹ đã nói không úp mở rằng, các vấn đề về thời gian và phương hướng vận động của nó còn lâu mới được giải quyết và còn bị bao bọc trong một màn sương mù dày đặc. Vì chính giáo sư Thuận đã thừa nhận như vậy, cho nên trong bài giới thiệu này, tôi chỉ tập trung vào một số vấn đề mà các nhà vật lý học hiện đại nói chung đã đồng thuận, tránh những vấn đề còn đang rối rắm, và hạn chế bài giới thiệu chủ yếu vào quan điểm của Phật giáo đối với thời gian, do thầy Matthieu Ricard trình bày. Đó cũng là phần trong bài có ích nhiều nhất đối với các Phật tử Việt Nam chúng ta.

    Ngành vật lý hiện đại đã chuyển từ khái niệm thời gian tuyệt đối và phổ quát của Newton sang khái niệm thời gian tương đối và mềm dẻo, uyển chuyển của Einstein, thời gian có thể biến đổi chậm hay nhanh theo sự di chuyển của ngưòi quan sát, và cường độ của trọng trường nơi người quan sát đang đứng.

    Ngoài ra, còn có sự phân biệt mà mọi người chúng ta đều cảm nhận giữa thời gian vật lý và thời gian tâm lý. Dựa vào lý gì mà đạo Phật bác bỏ thời gian tuyệt đối, và dùng thời gian tâm lý để khích lệ cuộc sống tâm linh. Phải chăng thời gian chỉ là một cấu trúc của tâm thức?

    Đó là chủ đề trao đổi giữa Giáo sư Trịnh Xuân Thuận, một nhà bác học vật lý người Mỹ gốc Việt, hiện là giáo sư Trường Đại học Virginia–Mỹ và Tiến sĩ sinh học, thầy Matthieu Ricard, hiện là tu sĩ tại một tu viện Nepal.

    GS. Trịnh Xuân Thuận (GS Thuận): Thời gian là một khái niệm không phải để nắm bắt, như Thánh Augustin đã từng nói ngay từ đầu thế kỷ IV sau Tây lịch: “Thời gian là gì? Khi không ai hỏi tôi, thì tôi biết. Nhưng khi người ta hỏi tôi và tôi muốn giải thích thì tôi không còn biết nữa”.

    Nhà vật lý học thường xuyên sử dụng khái niệm thời gian. Từ thế kỷ XVI, Galileo đã dùng thời gian như một yếu tố vật lý cơ bản để sắp xếp và gắn liền bằng toán học những kết quả đo đạc của ông đối với các vật thể vận động. Nhưng chỉ đến thế kỷ XVII, Newton với các quy luật cơ học của ông mới đưa ra được một định nghĩa minh bạch về thời gian. Ông mô tả sự vận động của các vật thể trong không gian bằng cách xác định vị trí và tốc độ của chúng ở các thời điểm nối tiếp nhau. Thòi gian của Newton là độc nhất, tuyệt đối và có giá trị phổ quát khắp mọi nơi. Thời gian và không gian tách biệt hẳn nhau. Thời gian trôi qua mà không có sự tác động qua lại với không gian.

    Năm 1905, Einstein công bố thuyết Tương đối hạn chế (thuyết Tương đối hẹp) của ông và bác bỏ khái niệm một thời gian tuyệt đối. Với Einstein, thời gian mất tính chất cứng nhắc và phổ quát. Nó thay đổi tùy theo sự di chuyển của người quan sát. Con ngưòi càng di chuyển nhanh thì thời gian đối với nó càng chậm lại. Một người ngồi trên một con tàu vũ trụ bay với tốc độ 87% tốc độ ánh sáng, thì thời gian đối với người đó có tốc độ chậm đi một nửa. Anh ta già chậm gấp hai lần người anh em sinh đôi đang ở dưới Trái đất. Sự khác biệt đó rất là thực tế. Người anh em ở dưới Trái đất sẽ có nhiều nếp nhăn và tóc bạc hơn. Trái tim của anh ta sẽ đập nhiều nhịp hơn, anh ta ăn nhiều bữa cơm hơn và uống nhiều hơn ...

    Theo thuyết Tương đối hạn chế của Einstein, thì tốc độ càng tăng, thời gian càng chậm lại. Tình hình không thấy rõ, với sự thay đổi bình thường của tốc độ di chuyển trong cuộc sống thường ngày, nhưng lại thấy rất rõ với những tốc độ gần với tốc độ ánh sáng là 300.000 km/giây. Với tốc độ đạt 99% tốc độ ánh sáng thì thời gian chậm tới 7 lần!

    Einstein còn cho biết, thời gian và không gian tác động hỗ tương lẫn nhau. Khi thời gian chậm lại thì không gian cũng thu hẹp lại. Đối với người ngồi trên con tàu vũ trụ, bay với tốc độ bằng 87% tốc độ ánh sáng, thì không những anh ta chậm già đi gấp hai lần, mà con tàu vũ trụ cũng bị thu nhỏ gấp hai lần, đối với người anh em sinh đôi, đang sống dưới Trái đất.

    Thời gian chậm lại không phải chỉ do tốc độ mà còn do lực hấp dẫn. Khi con tàu vũ trụ tiến lại gần rnột lỗ đen, ở đó có lực hấp dẫn rất lớn, thì đồng hồ ở trên tay nhà phi hành vũ trụ chạy chậm lại!. Thời gian cũng mất giá trị phổ quát. Thời gian khác biệt nhau đối với mỗi người. Hiện tại đối với tôi có thể là quá khứ đối với một người thứ hai và là tương lai đối với một người thứ ba. Đối với Einstein, thời gian trôi đi chỉ là ảo ảnh. Năm 1955, khi người bạn thân của Einstein là Michele Besso qua đời, ông phát biểu cảm tưởng của mình như là để trút hết nỗi đau buồn: “Đối với chúng tôi là các nhà vật lý học, mọi khác biệt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là ảo ảnh dai dẳng ngoan cố . . .”. Đối với nhà vật lý học hiện đại, thời gian như ngừng lại không trôi, nó dừng lại im lìm như một con đường thẳng vô tận ở cả hai chiều.

    Thầy Matthieu Ricard (thầy Matthieu): Đối với Đạo Phật, thời gian vật lý và tuyệt đối chỉ là một khái niệm không tồn tại đích thực. Không thể nắm bắt được thời điểm hiện tại vì nó không đủ bề dày để có điểm bắt đầu và điểm kết thúc. Thời gian thuộc về lĩnh vực chân lý tương đối của thế giới hiện tượng và chỉ là một khái niệm. gắn liền với kinh nghiệm của chúng ta, với những hệ chuẩn mực đặc biệt. Thời gian chỉ là một phương thức nắm bắt các hiện tượng, và không thể tồn tại độc lập tách rời khỏi các hiện tượng.

    GS Thuận: Có thể phân biệt thời gian tâm lý (thòì gian chủ quan) với thời gian vật lý (thời gian khách quan), không tùy thuộc vào tâm thức chúng ta, là thời gian của đồng hồ. Người ta đo đạc nó dựa vào một sự vận động đều đặn như sự vận động của Trái đất trên trục của nó. Nếu không có chuẩn mực để đo đạc, thì không thể có thời gian. Trước Big Bang(l), trước khi có vũ trụ sanh khởi, đặt vấn đề thời gian là vô nghĩa, bởi lẽ không có hiện tượng nào có thể dùng làm chuẩn mực để đo đạc. Thuyết Big Bang cho rằng, thời gian và không gian cùng sinh khởi với vũ trụ. Ngay Thánh Agustin, từ thế kỷ IV trước Tây lịch đã có tư duy tiến bộ cho rằng thế giới và thời gian cùng sinh khởi một lần. Thế giới được tạo ra không phải trong thời gian mà là với thời gian. Phải thừa nhận đó là một khái niệm tiến bộ về thời gian, khá gần gũi với tư tưởng của thiên văn học hiện đại.

    Trái lại, thời gian mà chúng ta cảm nhận từ trong tâm thức chúng ta là thời gian chủ quan, thời gian tâm lý, nó diễn ra nhanh hay chậm tùy theo tâm trạng của mỗi người. Những ngày giờ buồn chán hay sợ hãi hình như kéo dài hàng thế kỷ, còn những năm tháng hạnh phúc hình như trôi qua trong nháy mắt. Đối với người già, thời gian càng trôi qua nhanh chóng. Tuổi càng lớn, thời gian tâm lý càng rút ngắn. Các triết gia ở các thời đại khác nhau đều cảm nhận rõ sự khác biệt đó giữa cái gọi là thời gian khách quan, thời gian của đồng hồ với thời gian tâm lý thời gian mà tâm con người cảm nhận tùy theo trạng thái tâm lý của con người.

    Thầy Matthieu: Kant cũng nói là các khái niệm thời gian và không gian đều tùy thuộc vào mối liên hệ giữa chúng ta và thế giới tự nhiên, chứ không phải là thuộc tính riêng có của tự nhiên. Ông nói: “Thời gian chỉ là một điều kiện chủ quan của nhận thức trực cảm của chúng ta, nó không tồn tại ở ngoài chủ thể”.

    Các triết gia Phật giáo cũng như vậy, họ xem thời gian không phải là một thực tại cứu kính, không thể tồn tại tách biệt hiện tượng và người quan sát. Khi nói điểm bắt đầu của thời gian tức mặc thiên thừa nhận tính chất ảo ảnh của thời gian rồi. Vì có thể hỏi: “Trước điểm bắt đầu đó có gì?”. Câu hỏi vô nghĩa đó cho thấy chúng ta đối diện thời gian không phải như một thực tại mà như một cấu trúc của tâm thức.

    GS Thuận: Ngoài tâm trạng như trí nhớ, sự chú ý hiện tại, sự chờ đợi tương lai, ngoài những tâm trạng đó thì không có thời gian. Hơn nữa, thời gian tâm lý rất khác với thời gian vật lý, thời gian của đồng hồ. Tại sao lại có sự khác biệt giữa hai loại thời gian đó?

    Thầy Matthieu : Sự khác biệt đó chỉ là một sự bí mật nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta tách biệt thế giới. Tôi muốn hỏi phải chăng thòi gian vật lý chỉ là do thời gian tâm lý trừu tượng hóa mà thành. Còn thời gian tâm lýí thì nảy sinh từ sự khác biệt giữa nhũng điều đã được làm và nhũng điều chờ đợi sẽ xảy ra. Nhưng các nhà vật lý lại muốn giải thích cuộc sống của chúng ta bằng vật lý và biến khái niệm thời gian vốn là ảo ảnh thành một cái gì thực tại.

    GS Thuận: Có thể chăng là do hoạt động của bộ não khiến chúng ta cảm nhận có thời gian trôi qua. Các dữ kiện của thế giới khách quan được các cảm quan chuyển tới bộ não rồi được bộ não xây dựng sắp xếp thành một hình ảnh tâm thức. Hoạt động tạo hình ảnh đó của bộ não là kết quả của sự hoạt động đồng thời của các vùng khác nhau trong bộ não, mỗi vùng làm một chức năng riêng biệt. Theo nhà thần kinh học Francisco Varela, chính tính phức tạp của nhiệm vụ kết hợp các vùng tức các bộ phận cấu thành khác nhau của bộ não khiến chúng ta có cảm giác thời gian. Thời gian vật lý cũng như thời gian tâm lý chỉ có một phương vận động là bay về phía trước như mũi tên sau khi tách rời khỏi cây cung cũng lao thẳng về phía trưóc. Do vậy người ta gọi thời gian là mũi tên thời gian. Chính tính không thể chuyển hướng của thời gian khiến chúng ta sợ chết. Mọi người đều biết mình đi từ cái nôi đến cái mồ.

    Thầy Matthieu: Phật giáo sử dụng thời gian tâm lý để làm chủ tâm trạng sợ chết và khích lệ sự siêng năng tu tập. Phật giáo không né tránh, trái lại khuyến khích chúng ta quán tưởng cái chết như một sự kiện bình thường khiến cho khi giờ chết đến chúng ta tiếp thu cái chết với thái độ bình thản.

    Ở Tây Tạng, các tu sĩ thường lật úp chén nước sau khi uống xong mỗi buổi tối trước khi đi ngủ để phòng sáng mai có thể ngủ luôn không dậy nữa! Lý do là ở Tây Tạng khi có một người chết thì những người chứng kiến đều lật úp chén nước.

    Mọi người hãy cảm thấy vui vì sau khi thở ra–lại có thể thở vào được. Như vậy, mọi người đều được giáo dục về khả năng cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào. Thở ra rồi còn thở vào được, chỉ điều đó thôi cũng làm cho chúng ta sung sướng rồi. Ngài Long Thọ viết trong “Bức thư gửi cho một người bạn”:

    “Nếu cuộc sống này phải chịu hàng nghìn phiền não, khổ đau.
    Nó còn bấp bênh hơn bọt nưóc trên sông,
    Thì kỳ diệu thay! Sau một đêm ngủ lại được thức dậy thở vào thở ra thoải mái”.
    Đức Phật trong tập kinh Udanavarga:

    “Tất cả mọi cái chúng ta tích lũy cuối cùng sẽ phân tán
    Mọi cái chúng ta xây dựng cuối cùng cũng đổ sập,
    Cái tập họp rồi cũng chia ly,
    Mọi cái sống cuối cùng cũng chết”
    Thời gian trôi không trở lại sẽ kích thích hạnh tinh tấn trong mỗi người.

    Padmasambava (Liên Hoa Sinh), vị đạo sư đã du nhập đạo Phật vào Tây Tạng, viết:

    “Cũng như dòng suối chảy ra biển,
    Như mặt trời và mặt trăng di chuyển tới các rặng núi nơi mặt trời lặn,
    Như ngày và đêm, giờ phút đang thoát xa,
    Đời sống con người cũng trôi qua không thể khác”
    Đức Phật dùng hình ảnh một lực sĩ lấy tay bắt 4 mũi tên do các xạ thủ bắn đi từ các hướng khác nhau nhưng Phật nói: “Còn nhanh hơn là: thời gian trôi qua và cái chết đến”. Vì vậy, đối với Phật tử, thời gian là cái quý nhất không được để lãng phí do thái độ bàng quan của nhũng người quên mất cái chết đang chờ đợi họ.

    (Theo L'infini dans la paume de la main chương 9, bản tiếng Pháp, Matthieu Ricard - Trịnh Xuân Thuận)

    (1) Big Bang: Vụ nổ đầu tiên sinh ra vũ trụ này.

    Xin đọc thêm:

    Vô Tận trong lòng bàn tay. Từ thuyết Ðại bùng nổ đến Giác ngộ
    http://vietsciences.free.fr/timhieu/...anphatgiao.htm

  13. #13
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi NguNgo Xem Bài Gởi
    Này em Mỹ Nhân ! Anh thật lòng khuyên em hãy chịu khó ra nhà sách mua vài cuốn "Thiên Văn học loại dành cho trẻ em" về mà đọc cho mở mang cái đầu óc u tối của em đi đã, rồi hãy nói chuyện tu hành, nếu không thì chỉ có tu...hú !

    TB : Sách Thiên văn học có nhiều hình ảnh màu đẹp lắm đó, hấp dẫn không thua gì truyện tranh đâu !
    Á...hihihi....xin chào anh...

    Anh đến đây chỉ muốn nói cho em biết anh là hết sức thông minh. Còn em là kẻ ngu dốt không phân biệt được đâu là phải trái.

    Sắc tức thị không, không tức thị sắc. á.

  14. #14

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi dienthoai Xem Bài Gởi
    GS Nguyễn Quang Riệu - Con kiến lạc lõng trong sa mạc
    ...
    [/B]
    Tôi không lạ gì vị này qua cuốn :"Vũ trụ , Phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại, Nhà XB Giáo dục - 1995"

    "Con kiến lạc lõng trong sa mạc" thì có hay ho gì hơn câu của Newton "... giọt nước trong đại dương".

    Riêng tôi thì thích câu thơ của thi hào Ấn-độ Tagore hơn :

    "Thượng đế yêu ánh đèn của con người hơn ngàn sao trên trời."

  15. #15

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi dienthoai Xem Bài Gởi
    Trịnh Xuân Thuận - người tri kỷ với ánh sáng
    Sunday, 08 November 2009
    ...
    [/B].
    Tên chính xác của cuốn sách là :"Cái Vô Hạn trong lòng bàn tay - Từ Big Bang đến Giác ngộ, Nhà XB Trẻ 2005".

    (Chứ không phải là "Vô Tận trong lòng bàn tay. Từ thuyết Ðại bùng nổ đến Giác ngộ")

    Vị này còn có mấy cuốn như :
    "Hỗn độn và hài hòa, Nhà XB KHKT 2005"
    "Giai điệu bí ẩn - và con người đã tạo ra vũ trụ , Nhà XB KHKT 2000"

    Mấy cuốn trên tôi đều mua đủ và xem không ít hơn hai lần.

    Nhân tiện giới thiệu luôn cho ông, nếu ông có nhu cầu tìm hiểu.

    --

    Ông đừng nên nuôi ảo tưởng rằng ánh sáng tự nhiên có mối liên hệ mật thiết với mấy cái tiểu kinh quang , đại linh quang !

    Còn ánh sáng, hào quang... mà một người tu tập thiền định theo kiểu ức chế tâm thường gặp, lại càng chẳng có liên hệ gì với ánh sáng tự nhiên. Nó chỉ là sắc tướng của tưởng thức, xuất hiện khi ý thức ức chế được tạp niệm. Nó tương tự như ánh sáng ta gặp trong một cảnh chiêm bao vậy thôi. Khi người ta ngủ, ý thức ngưng nghỉ, nếu tưởng thức hoạt động sẽ sinh ra cảnh chiêm bao.

    Một người tu thiền phải biết sợ hãi và xả bỏ cho được loại ánh sáng, hào quang này nếu không họ sẽ đi vào tà định (chẳng hạn như thiền xuất hồn), chứ không phải chánh định.

    (Chánh định : là loại thiền định giúp cho hành giả làm chủ sinh, già, bệnh, chết, vượt thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi.)

  16. #16

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mynhan Xem Bài Gởi
    Á...hihihi....xin chào anh...

    Anh đến đây chỉ muốn nói cho em biết anh là hết sức thông minh. Còn em là kẻ ngu dốt không phân biệt được đâu là phải trái.

    Sắc tức thị không, không tức thị sắc. á.
    Chào em Mỹ Nhân,

    Thật là oan cho Đức Phật, ngài dạy "Sắc tức thị Sắc, Không tức thị Không." !

    Thế mà người đời sau không phân biệt được đâu là phải trái, miệng lưỡi không xương nhiều đường lắt léo mới đổi thành : "Sắc tức thị không, không tức thị sắc".

    Đọa địa ngục là cái chắc !!!

    Anh chỉ muốn làm rõ hơn những điều mà người ta hay cả tin nhưng ít chịu khó suy nghĩ thêm.

  17. #17

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi NguNgo Xem Bài Gởi
    Tên chính xác của cuốn sách là :"Cái Vô Hạn trong lòng bàn tay - Từ Big Bang đến Giác ngộ, Nhà XB Trẻ 2005".

    (Chứ không phải là "Vô Tận trong lòng bàn tay. Từ thuyết Ðại bùng nổ đến Giác ngộ")

    Vị này còn có mấy cuốn như :
    "Hỗn độn và hài hòa, Nhà XB KHKT 2005"
    "Giai điệu bí ẩn - và con người đã tạo ra vũ trụ , Nhà XB KHKT 2000"

    Mấy cuốn trên tôi đều mua đủ và xem không ít hơn hai lần.

    Nhân tiện giới thiệu luôn cho ông, nếu ông có nhu cầu tìm hiểu.

    --

    Ông đừng nên nuôi ảo tưởng rằng ánh sáng tự nhiên có mối liên hệ mật thiết với mấy cái tiểu kinh quang , đại linh quang !

    Còn ánh sáng, hào quang... mà một người tu tập thiền định theo kiểu ức chế tâm thường gặp, lại càng chẳng có liên hệ gì với ánh sáng tự nhiên. Nó chỉ là sắc tướng của tưởng thức, xuất hiện khi ý thức ức chế được tạp niệm. Nó tương tự như ánh sáng ta gặp trong một cảnh chiêm bao vậy thôi. Khi người ta ngủ, ý thức ngưng nghỉ, nếu tưởng thức hoạt động sẽ sinh ra cảnh chiêm bao.

    Một người tu thiền phải biết sợ hãi và xả bỏ cho được loại ánh sáng, hào quang này nếu không họ sẽ đi vào tà định (chẳng hạn như thiền xuất hồn), chứ không phải chánh định.

    (Chánh định : là loại thiền định giúp cho hành giả làm chủ sinh, già, bệnh, chết, vượt thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi.)
    Chào ngungo,
    Dt trích dẫn các nhân vật trên để mọi người thấy rằng, khi con người ta học cái gì mà đến nơi đến chốn thì người ta lại thấy mình chỉ là con kiến trước sa mạc vủ trụ mà biết khiêm tốn trong cuộc sống và tu cách đối xử với đời. Còn học cái kiểu ba rọi, tái không tái chín không chín chỉ chực chờ đem khoe mẻ thị phi hạ bệ người thì : lưu manh chẳng rõ - anh hùng trí thức cũng không, chỉ còn có nước liệt vào danh sách Te-rô-rít đạo giáo kiêm chơi nổi :smug:

  18. #18

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi dienthoai Xem Bài Gởi
    Chào ngungo,
    Dt trích dẫn các nhân vật trên để mọi người thấy rằng, khi con người ta học cái gì mà đến nơi đến chốn thì người ta lại thấy mình chỉ là con kiến trước sa mạc vủ trụ mà biết khiêm tốn trong cuộc sống và tu cách đối xử với đời. Còn học cái kiểu ba rọi, tái không tái chín không chín chỉ chực chờ đem khoe mẻ thị phi hạ bệ người thì : lưu manh chẳng rõ - anh hùng trí thức cũng không, chỉ còn có nước liệt vào danh sách Te-rô-rít đạo giáo kiêm chơi nổi :smug:
    Sao lại ấm ức đến nổi mất tự chủ như thế !

    Khổng Tử đã dạy : “Biết thì bảo rằng biết, không biết thì bảo rằng không biết, ấy là biết vậy !”

    Lẽ ra ông nên tập trung trí não vào việc giải thích những thắc mắc và nghi vấn của người ta thì hay biết bao !

    Tiếc thay, ông không đủ tri thức và sự tĩnh tâm, nên cứ chăm bẳm vào việc lên mặt rao giảng đạo đức tâm linh, cứ như là ai đụng chạm đến đức tin của ông đều là những kẻ chẳng có chút gì tâm linh vậy.

    Bí quá, ông đành “mượn hơi hùm” của mấy vị có tiếng tăm để dạy khéo người ta, ngờ đâu đó cũng là những thứ mà người ta đã học nằm lòng từ lâu, chỉ có ông là thấy mới lạ mà thôi.

    Trong cơn tuyệt vọng, ông nổi đóa chụp mũ người ta tự cao, dùng đủ thứ từ ngữ tệ hại nhất để thóa mạ giống như mấy bà hàng tôm hàng cá vậy, và cuối cùng là giở bài “chính trị” kêu gọi sự ủng hộ của của những người đồng hội đồng thuyền.

    Ô hô ! Ai tai !

  19. #19

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi nghiemducmanh Xem Bài Gởi
    Kinh Bát Nhã này không phải do Đức Phật thuyết
    Chào nghiemducmanh,

    Xin hỏi, bạn có tu tập theo Phật giáo Nguyên thủy không ?

  20. #20

    Mặc định

    Theo triết lý Đạo Cao Đài thì đầu tiên trong Vũ Trụ chỉ có Khí Hư Vô. Khí Hư Vô là Khí có sẵn trong Trời Đất cùng với Lý là huyền năng vô biên nên không có danh từ nào để gọi cho đúng và Đức Lão Tử tạm dùng chữ TAO (Đạo) để đặt tên. Khí Hư Vô tượng trưng là vòng tròn, giống như tượng trưng của cái trứng, giữa vòng tròn lại có một điểm ở giữa tức là Thái Cực. Trong lúc TỊNH, thì Thái Cực là Một, nhưng khi ĐỘNG lại chia Vô Cực ra hai phần Dương và Âm. Tất cả mọi vật trong Trời Đất đều từ Âm và Dương mà được sanh hóa ra. Muốn hoá sanh các nguyên tử khác thì phải có sự va chạm. Sự nổ đầu tiên là sự phân Thái Cực ra Thái Dương và Thái Âm. Theo khoa học, gọi là BIG BANG hay vụ nổ nguyên tử đầu tiên trong Vũ Trụ như trái bom nổ dây chuyền và Đấng Thái Cực từ vầng lửa vĩ đại xẹt ra, nhân loại gọi Ngài là Đấng Sáng Tạo hay Đức Chí Tôn hay Đức Thượng Đế.

    Ngài phân Ngài ra Lưỡng Nghi và từ Lưỡng Nghi sanh ra Tứ Tượng, Tứ Tượng sanh ra Bát Quái, 16,32,64 ... Quái và vạn vật trong Càn Khôn Thế giới. Những gì biến dịch trong giai đoạn đầu tiên gọi là Tiên Thiên, được diễn tả trong Tiên Thiên Bát Quái. Những gì được hoá sanh và có sự sống thuộc Hậu Thiên được diễn tả trong Hậu Thiên Bát Quái.

    Các định luật phối hợp các nguyên tử của Ngũ Khí tạo thành 7 cõi khác nhau. Về mặt bản thể, cõi là một trạng thái tâm thức (state of conscience) chứ không phải là một vị trí ( locality
    NAM MÔ CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •