Bài này rất hay và thẳng thắn đưa ra ánh sáng khoa học hiện đại một cách nhìn về thiền của Phật giáo. Nhưng có vài điều HS xin góp ý với nhóm CTR xem lại:
1--
-->> con số 7 cõi trời là không đúng, nếu tính kiểu này không khéo cõi Nhân loại này cũng là coĩ trời sao? Dục giới có 6 cõi trời, Sắc giới có 16 cõi trời, Vô Sắc giới có 4 cõi trời.
2-- Xin các tác giả đừng dùng cách nói về Vi Diệu Pháp như châm chọc . Đấy là Tạng Luận chứ không phải món đồ chơi hay là một cuốn sách cổ đem ra nhìn ngắm chơi đâu.
3--
-->> 2 con mắt này chưa rõ ràng, e làm cho người đọc mù mờ chưa rõ. Pháp nhãn chỉ phát sanh trong lộ tâm đắc đạo, còn Tuệ nhãn lại là một kết quả của sự tu tập thiền tuệ. Tuệ giác chuyển thành Tuệ nhãn, thật ra Pháp nhãn và Tuệ nhãn lại không rõ ràng tuỳ nguồn tham khảo, quý vị cũng nên để ý 2 loại nhãn đặc biệt này không thuộc thần thông do thiền định sanh, mà thuộc thiền tuệ sanh có ảnh hưởng tới công trình tu tập của chúng sanh chuyển phàm sang thánh.
4--
-->> Định Dục Giới và định Hữu Sắc tuy khác nhưng giống ở phương tiện đều là Tâm Nhãn (danh từ chung của các loại Mắt Siêu nhiên) không phải Thiên Nhãn (danh từ riêng cho một loại thành tựu). Định Dục Giới ban đầu nương theo Nhục Nhãn để ghi nhớ đề mục vật chất (10 đề mục Tịnh sắc - Kasina) nhưng lại vô dụng với các đề Suy tưởng. Khi đã có Tầm, Tứ thì Nhục Nhãn trở thành dư thừa vì lúc đó hình ảnh kia được ghi nhớ trong tâm thức, gọi là Học tướng. Học tướng (Định Dục giới) và Tợ tướng (Định Sắc giới) đã có phát sanh ánh sáng cho nên 2 tướng này đều gọi là Quang tướng, đấy là điểm chưa rõ ràng của bài nghiên cứu này. Từ giai đoạn này cho tới Cận định tức là Định Dục giới, thì phải dùng Tâm Nhãn - trong trường hợp này chính là lộ Ý hướng tâm (Hướng ý môn + 8 đổng lực Dục giới có trí +18 đổng lực Thiền) để ghi nhớ Học tướng xuất hiện trong tâm thức dẫn nhập để đắc Định. Sau khi đạt tới Cận định thì có đầy đủ 4 chi thiền là Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc cùng có thêm yếu tố Nhất Tâm lúc này tạm thời trú trong Học tướng; rồi sau nữa Nhất Tâm sẽ trở thành Kiên Cố Định tức là thành tựu chi Định, lúc này tròn đủ 5 chi thiền của Định Hữu Sắc, bậc thiền đầu tiên gọi là Sơ Thiền. Định của các tầng Sắc giới vẫn là Tâm Nhãn tức là lộ Ý môn (như trên) được trở nên thanh tịnh do Định lực áp chế phiền não chứ không phải là Thiên Nhãn vì ở lộ nhập định của Sơ thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền không có lộ hiển Thông thì vẫn là sắc thần kinh nhãn chứ không phải lộ tâm Thiên Nhãn ứng hiện. Bậc Tứ thiền mới có thể thành tựu lộ Thông, nhưng trong khi nhập định Tứ Thiền không dùng được Thiên Nhãn thông mà muốn có Thiên Nhãn thông phải nương vào Kiên cố Định căn bản mức Tứ thiền. Ở 3 tầng thiền thấp không có đủ duyên để lộ Thiên nhãn thông xuất hiện. Hình ảnh của Định Dục giới gọi là Học tướng, Trì tướng đã có ánh sáng nhưng yếu và chi tiết hình ảnh của đề mục không rõ rệt. Trong trình độ Định Sắc giới thì đề mục là Quang tướng tức là Ánh sáng chói rực của đề mục, chứ không phải là hình ảnh lu mờ, hoặc có ánh sáng le lói như ở Định Dục giới.
Lộ tâm đắc Định có được: khi gần đắc định, một Quang tướng chế định (paññattipaṭibhāga nimitta) nào đó của Án xứ (đề mục Tịnh sắc) mà Hành giả chọn để tu tập, sẽ phát triển rực rỡ đưa tâm hành giả thể nhập vào Định vức.
- 6 sát-na tâm khách (người độn căn) hay 5 sát-na tâm khách (người lợi căn)
- 2 chặng (khai môn và đổng lực)
- 27 thứ tâm khách (Hướng ý môn, 8 đổng lực dục giới có trí và 18 đổng lực thiền).
- 5 hạng người (phàm Tam nhân và 4 Thánh quả).
- 26 cõi vui hữu tâm (trừ 4 cõi Khổ và cõi trời Vô tưởng).
trích Quy trình Tâm Pháp, lộ đắc định:
http://buddhanet.net/budsas/uni/u-qttp/qttp-15.htm
Quý vị hãy tham cứu VDP cho thật nhiều để có thể lý giải các biểu hiện của tâm thiền thông qua các lộ tâm còn gọi là Quy trình tâm pháp. Xin chớ xem nhẹ VDP của Đức Phật đã giáo truyền.
Vài dòng góp ý với bài nghiên cứu của nhóm tác giả.
Kính!
Bookmarks