Xin chia sẻ lại một số điểm tôi thấy đáng chú ý trong tác phẩm Ðường vào KALACHAKRA - Bài Giảng - Jhado Rinpoche (Bài này đã được bạn Phucminh đăng ngày 26/05/2011 bên phần Mật Tông)
1.
...Phật giáo khác ngoại đạo như thế nào. Trên thế giới có nhiều tôn giáo, vậy Phật giáo có gì đặc biệt? Chắc chắn không phải đặc biệt vì nghi lễ cúng dường, cúng hoa, cúng hương, quì đảnh lễ, vân vân. Việc như vậy chưa chắc đã là Phật Pháp. Làm như vậy chưa chắc đã là Phật tử.
2.
Về nương dựa Tam bảo để giải thoát khổ đau là động cơ tu hành chính của Phật tử căn cơ thấp.
3.
Trong khế kinh, Phật dạy nên qui y tại tâm của mình, không qui y nơi nào khác. Ví dụ có người trong tâm thức tích lũy ác nghiệp nhiều đời, đời này lại để tâm mình tha hồ tham sân si, vậy chắc chắn sẽ phải chịu quả khổ. Còn ngược lại mỗi khi tâm bất thiện nổi lên, nếu biết cố gắng áp dụng biện pháp hoá giải, ác nghiệp sẽ từ từ thanh tịnh, trí giác mỗi lúc mỗi thêm khai mở, tâm từ từ thuần hóa, càng lúc càng có khuynh hướng tạo nghiệp lành, càng có khả năng hóa giải ác nghiệp, cứ như vậy sẽ có lúc thành tựu cái gọi là tận diệt khổ đau, giải thoát luân hồi.
4.
Khế kinh có nói muốn giải thoát không cần phải rời bỏ nơi này để đến một cõi đặc biệt nào khác. Khổ đau có thể tận diệt ngay trong thân tâm này. Thân tâm chúng ta đây vốn có đủ mọi tiềm năng để thành tựu nguồn an lạc tối thượng, chỉ cần tìm ra đường tu chính xác, phương pháp tu chính xác, rồi nỗ lực tu hành. Phật nói như vầy: “Phật đạo, là con đường giải thoát”.
5.
Con đường giải thoát không có trong các tôn giáo khác. Tôn giáo khác có thể nói nếu các anh chị tu như thế này, thiền như thế kia, sẽ được phép thần thông ví dụ như bay trên không hay chui trong đất [khinh công, độn thổ], sẽ được thành tựu tâm linh thế này hay thế khác. Tôn giáo khác có thể dạy nhiều phương pháp nhập định rất hữu hiệu, nhưng không dạy tu để giải thoát khổ đau.
6.
Phật giáo ngược lại dạy nhiều cách tu để giải thoát khổ đau, thành tựu an lạc tối thượng. Ðây không chỉ là lời nói suông, thực sự các anh chị có thể đạt đến kết quả ấy. Vọng tưởng và phiền não trong tâm các anh chị chỉ là những hiện tượng sinh diệt, khi có, khi không. Nếu chịu khó tu, nếu gặp vị đạo sư đủ khả năng hướng dẫn, và nếu chính mình có chí tu học, có căn cơ cao, khi ấy thoát khổ đau đạt an lạc tối thượng ngay trong kiếp sống hiện tại này, trong thân tâm này, là điều có thể xảy ra.
7.
Giá trị của Phật giáo không phải nằm ở chỗ khi nghèo thì cầu Phật độ cho giàu, khi bịnh thì cầu Phật độ cho khỏi bịnh, hay khi làm ăn buôn bán thua lỗ thì cầu Phật độ cho phát tài. Thật sự mà nói, dù những phép lạ như vậy có thật sự xảy ra đi nữa, cũng chẳng có gì đáng nói, Phật giáo cũng không phải vì vậy mà có thể gọi là quí giá. Các anh chị cần hiểu rõ phần cốt tủy để thấy được mức độ quí giá cực kỳ của Phật đạo.
8.
Vì sao lại nói rằng Ðại thừa thâm diệu hơn? Thanh văn thừa là giáo pháp dành để đáp ứng một số nhu cầu của Phật tử, chưa phải là thành tựu cao nhất. Muốn hoàn thành trọn vẹn con đường Phật dạy - nghĩa là triệt bỏ toàn diện phiền não ô nhiễm, thành tựu chức năng bồ đề - người tu cần theo con đường Ðại thừa, cần hành trì theo phương pháp tu dành cho Bồ tát
9.
Nói Tiểu thừa và Ðại thừa, hoàn toàn không có nghĩa là trong Phật Pháp có sự phân chia giáo pháp này xấu kém hơn, giáo pháp kia toàn hảo hơn. Giáo pháp toàn hảo là giáo pháp thích hợp với căn cơ của người tu, nên trong Phật pháp không bao giờ có thể khinh rẻ xem thường bất cứ giáo pháp nào. Thái độ như vậy sai lầm và tai hại.
10.
Tất cả đều dựa trên căn bản của tâm bồ đề, vì lợi ích của chúng sinh. Ðến khi thành tựu vô thượng bồ đề, Phật có khả năng buông xả mọi phiền não cùng tập khí của phiền não. Nói như vậy, Phật nhờ buông xả toàn bộ mọi mê lầm phiền não mà thành tựu trí toàn giác, có được khả năng thấy biết tất cả mọi hiện tượng ở mọi nơi, trong mọi lúc.
11.
Còn các vị A-la-hán như ngài Xá Lợi Phất hay Mục Kiền Liên, không thể nói là thành tựu của các ngài ngang với thành tựu của Phật. Các ngài chỉ mới xả bỏ được một phần, nhưng chưa xả bỏ được toàn bộ mọi chướng ngại áng ngữ trí toàn giác. Có thể nói rằng các ngài chỉ mới thành tựu được một phần của tâm buông xả, chưa phải là tâm buông xả trọn vẹn.
12.
Khi mới bắt đầu thuyết Pháp, Phật dạy về Thanh văn thừa cùng nhiều phương pháp tu Giới Ðịnh Tuệ. Phần giáo pháp này là căn bản của con đường giác ngộ giải thoát.
13.
Rồi Phật lại dạy phương pháp phát khởi lòng từ bi và tâm bồ đề, là con đường dành cho những vị bồ tát dũng mãnh, lãnh nhận trách nhiệm mang lợi ích về cho toàn thể chúng sinh. Tuần tự đường tu Phật dạy là như vậy, trước tiên tu theo căn bản Giới Ðịnh Tuệ, rồi phát tâm từ bi cùng với tâm bồ đề.
14.
Mục tiêu rốt ráo của Phật là muốn đưa chúng ta đến vô trú niết bàn (chúng ta tự đạt đến - lời người trích). Ở đó, tâm thức buông xả mọi mê lầm, thành tựu mọi tánh đức. Con đường vị tha này dành cho những vị bồ tát có tâm rộng lớn vô ngại, lãnh nhận trách nhiệm giải thoát cho chúng sinh, mang hạnh phúc về cho tất cả. Vì vậy mà gọi Ðại thừa là cỗ xe lớn.
15.
Có người nói rằng đã theo Ðại thừa thì không cần phải học phương pháp tu Tiểu thừa, cho rằng Phật tử Ðại thừa chỉ cần phát tâm từ bi là đủ, không cần quan tâm đến Giới Ðịnh Tuệ. Ðiều này hoàn toàn sai. Ðại thừa không phải là con đường song song riêng biệt với Tiểu thừa. Căn bản của Ðại thừa chính là Tiểu thừa. Giáo pháp Tiểu thừa không ra ngoài Ðại thừa. Chỉ khác là, thêm vào đó, Ðại thừa đòi hỏi phải phát tâm đại bi và tâm bồ đề.
16.
Làm hiển lộ và vận dụng thân tâm vi tế, đó là đặc điểm của Mật tông tối thượng du già.
17.
Ðạo là phương pháp tu. Ðể triệt bỏ khổ não cho mình và cho chúng sinh, hành giả cần thành tựu tâm đại lạc bất động. Bất động có nghĩa là không lay chuyển trong cả ba thời quá khứ hiện tại và vị lai.![]()
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks