Chùa Phổ Minh là chùa chánh Đại- diện Tỉnh Giáo Hội , Tỉnh Kiên Giang, tuy tọa lạc ở đường nhỏ, nhưng khuôn viên chùa khá rộng , khoảng 500,600m2 ,kiến trúc chùa theo lối mới bây giờ, trước sân rộng, từ ngoài nhìn vào phía bên trái sân chùa có tượng Quan Âm cao 2m, dứng trên tòa sen giửa hồ nước xây nổi, giửa sân và bên phải để trống, cây kiểng trồng sát tường rào, và trong các chậu to hai bên trước Chính –Điện, phần bên phải ngang với Chính-Điện, đang xây dỡ một căn nhà to rộng , đang bỏ dở , phần sau được ngăn ra làm trù phòng. Còn Chính Điện rộng thoáng , cách bố trí bàn thờ hiện đại ,đơn giản, chỉ có Tượng Phật Thích Ca trên án thờ , và các pháp khí _chuông, mỏ, khánh, hai bên chính điện lui ra sau 3m, một bên thờ các vị Trụ trì các đời trước, một bên là bàn vong, do các Phật –tử đưa vào chùa dược nghe kinh, mau siêu thoát. Còn sau lưng bàn Phật là Hậu-Tổ , thờ bức tranh Đạt- ma Tổ Sư đạp cành lau qua sông. Nối tiếp sau chính –điện là nơi chư tăng thọ thực, bộ bàn văn phòng để thầy trụ trì tiếp Phật-tử, sau cuối giửa phòng có cửa thông ra vườn sau, để cửa giửa vì hai bên thiết kế 2 phòng, một phòng rộng hơn dùng làm nơi chứa Kinh, còn một phòng dùng làm nơi nghỉ của thầy trụ trì.
Bước ra sau vườn , có một cái cốc lá, cất trên sàn gổ, cách mặt đất 0m,50.
Trong chùa có thầy trụ trì, và một cô ni lo phần ẩm thực, vì là chùa chính của tỉnh, nên hằng đêm có một số Phật –tử đến tụng kinh với thầy trụ trì. Hằng ngày do biết về tây-y ,thầy trụ trì giúp các bệnh nhân ( các bệnh thông thường) điều trị , chích thuốc, bán thuốc tây, với giá rẻ , lấy thu nhập chi phí dùng ăn , uống và trả phí điện, nước..v.v.. Vì có được giấy chứng nhận sơ tán , tôi viết giấy xin thầy trụ trì cho ở lại làm công quả, thầy trụ trì chấp thuận, vậy là sau thời gian mệt mỏi, tôi được tạm dừng nghỉ để chờ cơ duyên, hằng ngày sáng được ăn cháo , xong tôi lau sạch bụi nơi bàn Phật , thay hoa mới ( sau vườn có trồng một số các loại hoa ), quét, lau sạch sàn gạch của Chính Điện, tiếp tục ra làm cỏ , quét dọn sân vườn ( vì có một mình thầy trụ trì nên không ai dọn , và cỏ mọc um tùm, lá cây với rác đầy sân,), sau khi độ ngọ, nghỉ ngơi , buổi chiều tôi xem kinh sách,( tôi chỉ ăn ngọ, không ăn cơm chiều.)
Thấy phía sau có cái cốc bỏ trống , nên tôi xin thầy trụ trì cho phép tôi được ở nơi cốc đó, để thuận tiện cho việc tu thiền của tôi , và khuya sau khi ngồi thiền xong, tôi đi kinh hành trong sân chùa sẻ không làm kinh động lúc thầy đang nghỉ, và mọi việc đều như ý nguyện. Phật-tử thấy người lạ hỏi thăm, thầy trụ trì bảo là tôi bị câm, điếc, nên cũng ít ai giao tiếp với tôi, vì phải viết giấy rất là mất công ( thật là may, vì người hành thiền rất cần sự yên tịnh để quán chiếu Tâm suốt ngày). Trong tứ thời tọa thiền , mổi thời tôi chỉ ngồi được khoảng sáu mươi phút, khi xả thiền có lúc thân tâm thoải mái, có lúc khi ngồi thì không sao, khi xả ra thì tôi bị đau giửa ngực , hít hơi vào thì bị chận ngay đó, rất khó chịu vì thở không đủ hơi, phải tọa thiền lại để điều chỉnh cho hết đau. Đemvấn đề trở ngại về hơi thở , nhờ thầy trụ trì giải đáp giùm, thầy trụ trì thật tình bảo rằng_ thầy chuyên về nghiên cứu Giáo Lý thuyết pháp để giáo hóa chúng sanh, không nghiên cứu và hành thiền nên không giải đáp đúng trường hợp của tôi được. Thầy đưa tôi chìa khóa thư viện của chùa , bảo rằng : Tam Tạng kinh điển_ Kinh, Luật, Luận trong thư viện cũng tạm đủ, cứ vào mà từ từ nghiên cứu, việc tu không nên gấp gáp, vội vả.
Thế là tôi được ưu ái sử dụng thư viện, mổi ngày suốt buổi chiều là tôi vào trong đóng cửa xem nghiên cứu, về Luật tạng, tôi chỉ xem sơ qua các giới luật của hàng Tu-sỉ xuất gia, và Qui-Sơn Cảnh-sách. Về Kinh tôi đọc vài bộ như : Lăng- Nghiêm , Lăng- Già, Bát-Nhả, Pháp-Hoa, để có một khái niệm về Pháp Phật ( nói chung xem cũng không hiểu lắm) chủ yếu là Luận , vì đó là sự giải thích ý trong các kinh, tôi chỉ chú trọng đọc đi , đọc lại những gì liên quan đến Thiền. ( thật ra từ nhỏ tôi đả ấn tượng về hình ảnh các vị Tiên
_Râu tóc bạc phơ, Tiên- Phong, Đạo cốt, thoát tục , thanh-nhàn. Và có Phép Thần thông , biến hóa, có thể dời non, lấp biển , hàng ma, phục yêu. Do vậy tôi mới cố công tìm Tiên nơi non cao núi thẳm???. còn vào chùa cạo đầu làm tăng thì không thích lắm.) vì trong kinh nào tôi không nhớ , hình như lúc Phật thuyết kinh A Di Đà, có nói : Từ lúc Phật hiện tiền Giáo hóa chúng sanh, cùng với các đệ tử được Thọ- Ký, tiếp nối trong 1000 năm đầu , là thời kỳ Chánh- Pháp. Từ năm thứ 1001 đến năm thứ 2000 sau khi Phật nhập Niết –Bàn là thời kỳ Tượng-Pháp, vì chỉ còn hình tượng của Phật , để củng cố lòng tin và y Pháp của Phật mà tu. Từ năm thứ 2001 trở đi là thời kỳ Mạt –Pháp , chỉ còn câu Lục Tự Di Đà cầu sanh nơi Tây- Phương, Tịnh-Độ, là Pháp môn thù-thắng , phù hợp với hầu hết chúng sanh cỏi Ta Bà. Đó là Pháp dể tu, dể hành chỉ cần _nhất tâm bất loạn , trì danh hiệu Phật Di Đà, từ một đến bảy ngày, lúc lâm chung có Phật và chư Thánh chúng đến rước.
Hiện nay đả hơn hai ngàn năm, muốn tìm thầy Đắc Đạo truyền Pháp tu cho chứng quả ( La Hán thôi) cũng không hy vọng, riêng tôi không thích về Tây- Phương, vì tôi nghỉ nơi đó sướng quá khó tu ( ý thiển cận các bạn đừng cười) , thành ra nói là tầm thầy cũng không phải , tầm Đạo-sỉ học làm Tiên thì đúng hơn.
Còn tiếp
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks