Thượng Đế là Nhơn sinh, Nhơn sinh là Thương đế
Thượng Đế là Nhơn sinh, Nhơn sinh là Thương đế
VẠN PHÁP TỪ TÂM
TÂM TỪ LÀ VẠN PHÁP
PHẬT GIÁO CÓ TIN LÀ THƯỢNG ĐẾ TỒN TẠI HAY KHÔNG
Thượng Đế là một danh từ có một định nghĩa rất rộng rãi. Có nhiều thượng đế của các loại tôn giáo. Cũng có nhiều Thượng đế của Triết học. Nói chung lại, đứng trên lập trường nào để nhìn Thượng đế, thì sẽ hình thành một Thượng đế theo lập trường đó.
Đạo Gia Tô cho rằng, Trời (thiên) hay Thượng đế của Nho gia Trung Quốc cũng là Thượng Đế của đạo Gia Tô. Thực ra, Thượng đế của Nho gia Trung Quốc là Thượng Đế của triết học phiếm thần, là Thượng Đế được con người yêu, nhưng không thể đòi hỏi Thượng Đế yêu người lại, cũng tức là Thượng Đế của "Bất khả tri luận". Thượng Đế của đạo Gia Tô là thần linh nhân cách hóa; là Chúa sáng thế đứng bên ngoài vũ trụ, là vị Thần vạn năng.
Về thuyết khởi nguyên của vũ trụ, thì dù là tôn giáo ở thời kỳ đầu hay là triết học cũng thường thường cho rằng đó là do thần biến hóa mà thành. Hi Lạp cho rằng Trụ Tư [Zem] là chúa tể các vị thần. La Mã cho rằng Cầu Tỷ Đặc [Jupeter] là chúa tể các vị thần. Các Thần của Ấn Độ cổ đại rất phức tạp, vị trí của họ thay đổi là Đại Vu Tư (daus) là đồng nhất về ngôn ngữ với Zeus của Hi Lạp và Jupiter của La Mã. Những vị thần có thế lực trong giới thần linh của sách thánh Vê đa là Balâuna (Baruna) là thần Tư pháp. Vị thần của Hư không giới là "Nhân đà la" [Indra] tức là Thần Sét. Vị thần của địa giới là A Kỳ Ni [Agni] là Hỏa thần (thần lửa). Thần địa ngục là vua DẠ MA (Yama), [nhưng ông này trị vì trên một cõi trời]. Vì vậy, Ấn Độ cổ đại sùng bái nhiều thần (đa thần). Sau này, Ấn Độ giáo, có thuyết cho rằng, Thượng Đế, tức Chúa sáng tạo là "Đại Phạm Thiên", hoặc là "Đại tự tại thiên", hoặc là "Na la diên thiên", cuối cùng hình thành quan niệm Tam vị nhất thể, và công nhận Đại Phạm Thiên là chúa sáng tạo, Nala diên thiên là vị thần bảo vệ; Đại tự tại thiên là vị thần phá hoại. Nhưng thực ra, đó chỉ là một vị thần với ba bộ mặt khác nhau mà thôi. Hiện nay Ấn Độ giáo sùng bái "AMa", "Thấp La" và cả đến đức Phật cũng được họ sùng bái như Thượng đế (danh từ chỉ Thượng đế tính có tới hàng trăm - Xem bài : Ánh sáng chân lý - do Chu Tương Quang dịch; tr. 22, chú 14).
Thượng đế của Đạo giáo Trung Quốc là Ngọc Hoàng, khác với Thượng Đế của Nho gia, cũng khác với Thượng đế của đạo Gia Tô, cũng khác với Thượng đế của Ấn Độ giáo. Nếu đánh giá theo quan điểm và nhận thức của Phật giáo thì Thượng đế của Lão giáo và Hồi giáo tương đương với vị chủ tể cõi Trời Đao Lợi của Phật giáo; Thượng Đế của đạo Gia Tô (từ Ma Tây đến Pao lô và Angustanh v.v… đã thăng lên nhiều cấp) tương đương với Phạm thiên vương của Phật giáo; Thượng đế của Ấn Độ giáo đồng nhất với Đại tự tại thiên vương của Phật giáo; cõi Trời Đao Lợi là cõi Trời thứ 2 của Dục giới, gần gũi nhất với cõi người. Cõi Trời phạm thiên là cõi trời sơ thiền thuộc sắc giới. Đại tự tại thiên là cõi Trời cao nhất không có căn cứ. Vì phạm vi bài này không cho phép phân tích giới thiệu cặn kẽ, chứ nếu so sánh Thượng đế quan của các tôn giáo với 28 cõi Trời thuộc 3 giới thì đó là vấn đề rất thú vị.
Bởi vì các vị chủ tể các cõi Trời, đều có đôi chút thói quen kiêu mạn, thường hay nói với thần dân của họ rằng họ là vị chúa tể sáng thế có một không hai, cũng như vua chúa ở cõi người nay cũng thường tự xưng là "quả nhân". Ý tứ là, ngoài họ ra, trong thiên hạ không ai có thể cao quý vĩ đại hơn họ. Thậm chí, Tần Thủy Hoàng tự xưng là "Đức hơn Tam Hoàng, công vượt ngũ đế", vì vậy, ông tự xưng là Thủy Hoàng đế [Vị Hoàng đế đầu tiên]. Tâm lý của ông cũng giống như tâm lý của các vị chủ tể các cõi trời, tự xem mình là có một không hai. Thậm chí, có vị còn tỏ ra kiêu mạn đối với đức Phật nữa [xem Tạp A Hàm cuốn 44. Các trang 1195-1196]. Kỳ thực, họ đâu có phải là chúa sáng thế ? Vũ trụ không thể nào so sức mạnh của bất cứ vị Thần nào sáng tạo ra được.
Vũ trụ là do nghiệp lực của chúng sinh cảm ứng mà có, nhiều nhân duyên hòa hợp mà thành.
Như vậy, Phật giáo có thừa nhận Thượng Đế tồn tại, nhưng không cho rằng, Thượng Đế sáng tạo ra vũ trụ.
Còn Thượng đế của triết học chỉ là giả thiết của các triết gia, là một loại quan niệm giả định, chứ không phải là một đối tượng thực chứng : vì vậy, Phật giáo không tin ở sự tồn tại của Thượng đế của triết học.
Có thể có những người tin theo tôn giáo thần quyền nói rằng : "Thượng đế có quyền thưởng phạt người thiện, kẻ ác. Phật giáo đồ không sợ Thượng đế hay sao"?
Đúng như vậy, vì Phật giáo đồ không sùng bái Thượng đế cho nên cũng không sợ Thượng đế, Phật giáo đồ tin rằng, tất cả mọi thiện thần trong ba giới, bao gồm cả Thượng đế và các vị Thiên chủ của 28 cõi Trời đều tin theo Phật pháp, ủng hộ Phật pháp; Phật giáo xem họ cũng như các viên chức quân sự xem các vệ binh giữ cửa thành. Vệ binh có quyền kiểm soát sự ra vào cửa thành. Vệ binh có quyền bắt giữ, tra hỏi bọn phá hoại, bọn âm mưu lẻn vào cửa hành. Còn các viên chức quân sự, hành động theo đúng luật pháp, sao lại có thể sợ vệ binh được ?
Phật giáo không cho rằng Thượng Đế có năng lực sáng tạo vạn vật, cũng không thừa nhận Thượng Đế có quyền ban phúc giáng họa đối với chúng sinh. Phật xem Thượng đế cũng là một trong 6 loại chúng sinh; bất quá vì ở các đời trước, có tu phúc báo, cho nên ngày nay được sinh lên các cõi Trời để hưởng lạc. Nếu Thượng Đế có tham dự vào sự nghiệp họa phúc của chúng sinh, cũng là do sự cảm ứng của nghiệp lực của loài người mà thôi. Đó là đạo lý mà câu cách ngôn nói: "Tự giúp thì người giúp", "Tự hại thì người hại".
Trích từ http://www.thuvienhoasen.org/pgchanhtin-08.htm
PHẬT GIÁO CHÍNH TÍN
Hòa Thượng Thích thánh Nghiêm
Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam dịch
Tính KHÔNG chẳng phải lặng, mà động
Động bên ngoài tỉnh tận bên trong
Càng sâu vào TÂM càng tỉnh thức
Lặng thấu chơn không luống nhiệm mầu
Hiện nay trên thế giới,phần lớn lãnh tụ các quốc gia đều có tôn giáo họ lấy tôn giáo làm điểm tựa tâm linh. Tuy nhiên việc chọn lựa 1 tôn giáo để làm điển tựa tâm linh trong “thị trường” tôn giáo ngày nay là cả 1 vấn đề. Phần lớn có rất nhiều quảng cáo mang tính giá trị như sơn đông mãi võ (tức họ nói thì nhiều , nhưng giá trị thì chẳng bao nhiêu). Hầu hết các tôn giáo đều có chủ trương dạy con người làm lành lánh dữ, hướng tới cái thiện làm cho con người đánh đồng bản chất các tôn giáo là 1. Đây cũng là 1 sai lầm nghiêm trọng trong hệ tư tưởng các tôn giáo ngày nay.
Trên thực tế có nhiều tôn giáo chỉ có tín ngưỡn mà hoàn toàn không có tâm linh. Tín ngưỡn gắn liền với phong tục tập quán mà phần lớn là mê tín dị đoan họ xem Thượng đế, chư thánh , thần như 1 trung tâm giải quyết các vấn đề phiền não tiêu cựa của họ họ xem Thương đế là 1 đấng “Toàn Trí - Toàn Năng - Toàn Thiện - Toàn Mỹ”. Trong khi đó đời sống tâm linh nó liên hệ đến sự hành trì tu tập và chuyển hóa nhận thức; Chuyển hóa Tham sân si, chuyển hóa các trạng thái tâm lý, cảm xúc, hành động tiêu cực trở thành tích cực thông qua nhận thức sáng suốt con người có thể hoàn toàn có thể làm chủ tâm linh của mình chứ không hề phó thác cho Thượng đế an bài số phận. Trong thế giới vạn vật đều tuân thủ theo quy luật của sự vận động, tồn tại, phát triển và hủy diệt của vũ trụ vạn vật; Vạn vật đều tùy thuộc vào sự xúc tác của điều kiện, hoàn cảnh mà tương duyên sanh theo quy luật nhân quả mà đức Phật là người đã khám phá ra chứ không phải có 1 đấng tạo hóa tạo lập ra vũ trụ vạn vật như 1 số tôn giáo thường nói. Đạo Phật lấy con người làm trung tâm, nghiên cứu các lĩnh vực về lòng từ bi, trí tuệ và các giới hạn của nghiệp lực nhân quả mà đưa ra phương pháp giúp con người có thể tu tập đạt đến sự giải thoát hoàn toàn khỏi những khổ ải thế gian mang đến cho con người hạnh phúc chân thật. Chính vì vậy, Đạo Phật phật là 1 tôn giáo duy nhất có thể mang đến cho chúng ta những giá trị tâm linh đó. Trong khi đó có rất nhiều tôn giáo khác đặt trung tâm đời sống đều lệ thuộc vào Thượng đế; Thượng đế có thể ban vui, cứu khổ….. Các tôn giáo đó luôn tự đề cao mình; Theo Thiên Chúa giáo họ cho rằng thế giới vạn vật này do Thượng đế tạo ra trong 7 ngày (gồm con người, động vật, cỏ cây…) cho nên họ họ xem Thương đế là 1 đấng “Toàn Trí - Toàn Năng - Toàn Thiện - Toàn Mỹ”, do đó ai tuân theo phục tùng Thượng đế thì được ngài đưa về cỏi nước của ngài sống an lạc; ai không tuân theo thì sẽ bị trừng phạt cho vào hỏa ngục (theo kinh thánh). Họ nói rằng con người đang đứng trên 1 mặt phẳng còn trời thì như 1 cái vung; 1 số khác cho rằng trái đất là hình vuông , còn trời là hình tròn. Trên thực tế nhà bác học Galilê đã bị họ “tẩy chay” bởi vì dám dùng khoa học chứng minh sai với lời của Thượng đế (Vì Galilê cho rằng trái đất mà chúng ta đang đứng có hình bầu dục). Nếu thượng đế là 1 đấng toàn năng thì Như lai liệt ngài vào hạng bất công tội lỗi. Vì sao vậy? bời vì Thượng đế đã tạo ra 1 thế gian hư hỏng. Các con cưng của ngài đang cấu xé tranh giành, chà đạp lẩn nhau, phân biệt màu da, kỳ thị chủng tộc, nào chiến tranh, nghèo đói…hơn nửa theo học thuyết vật dưỡng nhơn họ tha hồ làm thịt động vật, dâng gái đồng trinh cho Thượng đế hưởng thụ được xem như những món quà cao quý nhất được dâng lên ngài.(nói nhỏ nghe nè: “hiện nay mấy ông cha nhà thờ là người đại diện cho ngài cũng được phép có vợ, lập gia đình và được đức Giáo hoàng cung cấp đầy đủ tiện nghi, nhà cửa, xe hơi đó….). Nếu Thượng đế mà như vậy thì làm gì có tính toàn năng toàn trí , toàn thiện và tòan mỹ. Nếu vạn vật được ngài tạo ra thì tất cả đều là con của ngài cơ mà có lý nào thương đứa này lại ghét bỏ đứa khác làm mất đi tính bình đẳng tôn trong sự sống lẫn nhay thế kia, mà chính ngài là người bất lực không biết làm gì hơn. Hàng ngàn năm nay chiến tranh lúc nào cũng xảy ra, thiên tai, lũ lụt, đói nghèo lúc nào cũng xảy ra nhưng ngài có giải quyết được gì đâu?
Trên cơ sở đó đạo Phật đáp ứng được nhu cầu về tâm linh. Nhiều lý luận mang tính logic của nhà phật mà điển hình là đức Phật Thích Ca như thuyết nhân quả, thuyết tương duyên sinh…và Đức phật cũng thấy trước được ngoài thế giới chúng ta ra có nhiều thế giới khác nữa; các quy luật mà ngài phát hiện ra đã để lại cho chúng ta ngày nay nhiều giá trị về mặt tinh thần không thể phủ nhận; do đó hiện nay trên thế giới nhiều đối tượng trí thức đang đến với đạo phật và họ xem đạo Phật như 1 món ăn tinh thần có thể đưa họ đạt đến cảnh giới hạnh phúc chân thật
Đạo Phật ví như cội Bồ đề; tuy rằng có nhiều loại cây chùm gửi sống ký sinh trên nó để hút chất dinh dưỡng. Nhưng tôi tin rằng cội rễ của cây Bồ đề luôn luôn vững chắc và không hề đánh mất đi bản chất thật sự của mình.
QUAN NIỆM KHÁC NHAU VỀ THƯỢNG ĐẾ TRONG CÁC TÔN GIÁO
Đối với bản thể và quyền năng của Thượng Đế thì bàng bạc vô cùng, mỗi tôn giáo đều dựa trên những cơ sở khác nhau để diễn tả một phần nào đó, hầu đáp ứng cho những nhu cầu tâm linh của một bộ phận nhân loại, tùy theo đối tượng, tùy theo địa phương và trình độ tiến hóa của con người ở từng thời đại.
Ngay Phật giáo, Lão giáo và Nho giáo không gọi đích xác rằng Thượng Đế là Người tạo dựng ra vũ trụ vạn hữu, nhưng Đức Thích Ca đã gọi cái sinh ra pháp giới chúng sanh là Chân như, Đức Lão tử gọi là Đạo, Đức Khổng tử gọi là Lý Thái cực, không phải các Ngài phủ nhận Thượng Đế, mà các Ngài muốn thức tỉnh chúng sanh ở thời điểm đó, không nên tôn thờ đa thần và ỷ lại vào thần quyền.
Vì theo tín niệm chung nhân loại trong thời đại của các Ngài thường tin vào đa thần, hoặc nếu có tin tưởng vào Thượng Đế thì cũng có một định kiến rằng Thượng Đế là một người có quyền lực vạn năng, quyết định mọi sự một cách độc đoán, nên các Ngài muốn giáo hóa cho con người thời đó đừng ỷ lại vào thần quyền hay tin tưởng vào đa thần một cách mê tín dị đoan, mà khuyên con người phải ăn ở đúng với Thiên lý, Chân tâm, Phật tánh, đúng với lương tâm và lòng trắc ẩn sẵn có nơi chính mình, như vậy có nghĩa là đã phụng sự Thượng Đế và như thế mới hưởng được phước lành, chứ không phải chỉ cầu khẩn suông nơi Thượng Đế hay tin tưởng vào nhiều thần linh từ bên ngoài mà có được hạnh phúc chân thật.
Đối với bản nguyên và quyền năng của Thượng Đế, trên thế gian chưa có Đấng Giáo chủ nào giảng giải rõ ràng được căn nguyên nguồn cội của Ngài, cũng như diễn tả được hình thể của Ngài, vì Ngài là nguồn sống của vũ trụ vạn hữu, nên hình thể của Ngài cũng có thể nói là hình thể của cả vũ trụ và vạn hữu chúng sanh, nên không thể lấy một con người hay một vật thể nào để tượng trưng cho Ngài được. Vì con người chỉ là hột cát trong bãi sa mạc, là một phần tử cực kỳ nhỏ bé so với nguồn sống bao la của đất trời, đời sống lại vô cùng ngắn ngủi so với sự vĩnh hằng của Tạo hóa.
Chính các vì Giáo chủ là bậc Đại giác ngộ, nhưng cũng không thể nào dùng văn tự và ngôn ngữ hữu hạn của con người để giảng giải rõ ràng. Ngay như Đức Phật khi giảng giải về Chân như, là cái tạo ra pháp giới chúng sanh, nhưng Ngài cũng dùng những ngôn từ lơ lửng như: cũng có, cũng không, không phải có, không phải không, cũng đồng, cũng khác, không phải đồng, không phải khác... hoặc là những điều ta biết như lá trong rừng, và cái ta nói ra được như nắm lá trong tay này... (Theo Thủ Lăng Nghiêm).
Theo Đức Lão Tử thì Đạo tạo dựng ra vũ trụ, sanh hóa và hàm dưỡng vạn linh, nhưng Ngài không biết gọi tên cái đó bằng gì, nên đặt tên là Đạo, gượng gọi tên đó là lớn (Tự chi viết Đạo cưỡng chi danh viết Đại), và khi Ngài nói về Đạo, cũng nói rất là thận trọng và khiêm tốn, thường dùng cách nói lơ lửng như: có lẽ (tượng), giống như (tự), hình như (nhược), hoặc là (hoặc)... Ngài cũng xác nhận rằng Đạo cũng như vũ trụ vô cùng huyền bí, không thể hiểu được và giảng giải được, nên trong Đạo đức kinh Ngài đã nói rằng:
“Đạo khả đạo phi thường đạo” (Đạo đức kinh / Thiên thượng).
Có nghĩa là cái Đạo mà đã diễn tả ra được bằng lời nói, thì không phải là cái Đạo thường hằng bất biến. Vì theo Đức Lão Tử cho Đạo là bản nguyên của vũ trụ, nó vô cùng huyền bí cao siêu, không thể dùng lời nói mà diễn tả được. Chính Ngài cũng không biết tên là gì nên gượng gọi Đạo mà thôi.
Còn đối với Nho giáo, các vấn đề huyền bí về vũ trụ và nhân sinh, Đức Khổng tử chỉ đề cập đến trong khi sang định kinh Dịch (Thiên đạo) và kinh Xuân thu (Thế đạo). Phần này chỉ dành cho những đệ tử có kiến thức đặc biệt tự lãnh hội lấy mà thôi, chứ Ngài không đem dạy rộng rãi cho mọi người. (Theo Nho giáo của Trần Trọng Kim).
Đối với các vị Giáo chủ là những bậc nhận thiên mệnh của Thượng Đế xuống thế gian để độ rỗi chúng sanh, mà các Ngài không thể dùng ngôn ngữ của con người để giảng giải rõ ràng các vấn đề huyền bí của Tạo hóa. Nên các Ngài đành giữ im lặng, xa lìa văn tự, nhưng nếu không nói gì, thì làm sao cứu độ chúng sanh, nên các Ngài phải tùy thời, tùy trình độ hiểu biết của nhân loại mỗi nơi, mỗi thời kỳ mà nói, nhưng nói một cách lơ lửng như Đức Phật, hay rất khiêm tốn như Đức Lão tử hoặc chỉ nói đến phần thể dụng thiết thực như Đức Khổng tử; cốt để gợi ý cho con người lắng nghe tiếng gọi của Thượng Đế từ nơi tâm linh của mình mà thôi.
Quan niệm về Thượng Đế trong các tôn giáo, cũng như ngoài nhân gian, tuy có khác nhau, nhưng xét cho cùng, thì đều có một mục đích là đả phá những mê tín của chúng sanh trong một thời điểm, và ở một địa phương nào đó; nên những quan niệm đó cũng có giá trị giới hạn nhứt định, thích hợp với từng địa phương và từng thời đại, nếu ta nhắm vào những giáo lý cổ xưa của một thời đại nào đó tại một địa phương này, để kích bát và đả phá những giáo lý đã được phổ cập ở một địa phương khác, ở một một thời đại khác, đó là điều không thức thời. Cũng như dùng một quyền lực nào đó, để bắt buộc mọi người ở mọi nơi phải nghe theo những giáo lý đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự tiến hóa của con người, thì đó là một sự cuồng tín nguy hiểm, cũng như vì tham quyền cố vị cố duy trì lại những giáo lý cũ kỹ để củng cố quyền lực, ngăn cản không cho các giáo lý mới mẻ tiến bộ lưu hành, thì cũng là một điều tai hại, trái với quan niệm của Nho gia là:
“Muôn vật cùng sinh trưởng mà không xâm hại lẫn nhau, các đạo cùng lưu hành mà không phản bội lẫn nhau (Vạn vật tịnh dục nhi bất tương hại, đạo lý tịnh hành nhi bất tương bội/Trung dung).
Xã hội loài người hiện đang tồn tại, thì niềm tin vào Thượng Đế cũng đang tồn tại, nhưng có từng thứ bậc là điều cần thiết, người tin vào Thượng Đế hiện hữu khắp mọi nơi, không nên cho người tin Thượng Đế ngự trên Trời cao, là sai, vì đó cũng là một quan điểm đúng, nhưng đúng với những người mới có niềm tin, và niềm tin này đang trên con đường đi đến chân lý tuyệt đối.
Còn các tôn giáo không dùng danh xưng Thượng Đế để chỉ Đấng tạo lập vũ trụ, mà họ đã tin rằng có “Một Cái Gì Đó” đã vận hành bằng “Một Cách Nào Đó” để tạo ra vạn hữu chúng sanh như Phật giáo gọi là Chân như, Lão giáo gọi là Đạo và Nho giáo gọi là Thái cực, cũng không phải là một quan niệm vô thần, mà họ cũng thừa nhận Thượng Đế dưới một danh xưng khác mà thôi. Nghĩa là niềm tin này không phủ nhận niềm tin khác, mà chỉ là sự hoàn mãn cho niềm tin khác.
Trích: CÓ THƯỢNG ĐẾ HAY KHÔNG & THƯỢNG ĐẾ ĐANG Ở ĐÂU?
Dã Trung Tử
NAM MÔ CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT.
Cám ơn Huynh Chấp Ngã,
Huynh đã có một bài viết rất hay & khá sâu sắc giúp cho người xem hiểu không những rõ về bản chất mà còn rõ về từng khía cạnh của các đạo mà 2 đạo lớn nhất và điển hình nhất ( Đạo Phật & Thiên Chúa ).
Từ những phân tích sâu sắc như vậy mong rằng mọi người hiểu và chọn cho bản thân một con đường đi mà có thể tự tại, tự quyết định cho số phận của bản thân, mình muốn như thế nào đó là do mình...
Vài lời chia sẽ...
VÔ CÔNG DỤNG HẠNH - VÔ KHUẤT LIỄU HẠNH - VÔ CẤU PHÁP - VÔ TÁT Ý - VÔ SỞ ĐẮC - VÔ SỞ CẦU - VÔ SỞ TRỤ - VÔ SỞ ÚY
Cám ơn Bồ Tát...
Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật
Huynh này nói chuyện vô lý quá , không có logic gì hết . Tự nhiên từ thượng đế đi xuống làm kim thạch làm gì . Từ đại hồn xuống làm tiểu hồn là tụt hậu chứ tiến hóa gì , vô lý hết sức !
Mà tại sao lại phải đi cái vòng chu kỳ đó làm gì , nếu như vậy thì coi như là không còn tồn tại rồi vì từ thựong đế thành cát đá thì đâu còn sự sống gì nữa đâu . Tự nhiên đang làm thựong đế lại nhảy xuống để làm thảo mộc , cầm thú , nhân loại chi cho khổ ; trong khi đó mất công tu biết bao lâu để thoát khổ thành phật mà tự nhiên lại chui đầu vô cái khổ nữa .
Nếu theo huynh nói thì suy ra có rất nhiều người thành Thượng Đế lắm rồi . mà lại chỉ có 1 thựong đế , vật chất thì không sanh không diệt , vậy suy ra tất cả hợp lại làm một , vậy là xem như là vong mạng rồi vì làm mất cái Tôi, cái suy nghĩ riêng của mình thì xem như Diệt Vong rồi ? Vậy cái chu kỳ ác nghiệt này hành hạ người ta chứ có phải chu kỳ Sinh Tồn đâu , vậy thà không nằm trong nó còn tốt hơn đó chứ nhỉ ?
Đúng là phật tại tâm, tất cả các pháp đều tự tâm. Vậy các ngài đạo hữu đã thấy tâm của mình chưa, đã biết tâm mình ở đâu chưa?
-tâm la tim phãi kg các bạn ,nếu mà phật ,pháp tại tâm
hê hê..như thế ta chị cần mua tim heo tim gà, tim vịt,,thì có dũ laọi phật pháp hêt..ayza chưa nói tới tim nguoi bị các bác sĩ mỗ ra.thế là chết phật với pháp..quá
trần gian là 1 chốn nô đùa ta chơi cho đã 4 mùa về 0'''...0937532387 anhhungdenhatngu
Xưa wa. Mấy cái này ko cần đọc cũng tự ngẫm ra đc. Thượng Đế là tập hợp chung lớn nhất của tất cả vạn vật và định luật.
Mà cũng ko phải đến bây h, người xưa đã nghĩ ra điều này từ hàng ngàn năm trc rồi.
Thì ra cái này chính là giáo lý cao đài do Cao Đài Tiên Ông giáng cơ : http://caodaism.org/CaoDaiTuDien/ng/ng3-023.htm
Vậy mà binhthuongtam này lại phá được dễ dàng như vậy , cứ tưởng là huynh kiennguyen viết ra đó chứ . Không biết còn giáo lý nào cao thâm hơn nữa ko huynh kiennguyen ?
Viết gì nữa bây giờ ?
Đinh ninh Thầy dặn trẻ đôi lời,
Mình biết Đạo mình giữ đó thôi.
Mặc kẻ thường tình ngu biếm nhẻ
Phải coi nên chỗ để nên lời.
(Thi văn dạy Đạo/TNHT)
NAM MÔ CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT.
Các đạo giáo khác như Lão tử, Nho giáo, Cao đài và 1 số đạo khác....chủ trương phản bổn hòan nguyên, tiểu hồn xác nhập với đại hồn (Thượng đế); cũng như tiểu linh quang hòa nhập với đại linh quang. Như vậy là họ tu là để trở về với cái nguyên thủy của mình (tức đưa tâm thức trở về trạng thái quy nguyên dựa trên sự tĩnh lặng của tâm thức kết hợp với làm lành lánh dữ tu theo nhơn đạo). 1 số khác bên đạo gia tu tiên thì dùng phương pháp luyện Tinh –Khí –Thần để quy nguyên (luyện đan) các vị thành tựu pháp này thì lúc sống thì gọi là Chân nhân, khi không còn ở trần gian thì thành Tiên hưởng quả phước báu ở cõi trời. Cao đài giáo thì dùng các pháp ngồi chồm hổm quán âm, khai mở thiên môn, xuất thần…để đi tham quan các cảnh giới mà học tập nhằm tu tập theo thiện hạnh…1 số đạo khác thì tu nhân như một số thuyết: Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ; Tam cang , Ngũ thường, nhân, Nghĩa, Lễ, trí, tín…..họ phải tác ý giữ gìn và làm đúng vai trò trách nhiệm của 1 con người trong xã hội .
Riêng đạo Phật thì đã vượt lên trên cái ngưỡng của sự gìn giữ và quy nguy nguyên; mà đạo Phật còn mang tính xã bỏ tất cả những gì thuộc về kiến chấp (không chấp có cũng không chấp không, không động niệm, không tác ý, không chấp thiện, không chấp ác…); đưa ra các phương pháp tu tập, hành trì theo thứ tự từng cấp độ nhằm giải phóng tâm thức con người khỏi những ràng buột của thế gian mặc dù đang sống trong thế gian, do đó Đạo phật là đạo duy nhất có thể đưa con người đến chân hạnh phúc. Tu theo Phật là để giải thoát khỏi luân hồi lục đạo, không chịu sự tác động của nhơn quả chứ không đơn thuần là phản bổn hoàn nguyên. Bởi vì khi trở về với cái nguyên thủy của mình thì có 2 trường hợp:
- TH1: khi trở về với cái khởi thủy của mình (tiểu hồn xác nhập với đại hồn) thì trong đó đã chịu sự tác động của ý thức, mong muốn trở về, giữ giới, hành thiện tích đức…. Như vậy họ đã xây dựng cho mình 1 cái “Ngã Thiện”, và cái ngã thiện này cũng chịu sự tác động nhân quả. Như vậy Tham sân si trong họ không mất đi mà nó chỉ bị đè nén hoặc bị lấn ác bởi cái thiện, bởi sự giữ giới. 1 lúc nào đó nếu nó bị kích thích tác động của các yếu tố bên ngoài (Đồng thanh tương ứng – đống khí tương cầu) với cường độ thích hợp thì nó sẽ bộc phát và biến động và chịu sự chi phối của nhân quả luân hồi. Mức độ tâm thức của họ chỉ ở cấp độ cõi trời Tứ Thiên Vương. Như vậy cái Bổn nguyên yên tỉnh ở cảnh giới của họ là cái yên tĩnh tạm thời chứ không phải là cảnh giới Niết bàn thanh tịnh vĩnh cữu.
- TH2 : Họ trở về và an trụ trong cái bổn nguyên đó (Đạo). Thì phạm trù này trong đạo Phật gọi là chấp Vô vi. Cảnh giới như vậy chưa thể đưa tâm thức con người đến cảnh giới tịch diệc hoàn toàn Cho nên các vị chỉ trụ xứ ở cõi trời yên vui, chứ chưa phải là cảnh giới của giải thoát thật sự. Cảnh giới trở về của các vị này là cỏi Không vô Biên xứ.
Ngoài ra còn có 1 số cỏi trời khác (Phạm Thiên, Đế Thích...)tùy theo cấp độ của người tu trì.
Đạo Phật thì có Pháp Thiền Minh Sát, thực hành Tứ diệu đế, 37 phẩm trợ đạo, Như Lai Thiền, Tối thượng du già …..có thể đưa con người đến cảnh giới Niết bàn yên vui, có thể đưa con người đến chỗ bất sanh bất diệt như câu:
Hữu sanh hữu tử hữu luân hồi,
Vô sanh vô tử vô khứ lai,
Sanh tử khứ lai như thị mộng,
Tốc phao trần thế thượng liên đài.
Mặt khác đạo phật còn có chủ trương tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn (tự độ, độ tha tới mức viên mãn). Các vị Phật, Bồ tát nào hầu như cũng có lời thệ đại nguyện độ sinh, trong khi đó các tôn giáo khác thì ít thấy như vậy. Như vậy đạo Phật mang tính Đại Bi, Đại Trí, Đại Dũng rất cao.
Last edited by Chấp Ngã; 22-03-2010 at 10:24 AM.
Nam Mô Dược Sưu Lưu Ly Quang Vương Phật
VÔ CÔNG DỤNG HẠNH - VÔ KHUẤT LIỄU HẠNH - VÔ CẤU PHÁP - VÔ TÁT Ý - VÔ SỞ ĐẮC - VÔ SỞ CẦU - VÔ SỞ TRỤ - VÔ SỞ ÚY
Trạng thái Niết Bàn là trạng thái An Định của tâm , nhưng lý giải là phật còn tham ,sân ,si và bị đè nén bởi cái Thiện là sai rồi . Thực sự thì họ không còn tham sân si mà chỉ còn Thiện . Họ không phải bị qui luật nhân quả chi phối mà bị qui luật Sinh Tồn của Thượng Đế chi phối .Chi phối không phải ở cái chỗ Chấp Thiện của họ mà ngược lại là do cái Thiện của họ chưa đủ , Cầu Thiện là một qui luật tự nhiên của Bậc Giác Ngộ chứ đó không phải là Chấp Niệm .
Nhiều người chưa hiểu rốt ráo Thiện vì Thiện chính là chỉ sự Đại BI đến sanh linh , đơn giản nhưng khó thực chứng vì thực chứng được thì đồng nghĩa với đắc đạo giác ngộ Quả Bồ Đề thực sự , ví như là Chánh Đẳng Chánh Giác Như Lai vẫn chưa chứng được hết thì nói gì đến chúng ta .
Các vị phật mặc dù ở trên niết bàn là bất sanh bất diệt do tâm họ Tịnh , nhưng đó không đúng trong thực tế vì khi đó họ tu luyện Thiện không ngừng tăng cao làm cho họ nảy sinh lòng trắc ẩn từ bi với sanh linh cấp thấp mà làm tâm họ muốn vãng sanh để cứu đô nhân sanh . Mọi người đừng hỏi tại sao họ không kiềm chế tâm họ lại nha vì tâm thực ra chính là cái tồn tại của mình .
Bình thường tâm thị đạo : Tâm bình thường chính là để tiểu chơn linh (cái tồn tại của mình) tiếp xúc Đại chơn linh của Đại tự nhiên ( sự sống của mình) mà sinh ra cảm ứng thấy con đường mình muốn đi !
Last edited by binhthuongtam; 22-03-2010 at 06:57 PM.
Thượng đế là Thiên Chúa! Hãy yêu Chúa bằng cả tâm hồn, thân xác, trí khôn của ngươi :D
Thượng đế là ai? Phân tử do nguyên tử tạo thành, nguyên tử do proton tạo thành.... cái bé bé nhất, cái vi quan vi quan nhất tạo thành cái lớn hơn... cứ như thế như thế tạo thành tất cả từ cây cỏ, thân người, trái đất, ngân hà, đại thiên hà.... :silly::big_grin::thinking::votay::laughing:
Pháp Luân Đại Pháp hảo!
Chân Thiện Nhẫn hảo!
Sư Phụ hảo!
Đại Pháp thẳng hồi thiên.
phapluan.org :coffee: chinhphap.com:coffee:
Đọc đến đây có lẽ các bạn Thiện hữu trí thức cũng đã hiểu tất cả?!. Tôi cũng không biết nói gì hơn bởi những giáo lý trên. Vâng, có lẽ im lặng thì tốt hơn... và tôn trọng quan điểm của Đạo bạn vậy.
Chư pháp thực tướng giả
Tâm hành ngôn ngữ đoạn
Vô sinh diệc vô diệt
Tịch diệt như Niết Bàn.
(Trích Trung Quán Luận - Chư Tổ Long Thọ)
Nếu rãnh rỗi mời các bạn xem: http://www.tangthuphathoc.com/ykiend...hongnoi-00.htm
hay http://sachhiem.net/SACHNGOAI/BEYOND/BYDBLF.php
Hay có thể đọc sách: "Cái vô hạn trong lòng bàn tay" của Matthieu Ricard và Trịnh Xuân Thuận.
Last edited by AnhDaoVang_2010; 23-03-2010 at 04:55 PM.
Trạng thái Niết Bàn là trạng thái An Định của tâm , nhưng lý giải là phật còn tham ,sân ,si và bị đè nén bởi cái Thiện là sai rồi . Thực sự thì họ không còn tham sân si mà chỉ còn Thiện . Họ không phải bị qui luật nhân quả chi phối mà bị qui luật Sinh Tồn của Thượng Đế chi phối .Chi phối không phải ở cái chỗ Chấp Thiện của họ mà ngược lại là do cái Thiện của họ chưa đủ , Cầu Thiện là một qui luật tự nhiên của Bậc Giác Ngộ chứ đó không phải là Chấp Niệm .
-------------------------------------
trong vũ trụ mọi thứ đều có một tương sanh,cái này sanh cái kia sẽ sanh, tức nhiên nó có một nhân duyên nào đó sẽ hiện diện ,ta ko thể nói cái này sai ,cái kia đúng ,hoặc cái này đủ ,cái kia thiếu ,vì đó phụ thuộc theo hoàn cảnh ,tùy duyên mà hiện ,ta ko thể nói đây thiện hay bên kia ác tất cả do quan niệm của từng người .
có thể ta đang bị đánh ,bị tra tấn vẫn cho đó là thiện ,cũng có trong sung sướng ta vẫn thấy như tù đày đây là quan điểm của người giác ngộ ,khi thấy cái sung sướng của trần gian chỉ là giả tạm ,dù trong định luật trời ngọc hoàng cho đó là đang chi phối ,cái chi phối đó cũng là hữu hình hữu tướng ,còn thân tâm thì ko ,đức phật đã xem cái thân này là giả thì ko vì cuộc sống sinh tồn mà chi phối ,mọi thứ đều tiến triển tự nhiên ko hề làm đức phật phải quan tâm vẫn giải thoát được,cái tâm này về với niết bàn an vui tự tại ,dù bất kể ai tu trong một tôn giáo nào vẫn mong mình thoát khỏi bánh xe luân hồi vô hình mà ,đạo giáo nào cũng bước qua ngưỡng cửa tử ,nhưng quan trọng ta có được an vui trước lúc bước vào cửa tử hay ko ,đúng ko đạo hữu
There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)
Bookmarks