Trang 2 trong 7 Đầu tiênĐầu tiên 1234567 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 21 tới 40 trên 130

Ðề tài: Kết thúc của Tây Du Ký - Sự chống lại đạo đức

  1. #21

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Tuduong Xem Bài Gởi
    Dễ gì hiểu được ý sâu xa của Ngô Thừa Ân.


    Mỗi người sinh ra, đều do nghiệp, đều để trả nghiệp cũ và tạo nghiệp mới

    mỗi ngừoi đều có sứ mạng đời và đạo riêng của mình, do nghiệp qui định

    Truyện tây du ký , chẳng phải loại truyện mà ngài Ngô thừa Ân tự bịa đặt ra cho vui theo ý riêng của ngài

    Ai làm theo ý riêng mình , thì tác phẩm chỉ có thể tồn tại trong khoảng thời thế nhất định, kể cả triều đại hay chế độ chính trị. nhưng tác phẩm này vựot thời gian, tuy rằng tầm hiểu biết khiến cho sự đánh giá khác biệt nhau

    Chỉ có chân lý mới tồn taị đựoc vĩnh viễn

    Ai tiệm cận ( tiệm ngộ) chân lý thì hiểu sâu, ai vào rồi thì mới thực sự hiểu chính xác. Hiểu chính xác hãy nói, không thì nên dựa cột mà nghe

    công đức lắng nghe và khiêm hạ lớn hơn công đức phân tích phê phán

    Chẳng nên diễn giải theo ý mình.

    Ðức Phật dạy: "Phải thận trọng đừng chủ quan với tâm ý của ông. Tâm ý của ông không thể tin được, (vì vậy) hãy thận trọng ...; Khi nào chứng quả A La Hán rồi mới có thể tin vào tâm ý của ông".

  2. #22

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi hyuugaasmita Xem Bài Gởi
    Ngô Thừa Ân củng là người không đắc đạo thì đòi ông viết thật cũng khó.
    Phật từ bi cũng chẳng trách làm chi
    Ngô thừa ân có đắc đạo hay không, bạn sao biết đựoc

    Những gì không biết chắc, chẳng nên nhận xét trịch thượng vậy, phải người đắc mới biết ai đắc ai không, phải là người trên mới nhận xét ngừoi dưới, bạn có tin chắc đã hơn Ngô thừa Ân không mà nhận xét về ông

    Phật từ bi, nên chẳng chấp ai.

    Phật là trung đạo chả chấp có chấp không.

    Chấp có gọi là thường Chấp không gọi là đoạn
    Nếu lìa hết Có, Không Mới là Chân Thật Không

    Chấp Hữu vào thể tướng Chấp Vô đắm thể không
    Chẳng chấp vào Có Không Tức là Chân Thật Quán.


    Nhiều ngừoi viết đúng kinh sách , nhưng chỉ nói và viết, chẳng tu chẳng đắc , vẫn đọa địa ngục

  3. #23

    Mặc định

    Tây Du Ký nói lên ba cái ngộ cơ bản của người tu.
    Ngộ Không
    Ngộ Năng
    Ngộ Tịnh
    Trong đó ngộ không để trở về với Bát nhã là cao nhất.
    Bao giờ được cái "Không Không" khi cái mê cái chấp vẫn còn.

  4. #24

    Mặc định

    Chủ đề này khiến Xuân Phong tôi hiếu kỳ và muốn rút kiếm chém vài nhác vào màng vô minh cho nó rách nát, lộ ra ánh sáng.

    Trong bài luận này của hòa thượng Thích Nhật Từ, tôi không bàn về ông, có vài điều không đúng.

    Thứ nhất, Ngộ Thừa Ân là soạn giả, tức là người gom góp tài liều viết thành một tác phẩm, không phải là tác giả, tức là người từ ý riêng của mình sáng tạo ra câu truyện. Quyển Tây Du Ký lần đầu tiên được viết ra do Trường Xuân Chân Nhân, Khưu Xứ Cơ, sáng tác, và sau này được bổ túc và thêm thắc bởi Ngô Thừa Ân. Có thể nói, Ngô Thừa Ân rất am hiểu Phật Giáo cũng như Đạo Lão, và rất am hiểu nội dung của Tây Du Ký, nên mới có thể thêm vào những đoạn văn chương khá hoàn mỹ.

    Thứ hai, một Tôn Ngộ Không có 72 phép thần thông, lộn một cân đẩu vân tới 10 vạn 8 nghìn dặm, tức khoảng 1/2 vòng trái đất, mà chỉ có từ Lưỡng Giới Sơn, Trung Quốc, mà không đưa được Đường Tâng đến Thiên Trúc, Ấn Độ, lại phải mất cả 14 năm. Vì sao tôi nói 14 năm, chút xíu tôi sẽ trở lại. Có hai nguyên nhân khiến sự việc này kéo dài 14 năm. Thứ Nhất, Tôn Ngô Không là đại biểu cho cái Trí của Hành Giả; Đường Tam Tạng là đại biểu cho Linh Hồn, tức đích thực Hành Giả. Linh Hồn đang ngự trị trong xác phàm, mà xác phàm thì thật nặng nề, thô cực, nên không thể vác lên vai mà bay đi, trong khi Thể Trí và Linh Hồn hoạt động hết sức linh hoạt, nhanh nhẹn. Bất kể ai trên thế gian này đều có Trí, có Linh Hồn, và cũng có thể xác nữa. Thể xác hết sức nặng nề, không thể bay đây bay đó. Thứ hai, suốt chặn đường Tôn Ngộ Không thừa biết sứ mạng của Đường Tam Tạng, biết rõ ông sẽ gặp nạn thế nào, và biết rõ luôn cả ân duyên của Đường Tam Tạng, và là một người đắc đạo, Tôn Ngô Không phải để Đường Tam Tạng tự vượt qua các thử thách trên đường Đạo.

    Trở lại với con số 14 năm. Trong truyện Tây Du viết rất rõ Đường Tam Tạng thỉnh được 5048 quyển kinh, mỗi quyển tượng trưng cho 1 ngày đường. Lấy 5048 chia cho 365 thì có 13.8 năm, tức gần 14 năm.

    Những điều nói phía trên chỉ là lời bàn luận nhỏ nhoi về hình ảnh Tây Du, chẳng nói lên được sự huyèn diệu của nó. Sự thật Tây Du Ký là một bộ truyện hết sức cao thâm, không phải người đắc đạo, không thể viết nên những điều kỳ bí ấy. Tại sao Đường Tam Tạng là người xuất gia mà lại dùng Bát Vàng, không dùng chén đá hay chén gỗ? Bát Vàng của Tam Tạng là Pháp. Trong truyện, Đường Tam Tạng có 3 tạng vật rất trân quý. Thế nào là ba tạng vật trân quý?

    Một là Pháp Y; Pháp Y tức áo cà sa do Phật Tổ ban tặng. Áo Cà Sa ấy trong truyện viết khá chi tiết. Áo Cà Sa bốn gốc và trung tâm của mỗi ô đều có 5 viên ngọc ngũ sắc rất quý. Số Năm ở đây tượng trưng cho Ngũ Hành, Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Trong cơ thể con người có ngủ hành, tức ngũ tạng, Tâm Cang Tỳ Phế Thận. Ngọc tượng trưng cho Khí. Ngũ Tạng nhờ Ngũ Khí mà hoạt động trật tự. Khoác Áo Cà Sa tức Ngũ Khí Triều Nguyên, là một cảnh giới rất cao trong đạo học.

    Hai là Tích Trượng; Tích Trượng là "cây gậy" vàng do Phật Tổ ban tặng. Cây tích trượng trong truyện tả cũng khá chi tiết. Tích Trượng dài có 9 lồng. Cây Tích Trượng này nói lên được sự tích báo hiếu của Mục Kiền Liên. Lại nữa, con số 9 này là do 3 bình phương mà thành, tức 3 x 3 = 3^2 = 9. Nói 3 x 3 tức trong vũ trụ này có Tam Tài. Tam Tài đó là Thiên Địa Nhân. Nói 3 bình phương 2 tức nói đến Thiên Địa. Tích Trượng là cây gậy đứng giữa trời đất mà không sợ gãy. Đường Tam Tạng là người chỉ có 2 chân. Thêm một tích trượng tức có 3 chân. Đứng giữa trời đất thật kiên cố, tâm Phật không gì lung lay. Điều này được chứng minh qua suốt hành trình, dù bị sa bao nhiêu nạn tai, bị bao nhiêu quyến rũ của yêu nữ, Đường Tam Tạng vẫn không sờn lòng.

    Ba là Long Mã; Long Mã là do Tam Thái Tử Đông Hải Long Cung hóa thành. Long Mã có 2 ý nghĩa. Thứ nhất, Đường Tam Tạng là sức người, cỡi ngựa phàm đi đường xa, ắc ngựa phải mệt. Long Mã là ngựa thần, sức dai thì mới cõng nỗi Đường Tam Tạng đi xa như thế. Thứ hai, Long Mã xuất hiện thuở xưa mang theo Hà Đồ. Hà Đồ là cấu trúc Ngũ Hành Thuật Số nói về sự biến hóa của vũ trụ, các vì sao tinh tú. Hà Đồ là bản đồ vẻ nên 5 hành tinh, Kim Tinh, Mộc Tinh, Thủy Tinh, Hỏa Tinh, và Thổ Tinh xuất hiện ở năm vị trí trên bầu trời vào một ngày nào đó trong năm. Sau Hà Đồ còn có Lạc Thư. Đi chi tiết vào nó thì tôi không nói nữa.

    Ngoài 3 vật báu đó, Đường Tăng còn nhận được một món không thuộc về Thánh Vật; đó là Bát Vàng do vua Đường ban tặng. Vì sao sải lại dùng bát vàng mà không dùng chén đá? Bát Vàng tượng trưng cho Pháp Bảo. Đó gọi là Xuất Thế Gian Pháp, nghĩa là từ thế tục mà ra. Trong khắp bảy châu địa này ai tu hành lại không xuất thế gian? Pháp Bảo rất quý, nên phải giữ gìn. Vàng vào thời bấy giờ là vật rất quý. Nếu dùng chén gỗ hay chén đá thì con người đâu xem như báu vật mà giữ gìn? Thế nên khởi đầu chuyến du hành, Đường Tăng được trao tặng Bát Vàng, là một vật rất hiếm hoi, cũng như Pháp Tu Hành rất trân quý, không thể xem thường. Thử hỏi nếu quý vị có cái bát vàng, quý vị có mang ra đựng cơm ăn không? Chứ Đường Tam Tạng có cái Bát Vàng mà hằng ngày cứ mang ra xin cơm, vậy đủ chứng tỏ vàng hay bạc gì đối với Đường Tam Tạng cũng không có giá trị. Cái quý là Pháp Tu Hành.

    Lại nữa, khi đến Thiên Trúc, An Nan và Ca Diếp đòi hối lộ mới trao kinh. Ở đoạn này, nếu không phải là người đắc đạo, ắt không thể ngộ ra diệu lý mà viết nên cốt truyện thế này. Thử hỏi trong tất cả chư thiện tri thức lần đầu tiên xem phim Tây Du Ký có ngờ rằng Đường Tam Tạng sẽ thỉnh được kinh không chữ chăng?

    Kinh không chữ tức, Vô Tự Chơn Kinh. Vô Tự Chơn Kinh là loại kinh không cách nào dùng ngôn ngữ thế gian mà có thể nói tường tận. Nó là loại kinh quý hiếm nhất. Thế nào gọi là Kinh?

    Kinh có 3 nghĩa. Thứ nhất, viết lại lời Thánh Nhân gọi là Kinh, viết lại lời phàm gọi là sách. Kinh Sách phân biệt ở chổ chi rõ thực lý, nhưng thực ra nó không có phân biệt. Lý lẽ tiên nhân là cuộc sống phi vật, lý lẽ phàm nhân là cuộc sống hữu vật. Phi và Hữu thiếu một có được chăng? Thứ hai, đường thông nhỏ của thủy ngạch gọi là kinh. Con kinh nhỏ là chi nhánh của sông. Từ kinh ngạch đổ vế sông lớn rồi mới ra biển. Thế nên, Kinh là sự chỉ đạo trở về với chánh đạo. Thứ ba, trong cơ thể con người có 20 kinh mạch. Mười hai đại kinh mạch gọi là Đại Chu Thiên. Tám đường kinh mạch khác gọi là Kỳ Kinh Bát Mạch. Tu hành mà không biết tu kinh mạch của mình tức là lãng phí thời giờ. Người tu theo kinh sách, ý nghĩa thứ nhất của kinh, gọi là Phàm Phu, tức hành giả còn dính mắc trong vô minh. Người tu theo phạm hạnh, trở về với chính đạo, ý nghĩa thứ hai của kinh, gọi là Thức Giả, tức hành giả ý thức được đạo pháp và quay trở về với chánh pháp. Người biết tự sửa chữa lấy bản thân mình, tự tu tâm dưỡng tánh, hành đạo phám cải chánh từ thể xác đến tâm linh, ý nghĩa thứ ba của kinh, gọi là Thánh Nhân, tức hành giả đã thuần phục được bản thân mình.

    Lại nữa, trong truyện có đoạn Phật Tổ nói: "chuyện đó ta biết rồi, trước đây ta có sai các sãi mới tu đi phát kinh ở nước Xá Vệ... Triệu trưởng lão hườn công ba quan tiền và ít thăng gạo trắng, ta nói Triệu trưởng lão bủn xỉn lắm sau này đời con cháu ắt sẽ nghèo.." Sao lại có việc này? Thực Kinh Tạng là vật hiếm quý. Phật và Chư Bồ Tát có phép thần thông, chẳng lẽ cần ít tiền và mớ gạo nhỏ nhoi đó sao? Thực chất Phật Tổ, cũng như A Nan và Ca Diếp biết rõ trong hành lý của Đường Tam Tạng còn có một Bát Vàng. Nhưng vì Đường Tam Tạng không hiểu rõ rằng Pháp là phương tiện đạt đến mục đích. Khi đến mục đích thì phải bỏ pháp. Cũng như Phật Tổ có nói "Ta lấy tay chỉ trăng, chớ lầm tưởng tay là trăng." Cũng như Lão Tữ có nói "Được chim quên ná, được cá bỏ nôm." Vì không hiểu rõ được hàm ý này, nên bốn thầy trò nhận được Kinh Không Chữ, tức Vô Tự Chơn Kinh, loại kinh càng đọc càng không hiểu. Vì sao? Vì Bát Vàng là phương tiện đưa Đường Tam Tạng đến cõi Phật; đã đến nơi rồi mà vẫn còn ôm chấp vào Pháp Bảo, không chịu buông ra, thì làm sao thấy được cõi Phật là thế nào? Vì còn mê chấp với Pháp, tức còn chưa vén tận màng vô minh thì làm sao đọc được kinh vô tự? Do đó Di Lặc Bồ Tát mới sai Đại Hùng Tôn Giả hóa thành đại bàng lấy về kinh sách.

    Khi trở lại, Đường Tam Tạng hiểu ra lý đạo, phải xả bỏ Pháp phương tiện, và vì sự "ngộ không," tức không còn mê chấp với thế gian pháp, nên kinh vô tự mới hiện ra chữ. Lúc bấy giờ mới chứng được quả vị Phật. Long Mã trở về Long Cung. Tích Trượng và Cà Sa vốn là vật của Kim Thiền La Hán, tức tiền kiếp của Đường Tam Tạng. Thế nên, chỉ có mỗi Bát Vàng là vật của thế gian thì phải trả lại cho thế gian, không thể mang theo vào thiên đàng được.

    Thực sự Tây Du Ký không phải người đắc đạo, không thể viết nên lời lẽ đơn sơ mà huyền diệu như vậy. Vì nhiều người chưa đạt được cảnh giới của Tây Du nên chưa thể hiểu được Tây Du, vì thế mới có sự hiểu lầm. Chỉ cần hành giả tu hành tinh tấn, ăt sẽ thấu được huyện diệu của Tây Du. Tôi có thể nói, Tây Du là truyện hư cấu, nhưng hàm chứa rất nhiều huyền cơ.
    Linh căn giáng hạ cứu mê tình
    Độ ải trần lao đáo nẻo minh
    Nhân chủng mịt mùn nun khói trược
    Ham vui tục sự vứt quên mình

  5. #25
    Đai Đen Avatar của Qin ShiHuang
    Gia nhập
    Jun 2010
    Nơi cư ngụ
    TP HCM Q.10
    Bài gởi
    756

    Mặc định

    Kính chào các bạn,
    Sau khi đọc xong những bài của các anhchiem trong topic này ,để biết ý của mọi người ,nghĩ sao về cuốn TDK.Tôi chỉ đóng góp chia sẻ với các bạn một "cái nhìn" của một nhà nghiên cứu ,nhà văn ,nhà giáo Lê Anh Dũng ,là tác giả của cuốn sách "Giải Mã Tây Du Ký",cuốn sách được tái bãn lần thứ ba.Tôi xin gởi đến các bạn cùng chia sẽ thêm một ý khác nữa của ý nghĩa cuốn sách Tây Du Ký ,với một cái nhìn khác của Đạo Giáo .Tôi xin được gởi đến từng phần của cuốn sách "Giải Mã Tây Du Ký ",để các bạn có thêm ý để nhận xét về cuốn TDK với cái nhìn không bị Thành Kiến và Định Kiến đối với cuốn sách.Mong được các bạn đón nhận.


    Đường tăng! Anh là ai?

    <<...Đường tăng! Anh là ai? Năm mà một, Tây du ký là câu chuyện trường thiên về hành trình qua phương Tây thỉnh kinh của năm thầy trò: Tam tạng, Tề thiên, Bát giới, Sa tăng, và con ngựa trắng. Thông thường, người ta sơ ý, chỉ kể có bốn, quên đi con ngựa, nguyên là con rồng ngọc (Ngọc Long), thái tử thứ ba, con của Tây hải Long vương Ngao Nhuận. Quên kể đến ngựa rồng, phải chăng vì vai trò đỡ chân cho Đường tăng của Ngọc Long tam thái tử hình như có vẻ lu mờ? Hay quên kể, vì không thấy ở Tây du ký tản mác ẩn ngữ nơi này, rải rác ẩn dụ nơi kia, mà ngòi bút của Ngô Thừa Ân đã ung dung viết như giỡn chơi, như bông đùa, mà ý hàm tàng thì rất thực. Và nên hiểu chỗ thực trong cái hư của Tây du ký, nét nghiêm trang trong vẻ bỡn cợt của Ngô Thừa Ân như thế nào?

    <<Tây du ký là truyện xuất thế gian, do đó không có dấu ấn của Nho giáo, vì Nho giáo về cơ bản là đạo nhập thế, thuộc phạm vi Hình Nhi Hạ học mà ngày nay Cao Đài gọi là ngoại giáo công truyền (exoterism). Đọc Tây du mà bảo Ngô Thừa Ân có cái gọi là tư tưởng chống Trời, chống thiên tử, tức là đã quên đi ngay từ ban đầu câu chuyện xuất gia, thỉnh kinh vốn đã hàm ngụ ý ngoại thế gian pháp[1]. Tây du nào có chống ai đâu, vì Tây du là câu chuyện ngụ ngôn, đem chuyện thỉnh kinh để diễn bày tư tưởng Thiền học giải thoát trong đạo Lão, đạo Phật, thuộc phạm vi Hình Nhi Thượng học mà ngày nay Cao Đài gọi là nội giáo tâm truyền (esoterism). Muốn đọc Tây du, hiểu Ngô Thừa Ân, cần thiết biết đọc giữa hai hàng chữ, nắm lấy bốn chữ "ý tại ngôn ngoại" (ý ở ngoài lời). Như chép ở kinh Viên giác, Phật bảo lấy ngón tay chỉ trăng, nếu đã thấy mặt trăng thì có thể biết rằng phương tiện để chỉ trăng rốt cuộc chẳng phải là mặt trăng. Trang tử khuyên: «Có nơm vì cá, đặng cá hãy quên nơm. Có dò vì thỏ, đặng thỏ hãy quên dò. Có lời vì ý, đặng ý hãy quên lời.» Thế thì, vượt lên trên mọi hư cấu văn chương của Tây du ký với tài hí lộng chữ nghĩa của Ngô Thừa Ân, cuộc thỉnh kinh của Đường tăng thực chất là chi? Đường tăng là ai đó? Nước Thiên Trúc với chùa Lôi âm ở đâu?

    <<Sẽ là sửng sốt nếu nói rằng Đường tăng vẫn còn đang thỉnh kinh dù đã thỉnh kinh xong rồi từ vạn cổ. Tề thiên đã hàng phục xong thiên ma vạn quỷ, đã cởi được kim cô niệt đầu, đã được Phật tổ tán thán là Đấu chiến thắng phật ở giữa bửu điện trang nghiêm của chùa Lôi âm, nhưng Tề thiên vẫn còn đang và vẫn sẽ còn tiếp tục vất vả đánh nhau với yêu tinh ma quái. Mãi mãi cuộc chiến đấu vẫn chưa xong. Tề thiên nào đã thành phật? Tề thiên nào chưa thành phật? Yêu ma nào đã quy hàng? Yêu ma nào còn chưa ngừng dấy động phong ba? Nước Thiên Trúc với chùa Lôi âm không ở về phương Tây, và cũng không phải là một địa danh trên bản đồ kim cổ. Vậy, cuộc thỉnh kinh đi về phương trời nào viễn xứ? Nên ta thử hỏi lớn tiếng rằng: Đường tăng! Anh là ai? Câu hỏi ấy phải chăng xấc xược? Sao lại dám xưng hô với Đường tăng là... Anh? Ta cứ hỏi nữa: Đường tăng! Anh là ai? Cũng là ta hỏi chính ta đó thôi. Mỗi một người trong chúng ta đều là Đường tăng. Mỗi thời đại của quá khứ, hiện tại và vị lai đều có Đường tăng, đều vẫn đã, đang và sẽ còn tiếp tục thỉnh kinh. Cuộc thỉnh kinh chính là hành trình đầy trắc trở của mỗi người trong chúng ta truy tầm Chân lý - tìm cái mà Lão tử gượng cho là Đạo, gọi tên là Xích tử chi tâm, Phật mệnh danh là Bổn lai diện mục, và Cao Đài ngày nay bảo là Nhân bản hay Thượng đế tính - vốn dĩ đã sẵn tàng ẩn trong mỗi con người. Đi về đâu để có được Chân lý đó? Thiên Trúc ư? Hà xứ tại? Thưa rằng nước Thiên Trúc ấy nào có đâu xa và con đường thỉnh kinh cũng chẳng phải là hành trình từ phương Đông qua phương Tây diệu vợi. Vương Dương Minh bảo: Vũ trụ là tâm ta, tâm ta là vũ trụ. Ngô Thừa Ân ám chỉ: Thiên Trúc là thân ta, thân ta là Thiên Trúc. Kinh báu chùa Lôi âm là hình ảnh tượng trưng cho Chân lý, nó nằm trong tự thân nội thể con người. Cuộc thỉnh kinh vì vậy là con đường quy hướng về nội tâm của mỗi người, là hành trình phản tỉnh nội cầu, quay lại nhìn vào chính nội thân của mình, tìm thấy trong chính ta cái chân lý: Người là một thiêng liêng tại thế, cùng với Trời đồng thể linh quang (ánh sáng thiêng liêng). Do đó phải nói rằng bộ phim Tây du ký hai mươi lăm tập của nữ đạo diễn Trung Quốc Dương Khiết đã rất tài tình khi nhạc mở đầu cho phim là bài hát «Con đường nào ta đi...»

    <<Con đường thỉnh kinh là đường trở về nội tâm. Trên con đường cô đơn đó, ta là Đường tăng, và ta cũng là Tề thiên, Sa tăng, Bát giới, long mã. Như vậy cuộc thỉnh kinh phải bắt buộc đủ bộ năm thầy trò. Thiếu một là không được! Nhưng năm mà một: là một con người với năm phương diện...>>

    Đây là một trích đoạn đầu của cuốn "Giải Mã Truyện Tây Du Ký" của tác giả Lê Anh Dũng,mà tôi mạn phép được gởi đến với các bạn,hầu mở rộng thêm về nhận xét cuốn TDK mà chúng ta đang cùng chia sẻ của topic bạn vietnamese ,đã gởi bài nhận xét của Thích Nhật Từ.
    Tôi sẽ gởi tiếp những phần đoạn sau đến với các bạn ,theo cách ngày,để thời gian trống ,các bạn gởi bài nhận xét của riêng mình .Xin chân thành cám ơn
    P/s : Không biết cuốn sách này đã có ai gởi lên trong diễn đàn này chưa ?,vì để tìm ra e cũng mất ngày giờ ,do vậy tôi xin các bạn thông cãm cho.
    CÁM ƠN ĐỜI MỘT SỚM MAI THỨC DẬY,
    TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG !

  6. #26

    Mặc định

    -BÁC XUÂN PHONG ƠI:NT khi xem phim chỉ rút ra một bài học thôi
    -TRONG phim có nhắc đến sự rõ ràng của chữ tình-chữ tình khó qua nhất của người tu học(qua dc ải mỹ nhân nhưng không qua nỗi ải ân tình-nếu THẦY ĐƯỜNG TĂNG mà không nhờ yêu tinh bắt đi thì lúc đó sao nhỉ)học ở đây là sự trong tốt có xấu trong xấu có tốt,thấy vậy mà yêu tinh đã giúp THẦY thoát dc màn thua trong thấy)chắc ý của tác giả nhắc nhở điều gì đến cho những người tu.
    nên tham ,sân,si ,chữ si khó qua nên xếp cuối cùng nhỉ.......???
    -khi phim tái bản ,có một đoạn của THẦY ĐƯỜNG TĂNG VÀ NỮ VƯƠNG chia tay,trong đoạn này người viết đã sửa lại là-hẹn nàng ở kiếp sau-ý nói gì đây ??????có phải nhắc nhở người tu đưng quyến luyến ,đừng hẹn kiếp sau không? ,nếu hẹn là rớt cái bịch vì sao vậy ,vì ý đã muốn se duyên này ,hẹn kiếp sau vì kiếp này mắc tu rồi ,khi xem phim phải hiểu sự nhắc nhở của tác giả chứ đừng có hiểu tác giả ý muốn giễu cợt hay chê bai PHẬT GIÁO .
    VẤN TÂM VÔ HẬN

  7. #27

    Mặc định

    Tây du ký được gọi là tác phẩm u mặc thượng thừa, ẩn ý sâu xa, nếu không thạo cả tam giáo cửu lưu thì không hiểu được. Bây giờ lại có nhiều anh cứ móc chi tiết bề nổi ra mà bảo là không đúng tinh thần phật giáo. hì hì

    Chỉ cần hiểu tinh thần u mặc trong văn học Tàu thì sẽ thấy có nhiều vĩ nhân nói những chuyện tưởng như ngu si, tưởng như ngược đời, nhưng lại hàm chứa nụ cười thâm thuý mà người ta có trải nghiệm qua mới hiểu.
    a...a

  8. #28

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi nhutri Xem Bài Gởi
    -BÁC XUÂN PHONG ƠI:NT khi xem phim chỉ rút ra một bài học thôi
    -TRONG phim có nhắc đến sự rõ ràng của chữ tình-chữ tình khó qua nhất của người tu học(qua dc ải mỹ nhân nhưng không qua nỗi ải ân tình-nếu THẦY ĐƯỜNG TĂNG mà không nhờ yêu tinh bắt đi thì lúc đó sao nhỉ)học ở đây là sự trong tốt có xấu trong xấu có tốt,thấy vậy mà yêu tinh đã giúp THẦY thoát dc màn thua trong thấy)chắc ý của tác giả nhắc nhở điều gì đến cho những người tu.
    nên tham ,sân,si ,chữ si khó qua nên xếp cuối cùng nhỉ.......???
    -khi phim tái bản ,có một đoạn của THẦY ĐƯỜNG TĂNG VÀ NỮ VƯƠNG chia tay,trong đoạn này người viết đã sửa lại là-hẹn nàng ở kiếp sau-ý nói gì đây ??????có phải nhắc nhở người tu đưng quyến luyến ,đừng hẹn kiếp sau không? ,nếu hẹn là rớt cái bịch vì sao vậy ,vì ý đã muốn se duyên này ,hẹn kiếp sau vì kiếp này mắc tu rồi ,khi xem phim phải hiểu sự nhắc nhở của tác giả chứ đừng có hiểu tác giả ý muốn giễu cợt hay chê bai PHẬT GIÁO .
    Chỉ có mỗi bộ phim của nữ đạo diễn Dương Khiết là thuần phát từ truyện gốc. Những bộ phim khác đều là "chế biến ra" nhiều chi tiết làm cho phim trở nên ... kém phần trí thức. Xuân Phong đã đọc hết quyển Tây Du và tự tay viết một bài giải rất dài. Có những đoạn mà phim ảnh sau này chiếu không đúng như bản gốc.
    Linh căn giáng hạ cứu mê tình
    Độ ải trần lao đáo nẻo minh
    Nhân chủng mịt mùn nun khói trược
    Ham vui tục sự vứt quên mình

  9. #29

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi XuanPhong Xem Bài Gởi
    Chủ đề này khiến Xuân Phong tôi hiếu kỳ và muốn rút kiếm chém vài nhác vào màng vô minh cho nó rách nát, lộ ra ánh sáng.

    Trong bài luận này của hòa thượng Thích Nhật Từ, tôi không bàn về ông, có vài điều không đúng.

    Thứ nhất, Ngộ Thừa Ân là soạn giả, tức là người gom góp tài liều viết thành một tác phẩm, không phải là tác giả, tức là người từ ý riêng của mình sáng tạo ra câu truyện. Quyển Tây Du Ký lần đầu tiên được viết ra do Trường Xuân Chân Nhân, Khưu Xứ Cơ, sáng tác, và sau này được bổ túc và thêm thắc bởi Ngô Thừa Ân. Có thể nói, Ngô Thừa Ân rất am hiểu Phật Giáo cũng như Đạo Lão, và rất am hiểu nội dung của Tây Du Ký, nên mới có thể thêm vào những đoạn văn chương khá hoàn mỹ.

    Thứ hai, một Tôn Ngộ Không có 72 phép thần thông, lộn một cân đẩu vân tới 10 vạn 8 nghìn dặm, tức khoảng 1/2 vòng trái đất, mà chỉ có từ Lưỡng Giới Sơn, Trung Quốc, mà không đưa được Đường Tâng đến Thiên Trúc, Ấn Độ, lại phải mất cả 14 năm. Vì sao tôi nói 14 năm, chút xíu tôi sẽ trở lại. Có hai nguyên nhân khiến sự việc này kéo dài 14 năm. Thứ Nhất, Tôn Ngô Không là đại biểu cho cái Trí của Hành Giả; Đường Tam Tạng là đại biểu cho Linh Hồn, tức đích thực Hành Giả. Linh Hồn đang ngự trị trong xác phàm, mà xác phàm thì thật nặng nề, thô cực, nên không thể vác lên vai mà bay đi, trong khi Thể Trí và Linh Hồn hoạt động hết sức linh hoạt, nhanh nhẹn. Bất kể ai trên thế gian này đều có Trí, có Linh Hồn, và cũng có thể xác nữa. Thể xác hết sức nặng nề, không thể bay đây bay đó. Thứ hai, suốt chặn đường Tôn Ngộ Không thừa biết sứ mạng của Đường Tam Tạng, biết rõ ông sẽ gặp nạn thế nào, và biết rõ luôn cả ân duyên của Đường Tam Tạng, và là một người đắc đạo, Tôn Ngô Không phải để Đường Tam Tạng tự vượt qua các thử thách trên đường Đạo.

    Trở lại với con số 14 năm. Trong truyện Tây Du viết rất rõ Đường Tam Tạng thỉnh được 5048 quyển kinh, mỗi quyển tượng trưng cho 1 ngày đường. Lấy 5048 chia cho 365 thì có 13.8 năm, tức gần 14 năm.

    Những điều nói phía trên chỉ là lời bàn luận nhỏ nhoi về hình ảnh Tây Du, chẳng nói lên được sự huyèn diệu của nó. Sự thật Tây Du Ký là một bộ truyện hết sức cao thâm, không phải người đắc đạo, không thể viết nên những điều kỳ bí ấy. Tại sao Đường Tam Tạng là người xuất gia mà lại dùng Bát Vàng, không dùng chén đá hay chén gỗ? Bát Vàng của Tam Tạng là Pháp. Trong truyện, Đường Tam Tạng có 3 tạng vật rất trân quý. Thế nào là ba tạng vật trân quý?

    Một là Pháp Y; Pháp Y tức áo cà sa do Phật Tổ ban tặng. Áo Cà Sa ấy trong truyện viết khá chi tiết. Áo Cà Sa bốn gốc và trung tâm của mỗi ô đều có 5 viên ngọc ngũ sắc rất quý. Số Năm ở đây tượng trưng cho Ngũ Hành, Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Trong cơ thể con người có ngủ hành, tức ngũ tạng, Tâm Cang Tỳ Phế Thận. Ngọc tượng trưng cho Khí. Ngũ Tạng nhờ Ngũ Khí mà hoạt động trật tự. Khoác Áo Cà Sa tức Ngũ Khí Triều Nguyên, là một cảnh giới rất cao trong đạo học.

    Hai là Tích Trượng; Tích Trượng là "cây gậy" vàng do Phật Tổ ban tặng. Cây tích trượng trong truyện tả cũng khá chi tiết. Tích Trượng dài có 9 lồng. Cây Tích Trượng này nói lên được sự tích báo hiếu của Mục Kiền Liên. Lại nữa, con số 9 này là do 3 bình phương mà thành, tức 3 x 3 = 3^2 = 9. Nói 3 x 3 tức trong vũ trụ này có Tam Tài. Tam Tài đó là Thiên Địa Nhân. Nói 3 bình phương 2 tức nói đến Thiên Địa. Tích Trượng là cây gậy đứng giữa trời đất mà không sợ gãy. Đường Tam Tạng là người chỉ có 2 chân. Thêm một tích trượng tức có 3 chân. Đứng giữa trời đất thật kiên cố, tâm Phật không gì lung lay. Điều này được chứng minh qua suốt hành trình, dù bị sa bao nhiêu nạn tai, bị bao nhiêu quyến rũ của yêu nữ, Đường Tam Tạng vẫn không sờn lòng.

    Ba là Long Mã; Long Mã là do Tam Thái Tử Đông Hải Long Cung hóa thành. Long Mã có 2 ý nghĩa. Thứ nhất, Đường Tam Tạng là sức người, cỡi ngựa phàm đi đường xa, ắc ngựa phải mệt. Long Mã là ngựa thần, sức dai thì mới cõng nỗi Đường Tam Tạng đi xa như thế. Thứ hai, Long Mã xuất hiện thuở xưa mang theo Hà Đồ. Hà Đồ là cấu trúc Ngũ Hành Thuật Số nói về sự biến hóa của vũ trụ, các vì sao tinh tú. Hà Đồ là bản đồ vẻ nên 5 hành tinh, Kim Tinh, Mộc Tinh, Thủy Tinh, Hỏa Tinh, và Thổ Tinh xuất hiện ở năm vị trí trên bầu trời vào một ngày nào đó trong năm. Sau Hà Đồ còn có Lạc Thư. Đi chi tiết vào nó thì tôi không nói nữa.

    Ngoài 3 vật báu đó, Đường Tăng còn nhận được một món không thuộc về Thánh Vật; đó là Bát Vàng do vua Đường ban tặng. Vì sao sải lại dùng bát vàng mà không dùng chén đá? Bát Vàng tượng trưng cho Pháp Bảo. Đó gọi là Xuất Thế Gian Pháp, nghĩa là từ thế tục mà ra. Trong khắp bảy châu địa này ai tu hành lại không xuất thế gian? Pháp Bảo rất quý, nên phải giữ gìn. Vàng vào thời bấy giờ là vật rất quý. Nếu dùng chén gỗ hay chén đá thì con người đâu xem như báu vật mà giữ gìn? Thế nên khởi đầu chuyến du hành, Đường Tăng được trao tặng Bát Vàng, là một vật rất hiếm hoi, cũng như Pháp Tu Hành rất trân quý, không thể xem thường. Thử hỏi nếu quý vị có cái bát vàng, quý vị có mang ra đựng cơm ăn không? Chứ Đường Tam Tạng có cái Bát Vàng mà hằng ngày cứ mang ra xin cơm, vậy đủ chứng tỏ vàng hay bạc gì đối với Đường Tam Tạng cũng không có giá trị. Cái quý là Pháp Tu Hành.

    Lại nữa, khi đến Thiên Trúc, An Nan và Ca Diếp đòi hối lộ mới trao kinh. Ở đoạn này, nếu không phải là người đắc đạo, ắt không thể ngộ ra diệu lý mà viết nên cốt truyện thế này. Thử hỏi trong tất cả chư thiện tri thức lần đầu tiên xem phim Tây Du Ký có ngờ rằng Đường Tam Tạng sẽ thỉnh được kinh không chữ chăng?

    Kinh không chữ tức, Vô Tự Chơn Kinh. Vô Tự Chơn Kinh là loại kinh không cách nào dùng ngôn ngữ thế gian mà có thể nói tường tận. Nó là loại kinh quý hiếm nhất. Thế nào gọi là Kinh?

    Kinh có 3 nghĩa. Thứ nhất, viết lại lời Thánh Nhân gọi là Kinh, viết lại lời phàm gọi là sách. Kinh Sách phân biệt ở chổ chi rõ thực lý, nhưng thực ra nó không có phân biệt. Lý lẽ tiên nhân là cuộc sống phi vật, lý lẽ phàm nhân là cuộc sống hữu vật. Phi và Hữu thiếu một có được chăng? Thứ hai, đường thông nhỏ của thủy ngạch gọi là kinh. Con kinh nhỏ là chi nhánh của sông. Từ kinh ngạch đổ vế sông lớn rồi mới ra biển. Thế nên, Kinh là sự chỉ đạo trở về với chánh đạo. Thứ ba, trong cơ thể con người có 20 kinh mạch. Mười hai đại kinh mạch gọi là Đại Chu Thiên. Tám đường kinh mạch khác gọi là Kỳ Kinh Bát Mạch. Tu hành mà không biết tu kinh mạch của mình tức là lãng phí thời giờ. Người tu theo kinh sách, ý nghĩa thứ nhất của kinh, gọi là Phàm Phu, tức hành giả còn dính mắc trong vô minh. Người tu theo phạm hạnh, trở về với chính đạo, ý nghĩa thứ hai của kinh, gọi là Thức Giả, tức hành giả ý thức được đạo pháp và quay trở về với chánh pháp. Người biết tự sửa chữa lấy bản thân mình, tự tu tâm dưỡng tánh, hành đạo phám cải chánh từ thể xác đến tâm linh, ý nghĩa thứ ba của kinh, gọi là Thánh Nhân, tức hành giả đã thuần phục được bản thân mình.

    Lại nữa, trong truyện có đoạn Phật Tổ nói: "chuyện đó ta biết rồi, trước đây ta có sai các sãi mới tu đi phát kinh ở nước Xá Vệ... Triệu trưởng lão hườn công ba quan tiền và ít thăng gạo trắng, ta nói Triệu trưởng lão bủn xỉn lắm sau này đời con cháu ắt sẽ nghèo.." Sao lại có việc này? Thực Kinh Tạng là vật hiếm quý. Phật và Chư Bồ Tát có phép thần thông, chẳng lẽ cần ít tiền và mớ gạo nhỏ nhoi đó sao? Thực chất Phật Tổ, cũng như A Nan và Ca Diếp biết rõ trong hành lý của Đường Tam Tạng còn có một Bát Vàng. Nhưng vì Đường Tam Tạng không hiểu rõ rằng Pháp là phương tiện đạt đến mục đích. Khi đến mục đích thì phải bỏ pháp. Cũng như Phật Tổ có nói "Ta lấy tay chỉ trăng, chớ lầm tưởng tay là trăng." Cũng như Lão Tữ có nói "Được chim quên ná, được cá bỏ nôm." Vì không hiểu rõ được hàm ý này, nên bốn thầy trò nhận được Kinh Không Chữ, tức Vô Tự Chơn Kinh, loại kinh càng đọc càng không hiểu. Vì sao? Vì Bát Vàng là phương tiện đưa Đường Tam Tạng đến cõi Phật; đã đến nơi rồi mà vẫn còn ôm chấp vào Pháp Bảo, không chịu buông ra, thì làm sao thấy được cõi Phật là thế nào? Vì còn mê chấp với Pháp, tức còn chưa vén tận màng vô minh thì làm sao đọc được kinh vô tự? Do đó Di Lặc Bồ Tát mới sai Đại Hùng Tôn Giả hóa thành đại bàng lấy về kinh sách.

    Khi trở lại, Đường Tam Tạng hiểu ra lý đạo, phải xả bỏ Pháp phương tiện, và vì sự "ngộ không," tức không còn mê chấp với thế gian pháp, nên kinh vô tự mới hiện ra chữ. Lúc bấy giờ mới chứng được quả vị Phật. Long Mã trở về Long Cung. Tích Trượng và Cà Sa vốn là vật của Kim Thiền La Hán, tức tiền kiếp của Đường Tam Tạng. Thế nên, chỉ có mỗi Bát Vàng là vật của thế gian thì phải trả lại cho thế gian, không thể mang theo vào thiên đàng được.

    Thực sự Tây Du Ký không phải người đắc đạo, không thể viết nên lời lẽ đơn sơ mà huyền diệu như vậy. Vì nhiều người chưa đạt được cảnh giới của Tây Du nên chưa thể hiểu được Tây Du, vì thế mới có sự hiểu lầm. Chỉ cần hành giả tu hành tinh tấn, ăt sẽ thấu được huyện diệu của Tây Du. Tôi có thể nói, Tây Du là truyện hư cấu, nhưng hàm chứa rất nhiều huyền cơ.
    Bài của huynh Xuân Phong đúng là vượt phàm. Có mấy người hiểu được như huynh.
    Thôi thì ai không hiểu thì chỉ nên xem phim, truyện TDK như những phim giải trí bình thường (TNK đánh yêu tinh thôi). Còn không nên có bình phẩm gì, đặc biệt là nhận xét về Tác Giả là ai hay ông Ngô Thừa Ân có đắc Đạo hay không.

  10. #30

    Mặc định

    Có 2 ý, một là: chân kinh chính là đạo vô ngôn, kinh vô chữ

    Đạo không thể đùng lời nói hay chữ nghĩa chuyển tải đựoc

    Kinh điển có chữ nghĩa, ....đều là phương tiện tới đạo, tiệm cận đạo

    Sự trong sáng của Đại Thủ Ấn không thể hiển lộ
    Trong kinh sách hay những khảo luận siêu hình,
    Về Mật chú, Bát Nhã Ba La Mật hay Tam tạng kinh điển;
    Sự trong sáng đã bị che phủ bởi ý niệm và tư tưởng.

    Vì đóng khung trong giáo lý cứng nhắc nên chân tính mật nguyện đã bị tổn hại,
    Nhưng khi chấm dứt hoạt động tâm trí thì mọi quan niệm cứng nhắc sẽ tan biến;
    Khi những làn sóng biển là sự yên tịnh sâu thẳm của chính nó,
    Khi tâm không còn lang thang trong vô định, vô tưởng,
    Thì chính mật nguyện kiên trì sẽ là ánh đèn soi sáng tâm đen tối.

    Hãy dẹp bỏ tính thông minh tự mãn, từ bỏ những nguyên lý giáo điều,
    Thì chân tính của mọi truyền thống và kinh sách sẽ được hiển lộ.
    Khi hòa nhập trong Đại Thủ Ấn, là lúc con thoát khỏi ngục tù của luân hồi;
    Thênh thang trong Đại thủ Ấn, tội lỗi và tiêu cực tính sẽ tiêu tan;
    Khi là thầy của Đại Thủ Ấn, con sẽ là ánh sáng của Kinh điển.


    Hai là sau khi thầy trò đường tăng biếu xén hết, chỉ còn cái bát vàng, vẫn chưa đưoc kinh sách thật, cần xả nốt, nộp nốt chiếc bát vàng mới được chân kinh

    Có nghĩa là buông xả hết , mới thấu rõ chân kinh

    Cũng trùng với ý này: khi tâm con buông bỏ hết mọi mong cầu, con sẽ thấy chân nghĩa của mọi kinh điển

    Khi, vắng sạch bất kỳ ước muốn nào,
    ngươi không bị chấp thủ vào một cách nhìn nào,
    thì tất cả giáo pháp trong Kinh Phật, không loại trừ giáo pháp nào,
    đều sẽ được chứng ngộ.
    Nếu ngươi gắng sức vào được chân lý này,
    thì ngươi sẽ được giải thóat khỏi nhà tù luân hồi.

  11. #31

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi maihoa Xem Bài Gởi
    Mỗi người sinh ra, đều do nghiệp, đều để trả nghiệp cũ và tạo nghiệp mới

    mỗi ngừoi đều có sứ mạng đời và đạo riêng của mình, do nghiệp qui định

    Truyện tây du ký , chẳng phải loại truyện mà ngài Ngô thừa Ân tự bịa đặt ra cho vui theo ý riêng của ngài

    Ai làm theo ý riêng mình , thì tác phẩm chỉ có thể tồn tại trong khoảng thời thế nhất định, kể cả triều đại hay chế độ chính trị. nhưng tác phẩm này vựot thời gian, tuy rằng tầm hiểu biết khiến cho sự đánh giá khác biệt nhau

    Chỉ có chân lý mới tồn taị đựoc vĩnh viễn

    Ai tiệm cận ( tiệm ngộ) chân lý thì hiểu sâu, ai vào rồi thì mới thực sự hiểu chính xác. Hiểu chính xác hãy nói, không thì nên dựa cột mà nghe

    công đức lắng nghe và khiêm hạ lớn hơn công đức phân tích phê phán

    Chẳng nên diễn giải theo ý mình.

    Ðức Phật dạy: "Phải thận trọng đừng chủ quan với tâm ý của ông. Tâm ý của ông không thể tin được, (vì vậy) hãy thận trọng ...; Khi nào chứng quả A La Hán rồi mới có thể tin vào tâm ý của ông".
    bạn maihoa viết hay lắm thật là đệ tử của phật, Những lời của bạn nói ra cứ như lời nói của phật vậy

  12. #32

    Mặc định

    Cảm ơn Mai Hoa
    "Hai là sau khi thầy trò đường tăng biếu xén hết, chỉ còn cái bát vàng, vẫn chưa đưoc kinh sách thật, cần xả nốt, nộp nốt chiếc bát vàng mới được chân kinh

    Có nghĩa là buông xả hết , mới thấu rõ chân kinh

    Cũng trùng với ý này: khi tâm con buông bỏ hết mọi mong cầu, con sẽ thấy chân nghĩa của mọi kinh điển"
    Điều đó rất ý nghĩa với người tu, góp phần khuyên người tu để tinh tấn hơn.

  13. #33

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi maihoa Xem Bài Gởi
    Có 2 ý, một là: chân kinh chính là đạo vô ngôn, kinh vô chữ

    Đạo không thể đùng lời nói hay chữ nghĩa chuyển tải đựoc

    Kinh điển có chữ nghĩa, ....đều là phương tiện tới đạo, tiệm cận đạo

    Sự trong sáng của Đại Thủ Ấn không thể hiển lộ
    Trong kinh sách hay những khảo luận siêu hình,
    Về Mật chú, Bát Nhã Ba La Mật hay Tam tạng kinh điển;
    Sự trong sáng đã bị che phủ bởi ý niệm và tư tưởng.

    Vì đóng khung trong giáo lý cứng nhắc nên chân tính mật nguyện đã bị tổn hại,
    Nhưng khi chấm dứt hoạt động tâm trí thì mọi quan niệm cứng nhắc sẽ tan biến;
    Khi những làn sóng biển là sự yên tịnh sâu thẳm của chính nó,
    Khi tâm không còn lang thang trong vô định, vô tưởng,
    Thì chính mật nguyện kiên trì sẽ là ánh đèn soi sáng tâm đen tối.

    Hãy dẹp bỏ tính thông minh tự mãn, từ bỏ những nguyên lý giáo điều,
    Thì chân tính của mọi truyền thống và kinh sách sẽ được hiển lộ.
    Khi hòa nhập trong Đại Thủ Ấn, là lúc con thoát khỏi ngục tù của luân hồi;
    Thênh thang trong Đại thủ Ấn, tội lỗi và tiêu cực tính sẽ tiêu tan;
    Khi là thầy của Đại Thủ Ấn, con sẽ là ánh sáng của Kinh điển.


    Hai là sau khi thầy trò đường tăng biếu xén hết, chỉ còn cái bát vàng, vẫn chưa đưoc kinh sách thật, cần xả nốt, nộp nốt chiếc bát vàng mới được chân kinh

    Có nghĩa là buông xả hết , mới thấu rõ chân kinh

    Cũng trùng với ý này: khi tâm con buông bỏ hết mọi mong cầu, con sẽ thấy chân nghĩa của mọi kinh điển

    Khi, vắng sạch bất kỳ ước muốn nào,
    ngươi không bị chấp thủ vào một cách nhìn nào,
    thì tất cả giáo pháp trong Kinh Phật, không loại trừ giáo pháp nào,
    đều sẽ được chứng ngộ.
    Nếu ngươi gắng sức vào được chân lý này,
    thì ngươi sẽ được giải thóat khỏi nhà tù luân hồi.
    Cá nhân tôi rất thích bài này, TU LÀ VẬY ĐÓ.

    Từ nhỏ tôi đã rất ngưỡng mộ bộ TDK, sau này bước chân vào cửa đạo mới thấy VÔ NGÔN là đúng đạo chân chính :hee_hee:

    Cứ càng nói ý chủ quan càng xa dần ý chư Phật.

    Cám ơn bạn Maihoa, mỗi lần đọc bài của bạn tôi như xả được khúc mắc trong lòng, tự cảm nhận được điều chỉ mình cảm nhận được chẳng thể tả bằng lời.

  14. #34

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi maihoa Xem Bài Gởi
    Hai là sau khi thầy trò đường tăng biếu xén hết, chỉ còn cái bát vàng, vẫn chưa đưoc kinh sách thật, cần xả nốt, nộp nốt chiếc bát vàng mới được chân kinh

    Có nghĩa là buông xả hết , mới thấu rõ chân kinh

    Cũng trùng với ý này: khi tâm con buông bỏ hết mọi mong cầu, con sẽ thấy chân nghĩa của mọi kinh điển

    Khi, vắng sạch bất kỳ ước muốn nào,
    ngươi không bị chấp thủ vào một cách nhìn nào,
    thì tất cả giáo pháp trong Kinh Phật, không loại trừ giáo pháp nào,
    đều sẽ được chứng ngộ.
    Nếu ngươi gắng sức vào được chân lý này,
    thì ngươi sẽ được giải thóat khỏi nhà tù luân hồi.
    Đúng rồi,bạn Maihoa viết rất hay.Cho dù nói nhiều nói miên man nhưng vẫn đi lòng vòng múa mai vì không hiều gì cả nên mới vậy.Chỉ 1 câu thôi mà giải quyết được vấn đề nan giải của nhiều người.

  15. #35
    Người Khăn Trắng
    Guest

    Mặc định

    Coi phim Tây Du Kí tôi chỉ hiểu ý nghĩa như thế này:
    Trư Bát Giới tượng trưng cho Tham
    Tôn Ngộ Không tượng trưng cho Sân
    Sa Tăng tượng trưng cho Si

    Còn ăn thịt Đường Tăng để được Trường Sanh bất lão ở đây có thể hiểu theo nghĩa thông thạo và hiểu "tam tạng kinh điển nhà Phật" nên sẽ giải thoát luân hồi <=> Trường sanh bất lão. Vậy thôi, chứ ko phải ăn thịt là đè Đường tăng ra mà ăn, ăn như thế bất tử đâu ko thấy mà thấy mang tội vì sát hại người tu hành. Ngoài ý nghĩa này ra thì ko có gì khác là bôi bác đạo Phật
    Last edited by Người Khăn Trắng; 05-10-2011 at 02:57 PM.

  16. #36

    Mặc định

    miễn bản chủ đề này, từ tận năm 1989 khi mới chiếu TNK hòa thượng này đã đc xem rồi, quả là đáng nể phục, vì thời đó ti vi tuy có nhg k nhiều, ở những nơi thanh tịnh như trong chùa đã có, k phải là quá ư nể phục sao.
    Ngoài tâm không động
    Ðộng chẳng phải tâm
    Tâm chẳng phải động
    Ðộng vốn không tâm
    Tâm vốn không động
    Ðộng không lìa tâm
    Tâm chẳng lìa động
    Ðộng là dụng của tâm
    Dụng là cái tâm động

  17. #37
    Đai Đen Avatar của Qin ShiHuang
    Gia nhập
    Jun 2010
    Nơi cư ngụ
    TP HCM Q.10
    Bài gởi
    756

    Mặc định

    Xin gởi tiếp đến các bạn ,cùng tham khảo : Câu Chuyện Giải Mã TÂY DU KÝ của Lê Anh Dũng :


    Long mã

    Con ngựa mà vua Đường cấp cho Đường tăng bắt buộc phải chết đi, để đem thay bằng ngựa thần, ngựa rồng. Ngựa là xác thân. Ngựa thần là xác thân cương kiện. Một tinh thần minh mẫn trong một xác thân tráng kiện. Con người đi tìm Chân lý, tìm Đạo, cần có xác thân vững vàng, khoẻ mạnh. Không có ngựa tốt thì Đường tăng không tới được Lôi âm. Người mà thể xác bịnh hoạn, tinh thần ươn hèn thì làm sao có thể quyết tâm chiến đấu để đạt tới Chân lý, đạt Đạo?

    Sa tăng

    Sa tăng Sa tăng là tánh cần cù, nhẫn nại. Ngô Thừa Ân bắt Sa tăng phải nhọc nhằn gánh hành lý là lẽ ấy. Tề thiên mấy bận giận Thầy, mấy phen đào nhiệm, từng quay về Thủy liêm động quê xưa; Bát giới nào có thua, đã trăm lần ngàn lượt cứ lẻo nhẻo đòi chia của, rồi mạnh ai đường nấy, chàng về cố thổ lấy vợ cho xong. Chỉ riêng có Sa tăng suốt cuộc hành trình thiên ma bách chiết, vào yêu ra quỷ, một lòng một dạ quảy hành trang tiến tới. Không một lời thối lui. Không một lòng biến đổi. Sa tăng là hình ảnh của tinh tấn, trì thủ, tâm bất thối chuyển. Dù khó khăn đến đâu, đã quyết rồi, thì cứ đi tới. Khí giới của Sa tăng vì thế là bảo trượng có đầu dẹp và bén nhọn, để mà dễ dàng găm chặt vào, ghim chặt vào. Chí đã định rồi thì không biến đổi, lòng đã quyết rồi thì chẳng chuyển lay. Pháp danh của Sa tăng vì thế là Ngộ tịnh: tịnh để mà khắc chế cái động, cái chưa thanh tịnh; tịnh để mà kham nhẫn, chịu đựng.

    Bát giới

    Bát giới Bát giới là tánh tham. Tham ăn, tham ngủ, tham của, tham sắc và tham nịnh nọt cho được lợi về mình. Khí giới của họ Trư vì thế phải bắt buộc là đinh ba, là cào cỏ, để mà vơ vào cho nhiều, cho vừa lòng tham dục. Bát giới là sự tập hợp những bản năng rất vật dục và tầm thường nơi con người. Có lẽ vì thế mà pháp danh của chàng là Ngộ năng[2].

    CÁM ƠN ĐỜI MỘT SỚM MAI THỨC DẬY,
    TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG !

  18. #38

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi nhutri Xem Bài Gởi
    -BÁC XUÂN PHONG ƠI:NT khi xem phim chỉ rút ra một bài học thôi
    -TRONG phim có nhắc đến sự rõ ràng của chữ tình-chữ tình khó qua nhất của người tu học(qua dc ải mỹ nhân nhưng không qua nỗi ải ân tình-nếu THẦY ĐƯỜNG TĂNG mà không nhờ yêu tinh bắt đi thì lúc đó sao nhỉ)học ở đây là sự trong tốt có xấu trong xấu có tốt,thấy vậy mà yêu tinh đã giúp THẦY thoát dc màn thua trong thấy)chắc ý của tác giả nhắc nhở điều gì đến cho những người tu.
    nên tham ,sân,si ,chữ si khó qua nên xếp cuối cùng nhỉ.......???
    -khi phim tái bản ,có một đoạn của THẦY ĐƯỜNG TĂNG VÀ NỮ VƯƠNG chia tay,trong đoạn này người viết đã sửa lại là-hẹn nàng ở kiếp sau-ý nói gì đây ??????có phải nhắc nhở người tu đưng quyến luyến ,đừng hẹn kiếp sau không? ,nếu hẹn là rớt cái bịch vì sao vậy ,vì ý đã muốn se duyên này ,hẹn kiếp sau vì kiếp này mắc tu rồi ,khi xem phim phải hiểu sự nhắc nhở của tác giả chứ đừng có hiểu tác giả ý muốn giễu cợt hay chê bai PHẬT GIÁO .
    bạn muốn bình Tây Du tốt nhất là nên đọc truyện, bộ phim nhãm nhí của bà đạo diễn Dương Khiết vì câu khách đã bóp méo vai trò Đường Tăng trong tập Nữ Vương.
    trong vụ với bà Nữ Vương lẫn những cám dỗ liên quan đến sắc và đến tình Tam Tạng đều vượt qua rất dễ dàng, không một chút vướng mắc.
    Thứ nhất trong tập này Đường Tăng có vi phạm 1 trong ngũ giới của Phật Thích ca nhưng là giới cấm nói dối: Đường tăng giả vờ đồng ý lấy bà nữ vương với 1 điều kiện là bà ấy đóng bản sứ điệp cho 3 đồ đệ lên đường, Tam Tạnng sẽ ra cổng thành tiễn. Nhưng khi ra cổng thành thì Tam Tạng nói: cãm ơn nử vương đã tiển bần tăng phải đi thỉnh kinh, xin từ biệt tại đây, bà ấy níu áo Đường Tăng thì bị Bát Giới dọa sợ quá xỉu, Tam Tạng lên ngựa chạy trước ba đồ đệ ở lại dùng phép định thân cản đám nữ binh. Tam Tạng bị con bò cạp chụp cổ đem đi.
    Tam Tạng không có lời hẹn kiếp sau nào với bà nữ vương cả, vì kiếp này Tam Tạng sẽ thành Phật, chấm dứt luân hồi khổ nạn. Nếu tam Tạng hẹn kiếp sau với bà Nữ Vương thì kiếp này Tam Tạng sẽ không bao giờ thành chánh quả vì ông còn 1 lời hẹn của kiếp sau với bà Nữ Vương hay nói khác là 1 nghiệp báo cần phải trả, Người tu hành là tu để dứt nghiệp báo chứ không phải tu để lại một lời hứa kiếp sau.
    Còn về thầy Thích Nhật Từ thì chỉ cần đọc qua lời bình tôi nhận thấy thầy ấy chỉ xem phim chứ hình như chưa đọc truyện nên lời bình còn rất nhiều đoạn không chính xác. bây giờ có việc bận nên chưa bình luận đợi dịp khác rãnh rỗi tôi sẽ chỉ ra từng đoạn nói sai của thầy Thích Nhật Từ

  19. #39

    Mặc định

    Các thầy thời nay, tât nhiên chẳng phải thời hưng thịnh của pháp, hãy đọc kỹ kinh pháp diệt tận, chứ đừng mang tên thầy này thầy kia ra, thêm mệt

  20. #40
    Đai Đen Avatar của Qin ShiHuang
    Gia nhập
    Jun 2010
    Nơi cư ngụ
    TP HCM Q.10
    Bài gởi
    756

    Mặc định

    Xin gởi tiếp : Bài nói về Tề Thiên .

    Tề thiên

    Tề thiên Tề thiên là trí, lý trí. Bộ phim Tây du của nữ đạo diễn Trung Quốc Dương Khiết cho thấy đạo diễn dường như đã hiểu được vai trò quan trọng của Tề thiên. Lý trí phải dẫn dắt, phải soi đường cho hành động. Thế nên, trong phim, luôn luôn vai Tề thiên đều đi trước, để dẫn đầu mấy thầy trò.

    Lý trí ưa nổi loạn, ngang tàng phách lối, chẳng chịu thua kém nhường nhịn ai. Cho nên Tề thiên coi mình to ngang với Trời (Tề thiên: bằng Trời), và muốn lên trời xuống biển, quậy phá đều làm được tất, không chút đắn đo, chẳng hề ngần ngại. Đối với Trời vẫn tự xưng «Lão Tôn» là tánh kiêu căng. Trước mặt Trời vẫn nghinh ngang, đứng xổng lưng không chịu quỳ, ăn nói lôi thôi bất kể tôn ti trật tự, đó là tượng trưng cho đầu óc duy lý của những người muốn phủ nhận Thượng đế.

    Lý trí ưa phân biện, cho nên Tề thiên mới có con mắt lửa tròng vàng, nhìn một cái là thấy rõ bản chất và hiện tượng, biết ngay ai đúng là căn tiên cốt phật, ai đậy che dáng quỷ hình ma. Lý trí cũng thích đả phá, ưa đả kích, cho nên khí giới của Tề thiên phải là thiết bổng (gậy sắt), để mà đập phá. Pháp danh của Tề thiên vì thế là Ngộ không: Không (sunyata) để mà siêu vượt lên mọi đối đãi của thế giới sắc tướng và thế giới phi sắc tướng.

    Lý trí, tư tưởng đã suy xét, đã vận động thì ôi thôi, thiên biến vạn hóa. Cho nên thiết bổng của Tề thiên khi nặng thì nặng vô cùng, mà lúc nhẹ thì nhẹ hơn mảy lông, muốn to nhỏ ngắn dài tùy ý, nhét gọn lỗ tai cũng xong, thế nào cũng được. Đó cũng là tư duy, ngôn ngữ, lý lẽ của con người. Hay cũng nó. Dở cũng nó. Bóp méo, vo tròn đều được cả. Đó vốn là nghề của chàng.

    Lý trí vì những «thuộc tính» như thế nên cần thiết phải được uốn nắn luôn luôn cho hợp với kỷ cương, khuôn phép. Tề thiên bởi vậy mà phải đội kim cô. Tuy nhiên, khi về tới chùa Lôi âm, thành phật rồi, không cần cởi, vòng kim cô tự lúc nào đã biến mất. Cái trí con người khi đã thuần dưỡng thì không cần kỷ luật nó vẫn vận động đúng. Giống như trẻ con mới đi học, tập viết phải có giấy kẻ hàng đôi, đến chừng lớn lên viết giỏi rồi, giấy chẳng vạch hàng kẻ ô vẫn dễ dàng viết ngay ngắn.

    Cái trí của con người còn có một đặc điểm là xẹt rất lẹ, phóng rất nhanh, cực nhanh. Ngồi ở Sài Gòn mà có thể lan man nghĩ ngợi tới tận đâu đâu, như chu du năm châu dạo cùng bốn biển; chuyện mấy chục năm quá khứ, chớp mắt một cái là cả cuốn phim dĩ vãng trường thiên vùn vụt hiện về. Diễn tả ý này, truyện Tây du bảo Tề thiên có được phép cân đẩu vân, «mỗi cân đẩu vân đi được mười vạn tám nghìn dặm» [TDK I 1982: 63]. Con số 108.000 dặm ngoài ý nghĩa tượng số học[3] còn nhằm ám chỉ tốc độ khủng khiếp của tư tưởng con người.
    CÁM ƠN ĐỜI MỘT SỚM MAI THỨC DẬY,
    TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG !

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. BỬU SƠN KỲ HƯƠNG - TÁC GIẢ VƯƠNG KIM
    By vankhuc in forum Bửu Sơn Kỳ Hương
    Trả lời: 9
    Bài mới gởi: 22-07-2012, 04:47 PM
  2. Kinh Vô Lượng Thọ Phật !
    By kinhdich in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 6
    Bài mới gởi: 31-05-2012, 04:26 PM
  3. YOGA GIẤC MỘNG VÀ SỰ THỰC HÀNH VỀ ÁNH SÁNG TỰ NHIÊN
    By ÁNH SÁNG -T2- ÚC CHÂU in forum Mật Tông
    Trả lời: 4
    Bài mới gởi: 21-01-2011, 01:35 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •