Hỏi: Thế nào là tri huyển tức ly, ly huyển tức giác?
* Tri Huyển tức Ly = Biết (thấy) Vọng tức Ly ( Vọng-niệm lặng.)
* Ly Huyển tức Giác = Lìa Vọng tức Phật ( Giác )
..........
http://bee.net.vn/dataimages/201006/...es404322_7.jpg
Hỏi: Những vị Tổ đã ra đi thường để lại xá lợi, còn những vị Tổ thời gần đây như ngài Nguyệt Khê, sao để lại kim thân bất hoại làm gì?
Đáp: Nguyện lực của mỗi người mỗi khác, như ngài Lục Tổ, Hám Sơn, Đơn Điền cũng để lại nhục thân, ngài Nguyệt Khê cũng vậy. Theo nghi lễ của Phật giáo, các vị Tổ khi thị tịch thường là hỏa táng, vị nào có sự tu chứng thì để lại xá lợi, vị nào chẳng tu chứng thì không. Nhưng có xá lợi chẳng thể chứng minh cho sự kiến tánh, kiến tánh mới cần thiết, còn việc có xá lợi chưa chắc đã giải thoát, có khi còn ở trong sanh tử luân hồi
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:yawn:
http://www.hoangphaphanoi.com/UserIm...nhtu_2_gif.gif
Hỏi: Thế nào là chánh pháp nhãn tạng?
Đáp: Tổ sư thiền này là chánh pháp nhãn tạng. Khi đức Phật truyền pháp cho Sơ tổ Ma Ha Ca Diếp, Ngài có nói:”Nay đem chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm truyền cho Ca Diếp,” vậy là rõ rồi.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:star:
http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:A...a7nKeyVQ_iW0NA
Hỏi: Có người hỏi Thiền sư Nam Tuyền :”Dưới pháp hội của Ngũ Tổ có năm trăm vị, người nào cũng thông thái và giỏi pháp lý. Vậy tại sao ngài chẳng truyền y bát cho người khác, mà lại truyền cho Lục Tổ Huệ Năng ?”
Ngài Nam Tuyền đáp: “Sở dĩ truyền cho Huệ Năng, vì ngài không biết Phật pháp, nhưng biết đạo.” Nghĩa này là thế nào ?
Đáp: Đức Phật trong Kinh Kim Cang nói: ”Chẳng có pháp gọi là Phật pháp.”, “Pháp, phi pháp, phi phi pháp.”, “ Ai nói ta có thuyết pháp là phỉ báng Phật.”, “Vô pháp khả thuyết, gọi là thuyết pháp”… Không có pháp thì làm sao biết Phật pháp? Vì ngộ được vốn là chẳng có pháp, nhưng chẳng phải phủ định tất cả pháp, pháp nào cũng y như cũ; cái tách vẫn là tách, quả cam vẫn là cam, chứ không có ý của cá nhân xen vào.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:coffee:
Ngài Nam Tuyền đáp: “Sở dĩ truyền cho Huệ Năng, vì ngài không biết Phật pháp, nhưng biết đạo.” Nghĩa này là thế nào ?
* Biết "Phật Pháp" chưa thể gọi là ngộ Tánh ( Còn ngoài cửa Đạo.)* Tỏ rỏ con đường đi (Biết-Đạo) ,gọi là Ngộ Tánh ( Vào cửa...)
...........
http://images.yume.vn/blog/201106/25...1285511920.jpg http://files.myopera.com/hoainam553/...jpg_thumb2.jpg
Hỏi: Nhân quả xuất phát từ tâm, nếu vô tâm mà phạm thì vẫn phải chịu nhân quả ư?
Đáp: Nhất thiết duy tâm tạo, còn tâm còn nhân quả, hễ tâm tạo nhân thì tâm phải chịu quả.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:whistling:
http://choitro.com/uploads/2011/08/9...86893.jpg3.jpg
Hỏi: Vậy tham Tổ sư thiền có thể đưa đến nhất tâm bất loạn không?
Đáp: Nhất tâm bất loạn không phải mục đích của tham thiền. Tham thiền là muốn kiến tánh thành Phật, đạt đến giải thoát, còn nhất tâm bất loạn chưa thể đạt đến giải thoát, chỉ là vọng tưởng không nổi lên thôi. Dẫu cho dẹp hết tất cả vọng tưởng, cũng chỉ là vô thỉ vô minh, còn nằm trong vô minh.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
sick032
http://images.yume.vn/blog/200904/10...1239327096.jpg
Hỏi: Tác dụng đọc 50 thứ ma ngũ ấm để là gì?
Đáp: Để nhắc nhở, để ý mình có lọt vào những cảnh giới đó không? Nếu thấy mình có chứng đắc thì rất nguy hiểm, chớ tưởng là tốt. Phật dạy A Nan luôn nhắc nhở người đời sau: “Tu hành không được để lọt vào 50 thứ ma ngũ ấm”.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:hypnotized:
NĂM MƯƠI THỨ ẤM MA TRONG KINH LĂNG NGHIÊM
Hiện tại chúng ta đang nghiên cứu Năm Mươi Thứ Ấm Ma, nhưng sợ rằng có đến năm trăm loại Ấm Ma sẽ xuất hiện cả đây! Cho nên các vị đừng mở cửa để hoan nghinh chúng làm loạn! Tuy nói là ma, song nhìn bề trái của nó thì chúng đến để giúp đỡ sự tu Ðạo của mình, xem chí nguyện của mình kiên cố hay chẳng kiên cố. Nếu kiên cố thì dù ngàn con ma tới mình cũng không thay đổi lập trường, vạn con ma tới mình cũng không thối lui, cái gì mình cũng không sợ cả! Nếu mình không có sở cầu, thì tức là: "Ðáo vô cầu xứ, tiện vô ưu." (Khi lòng không mong cầu, tâm sẽ hết âu lo.)
"Vô sở cầu" tức là không có điều gì sợ hãi. Sợ cái gì? Cũng giống như người sợ quỷ, nghĩ rằng quỷ hết sức ghê gớm, xấu xí. Người nào cũng nghĩ rằng người chết thì biến thành quỷ, nên họ sợ. Nhưng không ai sợ thần. Ông thần Kim Giáp là kẻ hết sức lợi hại mà chẳng ai sợ ông ta!
Khổng Tử từng nói rằng: "Kính quỷ thần nhi viễn chi." (Kính quỷ thần nhưng lánh xa họ.) Song, mình đừng sợ quỷ cũng đừng sợ thần. Mình cung kính họ nhưng không cần phải thân cận với họ.
Ma là thứ đến thử thách người tu Ðạo nên các vị đừng có lòng khủng khiếp, lo sợ. Nếu mình sợ sệt, thì dù không muốn kêu ma lại, nó cũng sẽ tới. Nếu mình không sợ, thì nó muốn lại cũng không được. Ðó là mật quyết vô cùng trọng yếu: Ðừng sợ hãi! Khi mình không khiếp nhược, không lo sợ, thì tự nhiên mình sẽ chánh. "Chánh" thì có thể hàng phục mọi thứ, vì lẽ "tà bất thắng chánh." Ma sợ nhất bốn chữ: Chánh Ðại Quang Minh. Nếu mình mà "chánh đại quang minh" thì ma sẽ nép giữ quy củ, chúng sẽ hướng về mình mà đảnh lễ.
Bây giờ hãy nghiên cứu cảnh giới Năm Mươi Thứ Ấm Ma. Năm mươi thứ đó tức là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Ðây bất quá là nói sơ lược cốt tủy mà thôi. Kể tường tận thì cảnh giới của chúng thật vô số, không thể kể hết được, nên Phật chỉ nói có năm mươi thứ là để giúp người đời hiểu và quán sát dễ dàng. Khi sáng tỏ được đạo lý của Năm Mươi Thứ Ấm Ma thì mình sẽ không bị cảnh giới đó làm dao động, đó là điều hết sức quan trọng.
Nếu muốn đừng bị cảnh giới làm dao động thì đầu tiên mình phải trì giới. Giới là căn bản của tất cả các Ðịnh; Ðịnh là căn bản của Trí Huệ; Huệ là căn bản để thành Phật. Nếu muốn thành Phật thì nhất định phải tu Giới, Ðịnh, Huệ. Tu mà không tương hợp với Giới, Ðịnh, Huệ tức là mình tìm cầu pháp ở bên ngoài tâm, tức là đã "hướng ngoại truy cầu"! Khi có Giới lực thì mình sẽ đắc Ðịnh lực; có định lực thì mình sẽ có Huệ lực, vì chúng là tương sinh. Giới sinh Ðịnh, Ðịnh phát Huệ, Huệ thành Phật; thiếu một thì chẳng thành được.
Do đó, hiện tại mình phải dùng thái độ khách quan mà nghiên cứu, đừng có thái độ chủ quan. Khi có thái độ chủ quan thì rất dễ có sự thiên lệch. Mình cần phải dùng Trạch Pháp Nhãn (con mắt biết nhận định chân lý) mà quán sát, dùng Trí Diệu Quán Sát mà nghiên cứu, nhưng đừng chấp trước ở điều mình quán sát. Trí Diệu Quán Sát cũng giống như cái gương vậy, chẳng khác gì mấy với Trí Ðại Viên Kính. Trí Ðại Viên Kính thì chẳng dao động mà có thể hiện ra tướng thật của mọi sự; còn Trí Diệu Quán Sát thì có năng lực quán sát mọi vật khiến mình biết được mọi vật một cách rõ ràng.
Phải dùng thái độ khách quan, không thiên lệch, thì mới nhận thức được cảnh giới một cách rõ ràng. Các vị mà nhận thức thấu đáo được cảnh giới thì sẽ không bị nó làm cho mê loạn!
Vấn Ðáp
Hỏi: Ma là gỉ? Có bao nhiêu loại?
Ðáp: Ma là trở ngại sự tu đạo. Sự biến hóa của vọng tâm, hay những hiện tượng ngoại giới. Có 4 loại ma:
Phiền não ma: Phiền não ma gồm có tham sân si mạn nghi tà kiến, v.v... là những tâm thái, che lấp chân tâm, trở ngại sự phát triển của trí huệ.
Thiên ma: Là một loại chúng sinh đắm trước vào sự khoái lạc của bản ngã, thích được tự tại, tự do phóng dật. Thiên ma thì cư trú ở trên trời Tha hóa tự tại; chúng rất sợ người tu thành đạo do đó tìm cách phá hoại người tu, làm trở ngại đường giác ngộ.
Tử ma: Hay là sự chết. Chết cũng làm trở ngại công phu tu hành. Chết làm gián đoạn công phu tu hành miên mật của hành giả.
Ấm ma: Là cảnh giới sinh khởi do hành giả quán chiếu, phá vở năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) trong quá trình khai mở Phật tánh. Những cảnh giới này gọi là ma vì nó có thể làm hành giả mê muội, khiến họ rơi lạc vào nẻo tà, hoặc giả rơi vào tay của thiên ma. Ấm ma gồm có 50 thứ (mỗi ấm có mười loại).
Hỏi: Xin thầy giải thích thêm về bản chất của Ấm ma hay 50 ấm ma.
Ðáp: Sau đây xin trích dẫn lời dạy của Hòa Thượng Tuyên Hóa về 50 ấm ma (giảng vào tháng 1, 1983 ) như sau: Ấm ma không phải chỉ có 50 thứ, nó có thể có 500, 5000 hay 5 vạn, hay 50 vạn loại. Mỗi loại lại phân chia mười thứ. Nếu phân chiết thì chúng có thể lên đến trăm vạn loại. Tóm tắt thì thế nào là ấm ma? Thật ra, căn bản của chúng chẳng là gì cả, chúng chỉ là một thứ âm khí. Âm khí này từ đâu tới? Từ nơi âm niệm ( tư tưởng ý nghĩ âm hiểm âm độc ) của ta mà ra. Âm niệm tức là tâm niệm tham lam, sân hận, ngu si. Từ đó chúng sản sinh ra sắc thọ tưởng hành thức. Trong mỗi ấm ấy lại sinh khởi ra không biết bao nhiêu là âm tướng ( hay hiện tượng âm hiểm ). Âm tướng này xuất hiện là bởi vì công phu của bạn đạt đến một trình độ nào đó. Nếu công phu của bạn chưa có trình độ thì dù muốn có ấm ma, bạn cũng không thể nào gặp đặng. Hễ công phu có trình độ thì ma hiện. Khi chúng hiện bạn đừng hốt hoảng, cũng đừng sợ bị ma nhập. Khi âm tướng xuất hiện, bạn phải giữ thái độ an nhiên, giống như chẳng có chuyện gì xảy ra.
Kiến như bất kiến
Văn như bất văn
Ðó cũng chính là nhìn mà chẳng thấy, nghe mà chẳng lọt tai, nếm nhưng chẳng biết mùi vị. Nếu bạn có thể không nhập vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì ấm ma chẳng có cách gì hại bạn được. Nếu bạn chẳng có tham, sân, si thì bạn có thể hàng phục bọn ấm ma. Và nếu bạn chẳng có lòng ích kỷ, chẳng tự lợi, chẳng mong cầu, chẳng tham lam chẳng tranh giành gì cả thì không có ma nào phá hoại bạn được. Khi mình nghiên cứu ngũ ấm ma, các bạn chớ sợ chúng. Mình không cần thiết phải sợ. Thứ âm khí của ma này thì như thế nào? Có thể ví dụ như làn hơi do nước đun sôi bốc ra. Khi đun nước nếu hơi bốc lên tức nước đang sôi. Khi bạn tu hành ( có trình độ rồi ) thì ma hiện ra. Chúng là các thứ âm niệm, âm khí huyễn hóa xuất hiện nơi tự tánh của bạn y hệt như khi nước sôi thì hơi bốc ra. Khi chúng huyễn hóa xuất hiện, bạn chớ bị chúng làm động tâm. Nếu được vậy thì chẳng có gì rắc rối. Khi nước sôi, thì hơi bốc lên, chẳng có gì kỳ lạ. Sau khi hơi bốc ra, nước sẽ nguội để mình uống.
Khi người tu xuất hiện ra ma khí như vậy thì cũng giống như vàng được thanh lọc tôi luyện. Khi cấu bẩn trừ hết thì chỉ còn lại vàng ròng. Tu đạo thì chẳng khác gì tôi luyện vàng ròng vậy. Rằng: Vàng thiệt không sợ lửa.
Bạn phải luyện cho ra vàng ròng, luyện cho thành thân kim can bất hoại. Muốn có thân kim cang bất hoại, bạn phải dụng công tu hành trong mọi thời mọi lúc, niệm niệm liên tục. Khi tu, bất luận bạn đạt tới trình độ nào, bạn chớ sinh lòng hoan hỷ hay sợ hãi. Ðây là điều tối quan yếu, tối căn bản để người tu giải quyết các ma chướng.
Bồ Ðề Hải
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/89/CA/au1.jpg
Hỏi: Khi con ngồi tham thiền, đủ thứ cảnh giới bao vây lấy con, vậy phải làm sao?
Đáp: Đó đều là vọng tưởng, do vọng tưởng mới hiện ra đủ thứ cảnh vật. Người tham thiền là dùng cái không biết để tu, còn cảnh giới khủng khiếp, cảnh giới vui, cho đến Phật Thích Ca đến rờ đầu thọ ký mình thành Phật v.v… đều là vọng, không biết tới. Đường lối thực hành của mình là không biết, tại sao lại biết đến những thứ đó ! Ấy là do tập khí phiền não từ lâu đời, nay cứ giữ lấy nghi tình, bất cứ hiện cảnh giới gì đều mặc kệ nó, hiện cứ hiện, tham cứ tham, chỉ nhìn vào câu thoại đầu tham tới mãi, vậy là được rồi.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:tongue:
http://t1.gstatic.com/images?q=tbn:A...BPGbW9ySPJ_X3w
Hỏi: Theo giới trẻ thời nay, phần đông chịu sự ảnh hưởng của văn minh về học thuyết duy vật và duy lý của phương Tây, tất cả đều muốn biết một cách cặn kẻ của vấn đề. Theo sách Phật giáo Nguyên thủy cho rằng: Sau khi nhập diệt Vô dư Niết bàn thì không còn sự hiện hữu của Đức Phật Thích Ca hay bất cứ một vị Phật quá khứ nào khác, đó mới thật sự không còn bị sanh tử luân hồi. Vì theo Phân tâm học của Phương Tây, hễ còn có sự tồn tại trên bất cứ cõi nào, tức còn có tâm trí muốn tồn tại, đó là nguồn gốc của sự sanh tử luân hồi.
Theo Kinh điển của Phật, một khi đã chứng đắc quả A-la-hán hay quả Phật là đi ra khỏi sanh tử. Trong giáo lý Đại thừa, mà Đại thừa là có từ sau khi Đức Phật nhập diệt, xuất phát từ những vị Tổ sư, hoặc căn cứ vào những lời Phật tuyên thuyết, nhưng những bộ kinh Đại thừa thì không được chấp nhận trong Phật giáo Nguyên thủy, cho rằng “Sau khi Phật nhập Niết bàn vẫn còn hiện hữu, đó là do tâm cảm ứng, tức vạn pháp duy tâm, do sức tâm tạo ra cảnh giới thiên đàng địa ngục v.v…”Từ đó con có một sự qui kết như sau:
Theo con, những người Âu Mỹ thường đặt câu hỏi với con: Tu đạo Phật là tu cái gì? Đắc quả vị Phật là đắc cái gì? Con trả lời: “Tu đạo Phật là tu sự triệt tiêu, đắc quả Phật là đi đến một sự triệt tiêu.” Triệt tiêu ở đây có nghĩa là ra khỏi sanh tử, triệt tiêu ý chí muốn tồn tại muốn sống, ấy mới có thể ra khỏi sanh tử luân hồi. Vậy có đúng không?
Đáp: Hễ có hai chữ “cho rằng”đều là sai lầm. Phật tánh vô thỉ vô chung, chẳng có “cho rằng” là cái gì, vì không có sự sanh khởi. Nếu có “cho rằng,” ấy là nhận thức của bộ óc, nhưng bộ óc này là pháp sanh diệt, sau khi chết sẽ thành đất thành tro. Còn Phật tánh chẳng sanh diệt, nên người chứng quả gọi là ngộ pháp vô sanh, chứng vô sanh pháp nhẫn. Có “cho rằng”tức có sanh khởi, trái với giáo lý nhà Phật. Lại nữa, nhà Phật chẳng có kiến lập chơn lý, vì Phật tánh đã là chơn lý rồi, nếu kiến lập thêm một chơn lý tức thành hai, như trên đầu mọc thêm đầu, phải mời bác sĩ phẩu thuật cắt bỏ.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:nail_biting:
http://hoanghuuquyet.vnweblogs.com/g...1-IMG_1785.jpg
Hỏi: Trong Kinh Viên Giác nói:”Nếu dùng tâm phàm phu này đo lường cảnh giới của Như lai, chẳng khác gì lấy lửa đom đóm đốt núi Tu di”là thế nào?
Đáp: Cũng trong Kinh Viên Giác nói:”Nếu chưa ra khỏi luân hồi mà luận bàn viên giác, thì viên giác ấy cũng là luân hồi.” Nay dùng lời nói thế gian thì nói đi nói lại cũng là pháp thế gian, chẳng thể ra ngoài thế gian được. Cho nên, dùng ngôn ngữ chẳng thể nhập tri kiến Phật .
Nói đến tri kiến Phật, nhiều người lầm tưởng có cái kiến giải, có cái sở tri của Phật. Nếu có kiến giải, có sở tri thì chẳng phải tri kiến Phật, chẳng lập tri kiến nào cả, trống rỗng tánh không mới là tri kiến Phật. Hễ có nổi lên một tri kiến nhỏ như hạt bụi cũng chẳng phải tri kiến Phật, mà ấy là vọng.
trích Duy Lực Ngữ Lục)
:batting_eyelashes:
http://files.myopera.com/phuongthaoh...i%20Da%206.gif
Hỏi: Có người lúc lâm chung, những người xung quanh thấy có ánh sáng xẹt ra, vậy người đó đã được Phật rước, đúng không?
Đáp: Không đúng. Nay dù thấy Phật Thích Ca đến rờ đầu thọ ký sẽ thành Phật cũng còn không đúng, huống là thấy ánh sáng ! Tất cả đều là vọng, đều do vọng tâm biến hiện. Trong Bá Trượng Quảng Lục, ngài nói: Khi người lâm chung, cảnh giới mà mình ham thích sẽ hiện tiền, ví như ham thích nhà lầu xe hơi thì cảnh đó sẽ hiện lên, hễ đi vào đó khi trở ra đã thành con chó con heo. Vì đó là do mình đã tạo nghiệp rồi, nên phải trả quả.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:icon_evil:
CÁM ƠN NGƯỜI CẤT CÔNG POST BÀI ,AI MÀ THỰC HÀNH HẾT ĐƯỢC THÌ LÀ CHỨNG ĐẠO RỒI .
Người post đã có thực tiễn trong các bài của mình chưa??
Đáp: Đó đều là vọng tưởng, do vọng tưởng mới hiện ra đủ thứ cảnh vật. Người tham thiền là dùng cái không biết( Biết mà không Chấp-Trụ ) để tu, còn cảnh giới khủng khiếp, cảnh giới vui, cho đến Phật Thích Ca đến rờ đầu thọ ký mình thành Phật v.v… đều là vọng, không biết tới( Không Chấp tới). Đường lối thực hành của mình là không biết( Biết mà không Chấp-Trụ ), tại sao lại biết(Chấp) đến những thứ đó ! Ấy là do tập khí phiền não từ lâu đời, nay cứ giữ lấy nghi tình, bất cứ hiện cảnh giới gì đều mặc kệ nó, hiện cứ hiện, tham cứ tham, chỉ nhìn vào câu thoại đầu tham tới mãi, vậy là được rồi.
*Thấy-Biết mà "không Chấp" , chớ nào phải "Không Biết"
* Như "Không Biết" . Thì khác gì "Sỏi đá". "Biết" mà "Không trụ" . Mới gọi là "Tỉnh Giác".*Đây là "Chữ Không" của Thiền Tông.
:happy: xin mời cô Minh Đài xem lại giúp RH05 nha !
18-10-2011, 08:35 AM
Richardhieu05
Xin chào tất cả các ông, bà, bác, chú, cô, anh, chị, em và các đạo hữu trên diễn đàn.
Có nhiều yếu tố có thể giúp bổ sung cho việc tìm hiểu, học và hành những chân lý trong Phật Pháp của chúng ta, trong đó sự tiếp cận với các "khái niệm" là một yếu tố có thể hữu ích với không ít người. Vào diễn đàn đã được vài tháng, hôm nay tôi xin phép được mở một topic với chủ đề "Xin mời mọi người chia sẻ và tìm hiểu về những khái niệm Phật Pháp" này.
Xin mời mọi người tùy duyên, tích cực chia sẻ về các khái niệm Phật Pháp tại đây nhé.
Chúc mọi người bình an ! Xin cám ơn ạ !
05-01-2012, 09:04 PM
Richardhieu05
Xin kính chào mọi người!
Topic này đã được mở được một thời gian. Cá nhân tôi đã đưa lên một số khái niệm của Hòa thượng Thích Duy Lực và tự bản thân cũng có thêm cơ hội được học hỏi từ những lời dạy của Hòa thượng và các chia sẻ của mọi người.
Tôi cũng đã sưu tầm được thêm một số câu trả lời của Hòa thượng Thích Duy Lực trước các câu hỏi liên quan đến các vấn đề tu học Phật Pháp trong hai quyển Ngữ Lục của Hòa thượng. Từ nay xin phép post cùng với các khái niệm để chia sẻ và học hỏi thêm với mọi người.
Chúc ... bình an miên viễn !
04-04-2012, 04:31 PM
Richardhieu05
Xin chào mọi người!
Rất cám ơn mọi người đã bỏ công ghé thăm topic.
Để làm phong phú thêm cho topic này, gần đây tôi được một bậc đàn anh cho tham khảo tác phẩm My Vân Tiên vấn đáp. Do cũng thấy nhiều màu sắc thú vị và tri thức về phật pháp. Tôi xin được xen kẽ các bài thuộc tác phẩm trên vào topic này để được chia sẻ và học hỏi với mọi người.
Chúc... bình an miên viễn !
:love_struck:
Ý nghĩa chơn tâm và bản tánh như thế nào?
Hỏi: Kính thưa thầy, con có một thắc mắc về chơn tâm và bản tánh. Sao gọi là chơn tâm? Sao gọi là bản tánh? Vậy giữa chơn tâm và bản tánh giống nhau hay khác nhau? Con hay nghe cái tánh Phật của mọi người nó bất sanh bất diệt, thế nào là bất sanh bất diệt?
Ðáp: Giữa chơn tâm và bản tánh tuy hai danh từ có khác nhưng ý nghĩa thì không khác. Nói chơn tâm là đối với vọng tâm mà nói. Chơn là chơn thật không biến đổi đó là nghĩa thường hằng bất sanh bất diệt. Tâm là biết, cái biết nầy nó lặng lẽ trong sáng không bị ngoại cảnh chi phối. Nếu trong lúc ngồi thiền, khi tâm chúng ta chưa dấy động khởi nghĩ bất cứ thứ gì, mà lúc đó chúng ta vẫn có cái biết sáng suốt hiện tiền, chính đó mới là cái biết chơn thật. Trong Kinh thường gọi cái “biết” nầy là chơn tâm. Còn khi chúng ta khởi niệm nghĩ đến chuyện lành dữ, phải trái, hơn thua v.v… thì cái biết đó trong kinh gọi là vọng tâm. Nghĩa là cái biết duyên theo trần cảnh đối đãi mà có. Kinh Viên Giác nói: “Cái tâm nầy nó do duyên theo bóng dáng sáu trần, mà có ra cái tướng tự tâm”. Nên nói nó là vọng tưởng. Chính nó do duyên sanh, nên bản chất của nó là không thật. Vì không thật, cho nên nó khởi sanh, khởi diệt, chợt có, chợt không, sanh diệt biến đổi liên miên không dừng.
Còn nói bản tánh là vì cái tánh “Biết” nó sẵn có từ hồi nào đến giờ. Trong kinh gọi là Phật tánh hay chơn như. Bản tánh là tên khác của Phật tri kiến hay Viên giác v.v… Thí như trong quặng nhơ sẵn có chất vàng ròng trong đó. Ðứng về mặt bản thể của sự vật, thì nói là bản tánh. Thí như nước và sóng, nếu đứng về mặt bản thể, thì người ta gọi là nước. Nhưng nếu đứng về mặt hiện tượng thì người ta gọi là sóng. Như vậy, sóng và nước không thể ly khai ra mà có. Chính trong lúc sóng nổi lên, thì nó mang sẵn chất nước tiềm tàng ở trong sóng. Nếu không có nước thì làm gì có sóng? Nhưng nói sóng là nước thì không đúng.
Cũng thế, khi phiền não ( dụ cho sóng ) dấy khởi thì nó che phủ mờ tánh giác sẵn có. Ngay khi phiền não dấy lên, thì mình không thể nói phiền não là chơn tâm hay bản tánh được. Nhưng bản tánh cũng không rời phiền não mà có. Như nước trong không rời lìa nước đục mà có. Muốn có nước trong cần phải lóng. Lóng có nghĩa là tu, tu là chuyển hóa những thứ phiền não nhiễm ô, để cho tâm ta được thanh tịnh sáng suốt. Hai thực thể nầy không thể ly khai mà có. Ðây là lý “Bất Nhị” hay pháp môn “Không Hai” của Kinh Duy Ma Cật đã nói. Và đây cũng chính là yếu lý “Tương Tức Tương Nhập, hay Lý Sự vô ngại” của hệ tư tưởng giáo lý trong Kinh Hoa Nghiêm. Vì thế, nên nói một là sai, mà nói hai thì không đúng.
Thí dụ như lúc mình nổi giận, thì cái tánh không giận nó tiềm tàng sẵn có trong cái phiền não giận. Giận là hiện tượng dấy khởi từ bản thể. Bản thể vốn vắng lặng. Vì nó sẵn có nên khi hết giận thì cái tánh không giận ( trước khi nổi giận ) nó trở lại với cái tánh không giận. Sở dĩ giận là vì tại mình không khéo gìn giữ ở nơi cái tánh không giận, nên để cho tập khí giận nổi lên.
Nói giận là để tiêu biểu cho tất cả những thứ phiền não khác. Giận là vì nó gặp nghịch cảnh cho nên khởi giận. Cũng như nước vốn không phải sóng, nhưng vì gặp gió thổi nên nước mới nổi sóng. Khi sóng dừng lại thì tánh nước sẽ hiện bày trở lại như cũ, nghĩa là như cái lúc mà nước chưa khởi thành sóng. Cho nên trong kinh nói: “Phiền não tức Bồ đề, sanh tử tức Niết bàn” là ý đó. Sóng thì khi có, khi không, nhưng nước thì lúc nào cũng vẫn có. Nước là dụ cho bản tánh hay chơn tâm, còn sóng là dụ cho vô minh hay phiền não. Muốn hết phiền não thì phải dừng vô minh. Muốn không có sóng thì gió phải dừng lại.
Ðó là ý nghĩa của sự tu hành là diệt trừ phiền não. Tham thiền, niệm Phật, tụng kinh, hay trì chú v.v… vô lượng pháp môn Phật dạy cũng nhắm thẳng vào một mục đích duy nhất đó. Nói rõ hơn là Phật muốn cho chúng sanh nhận và hằng sống lại với cái thể tánh chơn thật sáng suốt hằng hữu bất sanh bất diệt sẵn có của chính mình. Sở dĩ nói bất sanh bất diệt là vì cái thực thể nầy vốn nó không có hình tướng, giống như hư không. Hư không thì không có sanh có diệt. Tuy nhiên, hư không thì vô tri, nhưng tánh giác thì hằng tri hằng giác. Khác nhau là ở chỗ đó. Thế nên, Kinh Bát Nhã nói: “Thị chư pháp Không Tướng, bất sanh, bất diệt” v.v… Tướng của các pháp thì giả có, nhưng tánh của các pháp thì không. Nhưng cái “Tánh Không” nầy, xin chớ vội lầm hiểu là không trơn như lông rùa sừng thỏ. Mà cái “Không” nầy là cái “Không Chơn Thật” của vạn pháp.
Ðứng về mặt tu hành mà nói, thì cái chánh nhân Phật tánh tuy sẵn có, nhưng vì bị vô minh phiền não che lấp, nên có đó mà cũng như không. Ðây là nghĩa Như Lai tại triền ( tánh giác còn bị các thứ phiền não trói buộc ). Khi nào hành giả nỗ lực gia công tu hành chuyển hóa hết vô minh phiền não, thì cái thể tánh thanh tịnh sáng suốt kia mới hiện bày. Ðây là nghĩa Như Lai xuất triền ( tánh giác ra khỏi phiền não nhiễm ô ràng buộc ). Cũng thí như mây tan, thì trăng hiện, chỉ cần vẹt tan mây mù vô minh, thì ánh trăng Chơn Như sẽ hiện bày.
(Written by Ven. Thich Phuoc Thai)
Tâm không sanh,pháp không sanh
chơn tâm và bản tánh thường vắng lặng ,như người bạn ở trên vừa post bài xong ,Tâm khởi vọng như nước dậy sóng ,nước và sóng tuy 2 nhưng lại chung một bản tánh như nhau đồng chung 1 pháp tánh đó là nước .
Mình không thể tách nước và sóng ra ,mà chỉ để sóng lặn nước sẽ bình ,khi đã thấu triệt pháp ,thì TÂM không sanh thì pháp nào sanh khởi nên không có pháp
Người chứng đạo thấy vạn pháp như huyễn nên không có pháp
https://encrypted-tbn1.google.com/im...xdUYY3ooAmjmHk
Hỏi: Kinh Pháp Hoa có câu:”Nếu ai thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa mà sanh một niệm tín giải, sẽ sanh vô lượng vô biên công đức, nhiều hơn công đức của người bố thí, trì giới, nhẫn nhục trong tám muôn na do tha kiếp.” Vậy một niệm tín giải nghĩa là thế nào?
Đáp: Kinh Pháp Hoa là kinh Đại thừa liễu nghĩa, nếu thực hành đúng theo kinh sẽ đạt đến kiến tánh, giải thoát tất cả khổ, nhưng phải bắt đầu từ chữ Tín.
Tín là tin, giải là hiểu, phải tin rồi mới hiểu. Quí vị vào Trường Phật học, do tin rồi mới vào học, học rồi phải hiểu, hiểu rồi mới theo sự hiểu biết thực hành. Bây giờ tôi là muốn dạy cho quí vị thực hành, hành rồi mới chứng, chứng ngộ rồi là đạt đến tự do tự tại. Bây giờ quí vị chưa thích thực hành vì chưa hiểu rõ, khi đã tin và hiểu rồi tự nhiên sẽ thích thực hành.
Lại nữa, người đời do tập khí sâu nặng, muốn thỏa mản ngũ dục, đuổi theo cảnh trần sắc, thanh, hương, vị, xúc. Nay được cạo tóc xuất gia, lại được học trong Trường Phật Học, phải khác hơn người đời, sau khi tốt nghiệp ra, làm mô phạm cho người đời. Nếu cứ học theo người đời thì sau này làm sao dạy người? Hay bị người đời dạy lại !
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
di nang
Tín giải: Là chỗ Tin vào điều... không thể nào tin được điều gì!
:) :)
http://www.chuabuuminh.vn/userimages...9101913274.jpg
Hỏi: Công năng của thần chú Lăng Nghiêm như thế nào? Tại sao có người trì chú vẫn bị ma quấy phá?
Đáp: Tất cả duy tâm tạo, trì chú có công hiệu hay không là do tâm chứ chẳng phải do chú: Người có tâm lực mạnh thì trì chú có công hiệu, dẫu cho không trì chú vẫn có công hiệu; còn người tâm lực yếu thì có trì chú cũng chẳng công hiệu. Người giữ giới trong sạch, tâm luôn thanh tịnh thì trì chú có công hiệu.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:day_dreaming:
haiz.... cái bà minh đài này sợ thật ... cái gì cũng muốn tham gia... nếu chân tu thì tự tu đi... cái gì cũng muốn xem vào... haiz..... tu đi.....
ôi đã bước sang thuyền chèo sang bến..... quẩn quanh lòng vòng biết về đâu... bờ đã đến nhưng sao vẫn ở thuyền .... thuyền cứ trôi ko bến ko bờ
http://i677.photobucket.com/albums/v...tinh/Buata.jpg
Hỏi: Tại sao vô minh thật tánh tức Phật tánh?
Đáp: Đã biết vô minh không có tánh, không có vô minh rồi thì cái không có vô minh tức là Phật tánh vậy, nó trống rỗng vô sở hữu mà !
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:thumbs_up:
Cứ đi vào rồi lại đi ra, cứ đi ra rồi lại đi vào,
Đi vào vì thấy có ngàn hoa, đi ra vì hoa không hương sắc.
Hoa thì là hoa, chân hoa hữu hương, giả hoa vô sắc!
Chân chân giả giả, chân cũng là già, giả cũng là chân!
Chỗ ta ngồi với ta là chân, chỗ ta tới với ta là chân,
Ta kể lại với người là giả, ta tả lại với người là giả,
Cái người nghe là giả, cái người thấy cũng là giả,
Cái người hiểu tức là chân!
http://imgs.vietnamnet.vn/Images/201...163111_hoa.jpg
21. Cái gì dẫn dắt đi tái sanh?
Đức vua hỏi:
- Cái gì dẫn dắt chúng sanh đi tái sanh, thưa đại đức?
- Là danh, sắc, tâu đại vương!
- Nghĩa là danh sắc của con người cũ này sanh trở lại?
- Không phải vậy, tâu đại vương! Chính danh sắc này làm các việc thiện ác; và chính do năng lực của nghiệp thiện ác ấy mà một danh sắc khác kế tục được sanh ra để nhận lãnh quả phước hoặc tội đã tạo tác.
- Nếu danh sắc cũ mà không sanh trở lại, thì đời này làm ác, đời sau đâu có chịu tội báo? Và như thế có nghĩa là mình đã thoát khỏi luân hồi sinh tử sao?
- Không phải vậy, tâu đại vương! Chỉ có người không còn gây nhân thiện ác mới chấm dứt tái sanh, chứ nếu còn gây nhân thiện ác thì sẽ sanh trở lại để thọ nhận quả báo, vòng sinh tử vì thế sẽ tiếp nối mãi không ngừng. Danh sắc cũ và danh sắc mới cũng chính là mình đấy chứ không phải ai khác.
- Xin đại đức hãy cho ví dụ.
- Ví như kẻ trộm xoài, chủ nhà bắt được quả tang dẫn đến đại vương nhờ xử trị. Bị cáo cãi rằng: "Hạ thần không hái xoài của người ấy. Trái xoài của anh ta trồng hồi trước chỉ là hạt mầm ở dưới gốc còn trái mà hạ thần hái là trái to ở trên cành. Hạ thần không có ăn trộm." Tâu đại vương! Với lý lẽ như thế, đại vương có xử phạt y được không?
- Thưa đại đức, dẫu có ngụy biện hay ho, trẫm vẫn xử phạt tên ăn trộm kia như thường!
- Sao lại thế được? Y đâu có hái cắp trái của người kia trồng đâu mà xử tội, hở đại vương?
- Đành rằng thế, nhưng mà trái cây y hái trộm ấy cũng do từ trái kia sanh ra, nó nẩy mầm, tăng trưởng mà thành. Cho nên người kia cũng không thoát khỏi tội.
Tỳ khưu Na-tiên gật đầu:
- Cũng như thế đó là danh sắc cũ và danh sắc mới, tâu đại vương . Việc tái sanh từ đời này sang đời kia cũng vậy. Các nghiệp thiện ác trong đời giống như đã gieo hạt giống, nẩy mầm, tăng trưởng, mai sau tất có quả báo.
Đức vua Mi-lan-đà cũng gật đầu:
- Trẫm đã hiểu, nhưng xin Đại đức cho một ví dụ nữa.
- Có thể được. Ví dụ có người đốt lửa sưởi ấm bên bờ ruộng, lửa ấy cháy lan sang một đám ruộng, người chủ ruộng bắt dẫn đến đại vương xử trị. Người đốt lửa tâu rằng: "Lửa của hạ thần đốt lên là lửa khác, lửa cháy ruộng ấy là lửa khác, không phải là lửa của hạ thần." Người kia nói lý như vậy, đại vương có bắt tội chăng?
- Dĩ nhiên là bị tội rồi.
- Vì cớ sao, tâu đại vương?
- Vì lửa cháy ruộng ấy cũng do từ lửa anh ta sưởi ấm trên bờ ruộng mà sanh ra, nên y không thể chạy tội được.
- Cũng vậy, ngon lửa trước là danh sắc cũ, ngọn lửa cháy ruộng tức là danh sắc mới, có được cũng từ danh sắc cũ mà ra.
- Xin cho nghe một ví dụ nữa.
- Ví như người đốt đuốc ngoài sân để ăn cơm, vô ý để tàn lửa bay sang đống rơm, lan sang nhà hàng xóm rồi thiêu rụi cả làng. Dân làng bắt y dẫn đến cho đại vương xử tội. Y cãi cố rằng, lửa cháy nhà là lửa khác còn lửa của y là ở nơi bó đuốc dùng để ăn cơm mà thôi! Đại vương có trị tội được y chăng?
- Trị tội được chứ!
- Vì cớ sao?
- Vì lửa cháy nhà có được là do từ lửa nơi bó đuốc của y.
- Cũng như thế đó là ngũ uẩn cũ và ngũ uẩn mới, tâu đại vương! Ngũ uẩn này (danh sắc cũ) tuy đã tắt nhưng cũng bởi nó mà tạo nên ngũ uẩn mới (danh sắc mới).
- Cho nghe một ví dụ nữa.
- Có người đàn ông nạp lễ vật dạm hỏi một cô gái còn nhỏ, đợi lớn lên hẳn cưới, nhưng sau đó ông ta đi làm ăn xa. Cô gái lớn lên, có người đàn ông khác đem lễ vật hậu hỉ đến cưới đem đi. Người đàn ông đi làm ăn xa trở về vác đơn thưa kiện. Người kia cãi rằng: "Vợ cũ của anh chỉ là một cô bé, còn vợ của tôi đây là một thiếu nữ." Vậy thì trường hợp ấy, đại vương xử cho ai thắng?
- Dĩ nhiên là cho người đàn ông trước thắng kiện.
- Tại sao lại như thế?
- Vì thiếu nữ kia cũng từ cô bé mà trưởng thành chứ có phải là người khác đâu.
- Cũng như thế đó là thân này và thân kia, danh sắc cũ và danh sắc mới, tâu đại vương!
- Đại đức còn có ví dụ nào nữa chăng?
- Có thể được, tâu đại vương! Ví như có người đến một chủ nuôi bò mua sữa. Mua xong, anh ta gởi bình sữa lại hẹn lát sau đến lấy, nhưng vì bận việc, hôm sau mới tới lấy sữa. Nhưng sữa đã chua, anh ta bảo rằng, anh không mua sữa chua và yêu cầu chủ bò đổi bình sữa mới. Người chủ bò không chịu, bảo rằng sữa chua là vì để cách đêm chứ không phải là sữa khác. Thế rồi hai người cãi vả nhau. Trường hợp đại vương thì đại vương xử cho ai được kiện?
- Chủ nuôi bò.
- Tại sao?
- Sữa để cách đêm thì nó chua chứ có phải là sữa khác đâu.
- Danh sắc cũ tạo nghiệp thiện ác nên có được danh sắc mới cũng y như thế, tâu đại vương .
- Trẫm hoàn toàn lãnh hội rồi, cảm ơn đại đức!
http://www.buddhistedu.org/viet/imag...huc%20long.jpg
Hỏi: Trong Kinh Pháp Hoa, Long Nữ dâng hạt châu cúng dường hai vị Phật, hạt châu ấy từ đâu mà có?
Đáp: Lời ở trong kinh nói đều là phương tiện để phá chấp chúng sanh. Ví như hàng Thanh văn Tiểu thừa cho rằng người nữ có năm thứ chướng nên không thể chứng quả, Phật muốn phá chấp ấy nên nói Long Nữ thành Phật ngay trước mắt cả triệu chúng. Long Nữ chẳng những là phái nữ, lại thuộc hàng súc sinh, ấy chỉ là phương tiện thí dụ để phá chấp, chỉ cần tu đúng chánh pháp là có thể thành Phật.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:love_struck: