http://nld.vcmedia.vn/3CvHf5ZgKfnIOY...0066_0206a.JPG
NA-MÔ NGŨ-HÀNH THÁNH-MẪU NƯƠNG-NƯƠNG
( Mỗi khi có việc cần gặp, thì tôi chỉ việc Niệm Danh Hiệu này đôi 3 câu; thì Phần Xác có Linh Điển 5 Bà Ngũ Hành sẽ đến gặp tôi ngay ! )
Printable View
http://nld.vcmedia.vn/3CvHf5ZgKfnIOY...0066_0206a.JPG
NA-MÔ NGŨ-HÀNH THÁNH-MẪU NƯƠNG-NƯƠNG
( Mỗi khi có việc cần gặp, thì tôi chỉ việc Niệm Danh Hiệu này đôi 3 câu; thì Phần Xác có Linh Điển 5 Bà Ngũ Hành sẽ đến gặp tôi ngay ! )
Các bạn thấy rằng ẩn phía sau 5 Bà Ngũ Hành luôn là thấp thoáng của Hình bóng Đức Diêu Trì Địa Mẫu - Diêu Trì Thánh Mẫu. Vâng đúng vậy đó ! Tôi có Người bạn có Linh Điển 5 Bà Ngũ Hành, mỗi khi ai cần cầu xin giúp đỡ cho việc gì đó, thì Cầu Điển của 5 Bà Về ( Mà nói thiệt nha 5 BÀ, mỗi BÀ trụ điển ở một nơi đồng không mông quạnh cô tịch lắm ! Mỗi Miếu ở trong sâu hút có 1 Nguồn Điển của 1 BÀ ngự trị ). Tôi có dự các buổi lễ Cầu Điển này, tôi thấy mỗi lần Các Bà về đều Khấn Nguyện và Xin Lệnh của bề trên cả: Đó chính là LỆNH của Đức Tây Cung Vương Mẫu; chính là Đức VÔ CỰC DIÊU TRÌ KIM MẪU ĐẠI THIÊN TÔN - DIÊU TRÌ KIM MẪU VÔ CỰC TỪ TÔN ( Mặc dù, Bà KIM trong 5 Bà Ngũ Hành ban về Tài Lộc; Nhưng Bà cũng chẳng dám cho Tài Lộc nữa.....Khi xuống Điển, tôi thấy Bà KIM đều Cầu Xin Lệnh của Đức Diêu Trì Kim Mẫu, và mọi việc đều thĩnh lệnh theo ý chỉ của Đức Tây Cung Vương Mẫu cả, làm việc đều theo Lệnh Tây Cung Vương Mẫu cả, cũng chẳng dám tác ý tự cho riêng; và chỉ báo tin mọi việc sẽ xãy ra khi nào, và khi nào có TÀI LỘC thôi ah!..........Làm việc đều theo Lệnh Tây Cung Vương Mẫu không ah ! )
*P/S: Mỗi lần Các Vị này về, thường gọi nhau là: Đại Tỷ, Nhị Tỷ, Tam Tỷ......và không bao giờ xưng danh mạo nhận hay tỏ ra là gì cả.....chỉ nói tên ta là ai thôi.....và Phần Xác khi có Điển về luôn hướng vào bàn thờ, không có xoay ra ngoài trước ( ngồi, mặt đối tượng BÀ, mắt nhắm, và tay kiết Ấn, tùy theo mỗi Vị về đôi khi là: Ấn Phật Đảnh Tôn Thắng, Ấn Đại Bi Liên Hoa Bộ......)
SỰ TÍCH NĂM BÀ
( Nguồn: http://thienduyen1956.blogspot.com/2...ch-nam-ba.html )
Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ
Phần hương chí kính chí thành
Tấu văn cung thỉnh ngũ hành tiên nương
Từ xưa ở cõi thượng thiên
Năm bà tiên nữ giáng miền trần gian
Đức Đệ Nhất Kim Tinh thần nữ
Giáng cõi trần gìn giữ báu châu
Bạc vàng chì kẽm đồng thau
Tiên bà chỉ vẽ đuôi đầu cho dân
Đức Đệ Nhị Mộc Tinh thần nữ
Giáng cõi trần gìn giữ xanh hoa
Bốn mùa qua lại lại qua
Trăm cây đua nở trái hoa dân dùng
Cây gì dùng lá dùng bông
Cây gì ăn trái ra công vẽ bày
Đức Đệ Tam Thủy Tinh thần nữ
Giáng cõi trần gìn giữ non sông
Tiên bà công quá dày công
Vẽ cho dân biết nước đục trong mà dùng
Đức Đệ Tứ Hỏa phong thần nữ
Giáng cõi trần gìn giữ công ly
Tiên bà dùng phép lạ kỳ
Lấy tre cưa lại tức thì lửa ra
Vẽ dân đem lửa về nhà
Lấy cây làm củi để mà nấu ăn
Đức Đệ Ngũ Thổ đức tiên nương
Khâm sai giáng hạ kiếm đường vẽ dân
Gian nan khăn khó không cần
Làm nồi làm trách cho dân về dùng
Nồi xong bà lại làm vung
Lưu truyền vạn cổ mà dùng ngày nay
Tứ dân cảm đức cao dày
Đời đời hương khói bốn mùa cúng dâng
Lệnh triều thánh đế hàn ân
Sắc phong ngũ vị binh thần đền ơn
Một bầu nước trí non nhơn
Tháng ngày dưới Thủy tiên sơn chơi bời
Khi vui dạo khắp mọi nơi
Khi lên trung giới khi lên thiên đình
Năm bà hiển hách anh linh
Bốn phương đều cũng phục đình kim chương
Lễ thường đến biết đoạn trường
Năm bà dạo khắp năm phương dưới trời
Nhìn xem phong cảnh nơi nơi
Kiếm trời thang dược cứu người trần gian
Nhiệm màu phép thánh ai đang
Giúp dân hồng lạc an lành dưới trên
Dốc lòng thành kính nào quên
Đến ngày Đoan Ngọ đáp đền chẳng sai
Cúi nhớ thượng cổ cao dày
Chứng lòng thành kính giáng nơi điện này
Bảo hộ đệ tử gái trai
Được nhờ đức cả đời đời khang ninh./-
Sưu tầm : THIỆN DUYÊN.
*Hôm nay, Lần đầu tiên mình sẽ tiết lộ Danh Tính của 5 BÀ NGŨ HÀNH ( Việc này do Phần Xác Bạn Mình có Linh Điển 5 Bà Ngũ Hành tiết lộ cho mình ). Nay vì để hiểu rõ hơn, mình sẽ nói Danh Tính từng Bà:
1. Bà KIM ( mặc Áo Trắng ): KIM Y THÁNH MẪU.
2. Bà MỘC ( mặc Áo Xanh ): MỘC HOA CUNG CHỦ / LIÊN HOA CUNG CHỦ.
3. Bà THỦY ( mặc Áo Đen / Áo Tím ): LỤC CUNG THỦY KIỀU THÁNH MẪU.
4. Bà HỎA ( mặc Áo Đỏ ): HỎA VÂN THÁNH MẪU.
5. Bà THỔ ( mặc Áo Vàng ): QUẢNG TRẠCH TÔN NƯƠNG / HẬU THỔ NƯƠNG NƯƠNG.
*Ngày Vía 5 Bà Ngũ Hành:
1) Theo Link: http://dongnai.vncgarden.com/dhia-ch...g-xa-hoi/1-4-2
Ngày mùng 5 / 5 âm lịch ( Tết Đoan Ngọ ): Chánh Vía Ngũ Hành Nương Nương
2) Theo Link: http://www.vanchuongviet.org/index.p...etail&id=15297
Ngày mùng 8 / 5 âm lịch: Vía Ngũ Mẫu - Ngũ Thiên ( Ngũ mẫu tức năm Bà: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ (Ngũ hành). Quan niệm của các nghệ nhân múa Bóng cho rằng Ngũ Mẫu rất quan trọng. Mẫu lấy đất nặn Phật, đất để cây cối sinh sôi, con người sống trên đất, thác về nằm ngủ yên trong lòng đất của mẹ )
3) Theo Link: http://www.trietvan.com/phamviethung/tucthonguhanh.htm
Ngày 19 / 3 âm lịch: Vía Ngũ Hành Nương Nương
*Có 1 điều xin chia sẻ, kinh nghiệm thông qua những người chung quanh mình ( tôi nói trước, tôi không phải là kẻ nghiện nhak ! vì có 1 bằng chứng sống làm tôi sợ....! ):
.Ông Địa ( Thổ Địa ): thường cho trúng có 2 con thôi ( 2 số ).
.5 Bà Ngũ Hành: thường cho trúng Xiểu Chủ ( 3 con ); nhưng mà họ dị đoan không ah ! Chứ BÀ không cho trực tiếp..... Nhất là mỗi khi đi CÚNG BÀ về, Bạn tôi Phần Xác có Linh Điển 5 Bà Ngũ Hành về là dị đoan đánh số: 759; Riết biệt danh gọi là CẬU 759 luôn đó ( Mỗi lần trúng như vậy là mấy chục chai - mấy chục triệu không ah !; cứ canh là cứ đánh không ah! Vì BÀ cho trúng còn có tiền dâng lễ cúng BÀ và cúng 8, 18, 28 nữa.....Đó là quy luật qua lại mà ! )
A di đà Phật! Cảm ôn chia sẻ của đạo hữu phổ Quang. Trong môn phái của mình cũng có thờ mẹ Diêu trì kim mẫu, năm mẹ ngũ hành, quan tướng quan trạng. Thường thì chúng tôi giao tiếp với các vị bề trên thông qua tâm qua thiền định, qua khấn nguyện, thường thì các bà không về xác trừ trường hợp hiếm hoi người đó có linh căn nhiều đời nhieu kiếp tu tập tốt tâm rất từ bi cứu giúp chúng sanh thì có mẹ diêu trì kim mẫu về xác, còn 5 bà thì mình chưa thấy lần nào về xác, còn quan tướng thì thỉnh thoảng, quan trạng thì nhiều hơn.
Nhưng điều đặc biệt là không có 1 vị nào mà về cho số đề mà toàn về vì phật sự cứu độ chúng sanh. Trong việc độ sanh có gì đó không giải quyết được thì quan trạng mới về còn không thì chỉ giao tiếp qua tâm. Nhưng không có trường hợp nào về cho số đề cả. Cho số đề thường là các chư vị vong linh âm binh họ cho. Mình nghe kể lại khi mới thành lập chùa ngôi chùa còn nghèo quá chỉ là mái lá tường đất mùa mưu là dột nát bá gia bá tánh đến xin số hay cầu khấn điều gì đó thì được linh ứng họ mới phát tâm cúng dường thành ngôi chùa cấp 4 đơn sơ thấp bé bé và nhỏ xíu. Sau đó thì bề trên không cho trúng số nữa vì đã có một chổ che mưa che nắng rồi, lúc này bề trên tập trung việc cứu độ chúng sanh dẫn dắt chúng sanh vào con đường tu tập thoát khổ an vui. Nên hôm nay nghe nói 5 bà về cho số thì mình ngạc nhiên quá vì bề trên không bao giờ làm chuyện này mà có làm thì chỉ là vong linh xung quanh miếu thờ hoặc các chư vị binh của các bà làm mà thôi. Và be tren chỉ cho đủ nhu cầu tối thiểu thôi chứ không có cho thường xuyên và mỗi lần mấy chục triệu như vậy.
Nếu vậy bề trên khác nào dẫn dắt chúng sanh vào con đường mê tín, không lo làm ăn mà lo đánh đề, không lo tu tập mà lo đánh đề. Thường mình tu tốt thì bề trên xoay chuyển nhân duyên các phật tử tới cầu nguyện chuyện gì đó như không có con, chuyện làm ăn, chuyện tình duyên được linh ứng sẽ phát tâm cúng dường, chứ không phải cho trùng đề để có tiền dnag6 cúng bà vì các bà là tiên là thánh rồi đâu có cần những thứ trần tục hình tướng của trần gian mà chỉ có những vong linh chưa tu tập họ cần những thứ hình tướng đó. Nói tóm lại bề trên chỉ cứu độ chúng sanh chứ ko có dẫn dat chúng sanh đi vào con đường mê tín.
Uh! Mình có đọc trang nhà của bạn !
Cảm ơn những chia sẻ của bạn
Kính chúc bạn và gia quyên luôn an lạc
NAMO AMITUOFO
Phổ Quảng
thân
*P/S:
.Vậy là bạn đọc ko kỹ lời mình rồi! 5 BÀ có trực tiếp cho họ số bao giờ đâu ??? ( BÀ ko hề cho 1 con số nào cả ); Họ tự dị đoan và mà đánh đó thôi; nhưng được CÁC BÀ thương tình phò hộ độ trì, theo mình nghĩ là BINH GIA của CÁC BÀ giúp cho thì phải ??? Bỡi vì họ có thể can dự vào 1 số việc trần gian, mà BINH GIA do BÀ quản lý theo như trang nhà của Huynh Atoanmt là những người tử nạn......nên họ có thể làm nhiều điều mà ta ko thể ngờ.....Một Người Bạn khác của mình kể Vong Linh thường hay giựt số, giành số trước giờ sổ; và chúng thường về kể với bạn của mình là chúng thường giành ko lại và đôi khi bị đánh nữa......Ngay từ đầu, mình nói CÁC BÀ làm việc theo lệnh của TÂY CUNG VƯƠNG MẪU rồi, há biết luật mà còn Phạm Luật Sao ???
.Còn Ông Địa ( Thổ Địa ) cho số là vầy nè: Mình có Người Dì Bạn Đạo Người Hoa, Dì ấy có con: ban đêm, thì con gì ấy hay thắp hương nến dâng hương đăng trà quả trước bàn thờ Thổ Địa - Thần Tài trong nhà và lấy Ống Xâm ra lắc xin số, và sáng mai đi đánh. Có lần mình trì An Thổ Địa Chơn Ngôn và mua vế số, thế là chiều mình trúng số được 200k........Nhưng hãy luôn luôn nhớ lấy câu, mà Ông Địa ( Thổ Địa ) báo mộng cho Vị Nữ kia: " TÀI theo NHÂN QUẢ mà hưởng "; tôi luôn luôn nhớ lấy nằm lòng câu này ! Còn về chuyện ÔNG THẦN TÀI nhập xác và cho số, xin hãy đọc chuyện TÔI GẶP THẦN TÀI của Huynh Atoanmt.
.Mình chẳng tin việc Các Vị Thánh Thần nhập vào xác Người Phàm cả ! Nhưng hiển nhiên nó có vậy đó, không thừa nhận và cũng chẳng bát bỏ; như Ngày và Đêm, mọi việc cứ tự nhiên diễn ra ấy thôi. Còn việc Vong nhập vào Người là có thật......Do nhiều nguyên nhân mà khó nói hết lời.
.Xin nói Lời thành thực với tất cả mọi Người là đã tu theo Phật, thì đừng để cho ai mà nhập vào xác của mình cả, hãy tự làm chủ lấy mình, tự tu tự tiến.......Tui có Căn Điển bên Tiên nek! Nhiều khi Điển muốn tá về tui để khôi phục Nguyên Căn; Nhưng tui tu theo Phật, tui quyết ko cho Điển hay ai tá nhập vào tui cả......Vì thế, tui vẫn muốn mình là 1 Người bình thường như bao Người khác, học Phật tu nhân đúng theo Lời Đức Phật thôi !
*Sẵn đây, mình cũng xin chia sẻ vài điều về Các nơi có thể Cầu Khấn với Đức Bồ Tát Quán Thế Âm Lộ Thiên - Đức Bồ Tát Quán Thế Âm Đứng Ngoài Trời ( Mình chỉ tầm nơi của Đức Bồ Tát Quán Thế Âm mà thôi; còn bạn mình tầm Điển 5 BÀ nên mới có Linh Điển 5 BÀ nhập Xác như đề cập ở trên ):
.Nếu ai muốn Cầu xin việc gì đó cho sớm thành tựu, hay khổ quá; thì xin hãy lên QUÁN ÂM ở Chùa Phổ Quang, Q. Tân Bình mà Khấn Nguyện, và Cầu Xin nhé !
.Nếu muốn Cầu xin có Tiền trả nợ và làm vốn, để cuộc sống đỡ vất vả, mà hành thiện bố thí tu tập; thì xin hãy đến QUÁN ÂM ở Chùa Kim Liên Q.4 mà Khấn Nguyện, và Cầu Xin nhé !
.Nếu ai muốn Cầu xin cho hết các bệnh tật về Mắt; thì xin hãy đến QUÁN ÂM ở Chùa BỬU ĐÀ Q.10 mà Khấn Nguyện, và Cầu Xin nhé !
*P/S: Xin nói lời thành thật, mình đã nhiều lần có xin TIỀN với Đức QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT, Ngài có trả lời rằng: " Ngươi đừng có xin TA, mà hãy xin SA ĐẠI TƯỚNG đó ! " ; Sau này, mình mới biết VỊ SA ĐẠI TƯỚNG mà Ngài nói đây, chính là 1 hóa thân khác của Ngài, đã cứu giúp Tam Tạng Pháp Sư Trần Huyền Trang ở giữa sa mạc khi mà đi thỉnh Kinh vậy ( Đối với những ai biết Đạo rồi, thì Ngài hay ban cho sự Từ Bi & Trí Tuệ hầu như ai cũng đạt được điều này thì phải ???; còn xin TIỀN thì đừng có mơ giữa ban Ngày, bạn mình nói Quan Âm về không có cho Tiền ( Nhiệm vụ của Ngài là Cứu Khổ Cứu Nạn mà thôi. Còn những ai chưa biết gì về Đạo, thì Ngài hay huyền hóa như: cho trúng số có tiền trả nợ, và tu học như nhiều vị Cầu Khấn Quán Âm ở Chùa KIM LIÊN Q4 mà đạt vậy, nói chi xa lạ Người đó chính là Mẹ mình; như việc Người kia và trụ trì Chùa Nghèo ở Quê mình cùng Cầu Khấn Ngài trúng liền 1 lúc bao nhiêu tờ Vé Số vậy đó ! Nhưng do Lòng tham mà Người ấy không thực hiện y lời với trụ trì Chùa Nghèo ở Quê mình.....Thật sự, Ngài ko có cho TIỀN đâu, mà mọi việc đều do Hộ Pháp của Ngài cả thôi.....Tục lệ hằng năm, Ngày 26 tháng giêng ( 1 ) âm lịch; Quán Âm mở Kho; cái này là theo Tín Ngưỡng Dân Gian theo Link: http://bandantoc.hochiminhcity.gov.v...ntent/id/38135..... Nếu ai khổ quá, thì hãy bền trí trì tụng BẠCH Y LINH CẢM CHƠN NGÔN, và tu thiện bố thí......thì sẽ tiêu Nghiệp, và Thượng Đế sẽ rót Phước xuống cho. Đó là Lời Ngài dạy rất hay, mà mình quên mất lời hay của Ngài rồi, mình chỉ nhớ đại khái thế thôi ! )
NGŨ HÀNH MIẾU
( Nguồn: https://vi-vn.facebook.com/permalink...bstory_index=0 )
Theo bước thăng trầm của cuộc sống và sự thay đổi của xã hội, đòi hỏi công việc, trình độ năng lực cũng phải đáp ứng theo, tôi được chuyển công tác sang đơn vị mới tiếp nhận chức vụ cao hơn, cũng từ đây thời gian dành cho công việc cũng nhiều hơn và đi chùa trì niệm kinh cũng ít đi, cho tới một lúc tôi như chợt tỉnh cơn mê, nếu như vợ tôi không nhắc nhở chắc có lẽ thuận cảnh làm tôi thay đổi và trượt dốc.
Vào năm 1994, tôi được phân công chuyển về công ty mới, một buổi trưa như thường lệ sau khi ăn cơm xong, thay vì tôi sẽ ngồi tám với bạn bè, thì hôm nay tôi lang thang đi dạo phía sau công ty gần bờ sông, nơi mát mẻ mà thường ngày công nhân hay nghỉ trưa ở đó, bởi vì ở đó có một cây đa rất to, tàng cây rộng che phủ cả một khoảng không gian, và công nhân hôm nay cũng không có đi làm vì hết nguyên liệu sản xuất.
Tôi rảo bước theo đường mòn nhiều cỏ lau sậy mọc um tùm, ra đến nơi, tôi mới phát hiện có một ngôi miếu cũ, khoảng chừng 06 mét vuông, tường gạch và ngói đã hư hỏng nhiều rêu bám chặt, tôi bước đến dùng những cành cây làm chổi quét dọn xung quanh, tôi phát hiện ra đây là miếu của Năm Bà hay thường gọi là miếu 5 Bà Ngũ Hành, được xây dựng từ năm 1959 được ghi trên cửa trước, trên bàn thờ chỉ có một bát nhang và hai chân đèn bằng cây do cặm đèn cầy đốt bị cháy xém, không có tượng thờ chỉ có dòng chữ được đắp phù điêu tên Năm Vị.
Tôi tìm quanh xem có nhang không, thật là buồn chẳng có một cây, tôi đứng trước điện và khấn nguyện “Con tên là… được chuyển về đây gần một tháng, nhưng con không biết nơi đây thờ Chư Vị, hôm nay con thành tâm lễ bái và nguyện cầu xin Chư Vị gia hộ giúp cho công việc con làm nơi đây được bình an, thuận lợi… và con hứa sẽ trùng tu lại ngôi miếu”. Tôi trở vào phòng làm việc, tôi nói lại chuyện này cho mọi người nghe, mọi người đều nói Miếu 05 Bà linh lắm, tụi công nhân hay ra xin số đề hoài hà! và kể từ hôm đó tôi hay ra quét dọn cúng bái mỗi khi rãnh hoặc có việc chi nan giải cầu xin tất cả đều vượt qua.
Ba tháng sau, Giám Đốc Công ty kế bên quyết định bán toàn bộ đất đai cho một công ty khác (Ngôi miếu nằm trên phần đất của công ty này), nhưng tất cả không ai dám đến mua, họ đều nói là có ngôi miếu họ không dám tháo dở, Ông Giám Đốc này tức quá không biết nói gì hơn, tối về ông ta nghĩ là mướn người đến để tháo dở thì mới bán được, ông ta chưa quyết định làm thì tối hôm đó, ông ta nằm mơ thấy Chư Vị bảo là không được tháo dở bằng không sẽ…
Sáng ra ông ta ôm bụng đau lăn lộn phải đưa đi cấp cứu, cho đến khi như sực tỉnh ông ta hứa sẽ không quyết định làm như thế nữa và bình an trở về nhà. Về đến nhà ông ta mua bông hoa, trái cây, nhang đèn ra cúng sám hối và kể lại sự việc cho chúng tôi nghe, sợ quá thay vì tháo dở thì ông ta cho người đến quét dọn, tu sửa lại ngôi miếu và ông ta cũng bỏ qua ý định bán đất luôn.
Thời gian trôi qua nhanh từ khi tôi về công ty này tiếp nhận,tôi lao vào học tập từ ngoại ngữ, vi tính, bằng quản lý… tất cả nhằm đáp ứng cho công việc, tôi trượt dài theo thời gian gần hai năm, mọi công việc hàng ngày gần như bị xáo trộn, tôi không có thời gian đến chùa và thăm Thầy thường xuyên hơn, thay vào đó tôi phải giao tiếp với khách, các cơ quan ban ngành…
Tôi thường về đến nhà trong hơi men của những bữa tiệc đãi khách hay cấp trên, vợ tôi phàn nàn rất nhiều sợ tôi đi đường lỡ gặp tai nạn khi đang say… Rồi tôi như sực tỉnh cơn mê, tôi quyết định không làm cho công ty này nữa mà sẽ chuyển sang làm cho công ty nước ngoài, tôi ra miếu khấn nguyện cùng 05 Bà gia hộ xoay chuyển cho tôi được chuyển công ty khác, để có thể dành nhiều thời gian lo cho gia đình và tu tập.
Tôi nhớ hôm đó, tôi về nhà sớm hơn trong lòng có cảm giác nao nao và như linh tính có cái gì đó sắp xảy ra với tôi. Trong mơ tôi thấy mình đang có mặt ở công ty, rảo bước ra Miếu và chợt giựt mình vì có hai con rắn thật to bò ngang lối đi, tôi thụt lùi định chạy nhưng không hiểu sao tôi lại không chạy mà cứ tiến bước vào ngôi miếu, chưa kịp định thần thì bổng từ xa một luồng gío mạnh làm cho cây đa như run chuyển, cành lá rơi xuống như những bông hoa rải xuống từ không trung, tôi bất chợt ngẩng nhìn lên, năm màu ngũ sắc xuất hiện trên không đang từ từ xà xuống và phía sau nữa là một tốp nữ.
Họ nhìn tôi một khắc, và bước vào ngôi miếu tôi nhìn theo sau, thật lạ lùng trước mặt tôi không còn là ngôi miếu cũ nát hư hỏng nữa, mà thay vào đó là một cung điện nguy nga với lối kiến trúc như vua chúa mà trong phim hay gặp, tôi thấy 05 Vị ngồi ngay giữa và hai bên là các tiên nữ hầu cận, trang phục của họ cũng khác nhau về cả màu sắc, có một Tiên nữ tiến về phía tôi và ra hiệu cho tôi bước vào, Tiên nữ giới thiệu cho tôi biết đây là cung của 05 Bà, được gọi là Ngũ Hành Nương Nương
Thể hiện qua 05 màu sắc đó là kim, mộc, thủy, hoả, thổ, biểu hiện cho càn khôn vũ trụ và các chất tạo thành con người chúng ta, Tiên Nữ dạy tôi nghi thức thi lễ xong, Tiên Nữ lùi sang đứng một bên còn mình tôi đứng giữa, một không khí lạnh cả người bởi sự uy nghi choáng ngợp, cộng với bao nhiêu cặp mắt đang nhìn mình như thấu hiểu hết những suy nghĩ trong đầu tôi, tôi bất giác rùn mình. Một giọng nói phát ra từ 05 Vị thật êm dịu, hiền hoà như người mẹ nói với đứa con yêu, nhưng uy lực như chuông, thật sự tôi không biết diễn tả thế nào cho chính xác.
“Con có biết là tại sao hôm nay con đến đây để làm gì?”
Vị mặc áo màu vàng ngồi giữa hỏi, tôi trả lời: “Thưa, thưa, con không biết”.
Tôi như bị lạc giọng, nói không ra lời bởi vì tôi quá sợ không thể trấn tĩnh được, im lặng một lúc có lẽ Người hiểu được tâm trạng của tôi, Tiên Nữ hồi nảy bước ra và giới thiệu cho tôi biết đây là 05 Bà Ngũ Hành ở cung trời thường phóng quang tiếp điển xuống ngôi miếu này, những lúc Chư Vị giáng điển xuống, đã bắt gặp tôi dọn dẹp cúng bái, Chư Vị khen ngợi và muốn dẫn cho tôi được diện kiến, bởi vì tôi có duyên với các Vị trong muôn kiếp trước, nhiệm vụ của tôi là phải đi trùng tu các am miếu, và Tiên nữ nói cho tôi biết tôi từ đâu xuống trần gian, xuống trần gian để làm gì?... rất nhiều và rất nhiều tôi không tài nào nhớ ra hết. Cuối cùng có lẽ thấy tôi đã trấn tĩnh bình thường.
Bà mặc áo vàng (Kim) lại nói tiếp: “Trần gian trong thời mạt pháp này, ma giáo hoành hành, nhiều phái lập ra dẫn dắt chúng sanh, chúng sanh vô minh sẽ dễ rơi vào ma đạo, con hãy cố gắng tu hành để sau này con sẽ giúp đời…”.
Tôi nghe chăm chú từng lời như sợ quên đi, tôi nói: “con sợ con không có khả năng làm được, bởi vì con không biết vì cả làm sao cứu đời được”.
Bà tiếp lời: “Con đừng lo không lâu nữa con sẽ thấy và sẽ tìm được minh sư chỉ dạy”
Tôi hỏi: “vậy khi nào con sẽ gặp minh sư?”
Bà trả lời: “khi trái cây đã chín thì con sẽ được hái và ăn, thiên cơ bất khả lộ”.
Tôi hỏi: “Người có thể cho con biết minh sư của con sau này là ai? và như thế nào không?”.
Bà trả lời: “sau này Bồ Tát Quan Âm sẽ chỉ cho con biết, Ta chỉ có thể cho con biết, người đó cũng hành trì tu tập pháp môn giống như con, pháp Mật Tông vi diệu nhiệm màu”.
Tôi hỏi: “Dạ, pháp Mật Tông là gì? con chưa nghe qua lần nào? Người có thể cho con biết được không?”
Bà không trả lời ra hiệu cho Tiên Nữ hồi nãy đến gần, trao một quyển sách dày, và Tiên Nữ đó đến trao lại cho tôi, tôi thấy đó là quyển sách nhưng không thấy chữ nào bên trong.
tôi hỏi: “Sao con không thấy chữ nào hết?”
Bà trả lời: “Khi tới lúc hành trì chữ sẽ hiện ra, nếu con hành trì tốt thì toàn bộ quyển sách sẽ hiện ra từ từ cho tới hết, ngược lại quyển sách sẽ tự đóng lại nếu con đi sai đường”.
Tôi hỏi: “con có thể hỏi không?”
Bà trả lời: “Con cứ nói”.
Tôi hỏi: “con muốn biết minh sư của con sau này là ai không? nam hay nữ?”
Bà trả lời: “Người này tiền kiếp là Thầy của con ở cõi Trên, các con xuống Hạ Giới theo sắc lệnh Thiên Đình, Ta không thể nói mấy người cho con biết được, và Người này sẽ phải chỉ dẫn các con tu hành, mỗi người một nhiệm vụ ở Hạ Thế, các con sẽ phải tìm gặp lại nhau cùng tu hành và cứu dân độ thế, một trọng trách lớn được giao con chỉ có thể biết được đến đây thôi”.
Tôi hỏi: “Con có thể biết vị đó hiện ở đâu không? làm cách nào con có thể tìm gặp được”.
Bà trả lời: “Duyên đến sẽ gặp, thôi con về đi”.
Tôi như sực nhớ một chuyện vội hỏi: “con muốn sang công ty khác làm, vậy con có thể chuyển được không?”
Một âm thanh vọng lại từ xa: “khi nào con học xong sẽ được”, như một tấm màn vừa kéo qua, tất cả biến mất và ngôi miếu cũ nát đang sừng sững trước mặt, từ xa hai con rắn khi nảy đang bò đến, tôi hoảng hốt chạy nhanh cũng là lúc tôi tỉnh giấc, thì ra đây là một giấc mơ.
Đúng như giấc mơ sau khi tôi cầm chứng chỉ trong tay thì cũng là lúc tôi được người bạn giới thiệu tôi chuyển sang làm cho công ty nước ngoài. Ngôi miếu này toạ lạc tại Bình Dương, thuộc đất Vĩnh Phú huyện Thuận An, tôi đã trùng tu và thỉnh cốt tượng 05 Bà về an vị khi tôi nhận tháng lương đầu tiên từ công ty mới, được biết chuyện này nhiều khách thập phương đến viếng rất đông, ngày vía chính thức cúng là ngày 27 tháng 08 hàng năm, nếu có dịp xin mời các bạn đến chiêm bái.
Nguồn:www.vutruhuyenbi.com
Ngũ hành nương nương
(五 行 娘 娘)
Ở Bình Dương, trong khoảng 180 ngôi miếu thì có khoảng 136 miếu thờ và khoảng 5 miếu có phối thờ Ngũ hành nương nương, phân bố ở tất cả 7 huyện, thị. Trong tất cả các văn cúng mà chúng tôi sưu tầm được, trong lễ cúng đình hàng năm cũng đều có mời các bà về phối hưởng. Điều đó chứng tỏ văn hoá thờ bà, vị trí của 5 bà trong tín ngưỡng của cư dân Bình Dương phổ biến đến như thế nào. Ở những miếu thờ 5 bà phần nhiều không có linh tượng, có những miếuchỉ ghi đơn giản: "Ngũ hành nương nương" hoặc bằng tiếng Hán: 五 行 娘 娘 viết thẳng lên tường hay trên bài vị đặt chính giữa miếu và trong miếu có thờ tranh vẽ trên kiếng. Một số ít miếu có linh tượng của 5 bà được mặc năm bộ quần áo khác nhau theo ngũ hành: màu đỏ (bà Hoả), màu vàng (bà Thổ), màu đen/tím (bà Thuỷ), màu xanh (bà Mộc), màu trắng (bà Kim). Ngày vía bà ở các miếu không thống nhất, được tổ chức rải rác từ tháng 1 đến tháng 11 do tập quán những miếu gần nhau thường tổ chức lễ vía bà không trùng nhau để còn giao lưu nhưng thông thường nhất là vào tháng 2 và tháng 3.
Trong văn cúng, một số đình ghi: Ngũ hành nương nương (五 行 娘 娘) hoặc ghi: " Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ ngũ hành thần nữ" (今 木 水 火 土 五 行 神 女) (đình Tân An, xã Tân An, thị xã Thủ Dầu Một) hoặc có nơi ghi rõ mỹ hiệu và cấp bậc của từng bà: "Thuỷ đức thánh phi tôn thần, gia tăng dương trạch hiển kinh trung đẳng thần (水 德 聖 妃 孫 神 加 贈 陽 宅 顯 惊 中 等 神); Mộc đức thánh phi tôn thần, gia tặng thanh tú kim trực trung đẳng thần (木德 聖 妃 孫 神 加 贈青秀 金 直 中 等 神); Hoả đức thánh phi, gia tặng bổn ôn hậu quang ứng trung thần (火德 聖 妃 加 贈 本 溫 厚光 應 中 神); Thổ đức thánh phi, gia tăng hoàng đại quản tế trung đẳng thần (土德 聖 妃 加 贈皇 大 管 祭中 等 神), Kim đức thánh phi tặng chiếu hiển hiệu ứng trung đẳng thần (金 德 聖 妃 贈 照 顯 斆 應 中 等 神)" (đình thần Dầu Tiếng, thị trấn Dầu Tiếng, Dầu Tiếng) thì cũng đều chỉ 5 loại vật chất cấu thành nên vũ trụ theo quan điểm ngũ hành: Kim (kim loại), Mộc (cây), Thuỷ (nước), Hoả (lửa), Thổ (đất). Đây là một loại tín ngưỡng vạn vật linh tiêu biểu ở Á Đông, có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tín ngưỡng này xuất phát từ việc tiếp thu học thuyết âm dương trong kinh Dịch và ngũ hành trong kinh Thư, phản ánh sự nhận thức sơ khai của người Trung Hoa cổ đại. Người Việt tiếp thu học thuyết này và ứng dụng "trong mọi mặt của đời sống con người, không kể người làm những nghề nghiệp khác nhau như ngư nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp, buôn bán; không kể cư dân sống ven biển, dọc sông hay vùng đất bán sơn địa"[2]. Người ta thờ Bà Ngũ hành và cầu mong Bà phù hộ độ trì trong công việc làm ăn, cầu sức khoẻ, cầu may mắn, tránh rủi ro, hoạn nạn...
Ở Bình Dương còn có trường hợp chỉ thờ riêng một bà Hoả tinh thần nữ (火 精 神 女) ở ấp 7, xã Tương Bình Hiệp, thị xã Thủ Dầu Một. Miếu có kiến trúc cũ, tựa như chùa một cột, được biết trước kia ở nơi này thường có hoả hoạn nên bà con chung nhau dựng miếu bà và từ đó tới nay ở đây không có hoả hoạn nữa.
Tín ngưỡng dân gian
Tiếng Việt là Ngũ hành miếu, nhưng dòng chữ Nho ở dưới là Ngũ Hành Nương Nương
Có bạn hỏi Ngũ hành Nương Nương là ai? Vì sáng bạn đi ngang qua một ngôi miếu thấy có lễ vía Ngũ hành Nương Nương. Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam chúng ta thường thấy người Việt có tục thờ Nữ thần (thờ Mẫu). Nếu ở miền Bắc chúng ta thấy thờ những hiện tượng tự nhiên trong cuộc sống do Mây - Mưa - Sấm - Chớp, được hệ thống hóa thành Tứ Pháp: Pháp Vân (Thần Mây), thờ ở chùa Bà Dâu. Pháp Vũ (Thần Mưa) thờ ở chùa Bà Đậu. Pháp Lôi (Thần Sấm) thờ ở chùa Bà Tướng. Pháp Điện (Thần Chớp) thờ ở chùa Bà Dán. Hoặc thờ Tam Phủ, Tứ Phủ. Tam Phủ có Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải (Mẫu Thủy). Tứ Phủ có thêm Mẫu Địa.
Ở miền Trung khu vực Thừa Thiên có tục thờ Thiên Mụ, Thiên Yana nguyên là một nữ thần của người Chăm đã được Việt hóa... Vào miền Nam chúng ta thấy việc thờ các hiện tượng tự nhiên khái quát như không gian và thời gian qua hình ảnh của các nữ thần có biến đổi. Thần không gian được hình dung theo Ngũ hành, dưới dạng Ngũ Hành Nương Nương. Thờ Thần thời gian là Thập Nhị Hành Khiển, là mười hai vị nữ thần điều khiển sự sống, có trách nhiệm coi sóc việc sinh nở, đó là Mười hai Bà Mụ. Ở đây tôi xin nói qua về Ngũ Hành Nương Nương, để bạn có thể nắm bắt được phần nào.
Tượng Ngũ Hành Nương Nương ở chùa Thiền Lâm, quận 8 - Saigon.
Ngũ hành, không chỉ là năm yếu tố mà là năm loại vận động trong cuộc sống, nhất là trong cuộc sống từ xa xưa. Đất để trồng trọt, cây nuôi sống con người, nước tưới cho cây, lửa đốt tro nuôi đất, đá, sắt để làm ra công cụ lao động... Năm yếu tố ấy là Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ. Thủy sinh Mộc (nước giúp cây cối tươi tốt). Mộc sinh Hỏa (gỗ làm nhiên liệu cho lửa cháy). Hỏa sinh Thổ (lửa đốt tro làm cho đất màu mỡ. Kim sinh Thủy (kim loại nóng chảy trở về thể lỏng). Đấy là quan hệ tương sinh của Ngũ hành. Ngũ hành còn có quan hệ tương khắc, như Thủy khắc Hỏa (nước dập tắt lửa). Hỏa khắc Kim (lửa nung chảy kim loại). Kim khắc Mộc (dao chặt cây). Mộc khắc Thổ (cây hút chất màu của đất). Thổ khắc Thủy (đắp đê ngăn nước).
Trong Ngũ hành Thủy và Hỏa mang tính đối lập âm/dương rõ rệt nhất, tương ứng với màu đen và đỏ, tượng trưng cho hai phương bắc - nam. Mộc và Kim cũng đối lập âm/dương nhưng kém hơn tương ứng với màu xanh và trắng. Thổ tương ứng với màu vàng ở trung ương.
Các bạn nào ở miền Nam, ngay ở Saigon chứ không phải đi đâu xa, thường thấy rải rác đây đó những ngôi miếu nhỏ đề Miếu Ngũ Hành (hoặc Ngũ Hành Miếu). Đây chính là nơi thờ Ngũ Hành Nương Nương, là một nữ thần phát xuất từ quan niệm Ngũ hành. Tuy nhiên người Việt Nam có tục thờ đa thần, nên trong miếu thường thờ thêm những vị thần khác như thần Xã Tắc, Thần Nông, Thổ địa, thần Tài... Ngũ Hành Nương Nương thường được thờ nơi những miếu, đình, đền, điện... là nơi thờ phượng của tín ngưỡng dân gian, như ở đình Phong Phú (quận 9), đình Phú Nhuận (quận Phú Nhuận)... Nhưng cũng có những chùa thờ Phật có ban thờ Ngũ Hành Nương Nương, như chùa Thiền Lâm (quận 8), chùa Vạn Thọ (quận 1)... Tục thờ Ngũ Hành Nương Nương ở miền Nam có lẽ có sau tục thờ các vị nữ thần khác, như thờ Bà Chúa Xứ (Châu Đốc), Linh Sơn Thánh Mẫu (Điện Bà - Tây Ninh), Cửu Thiên Huyền Nữ, Bà Chúa Ngọc...
Vía Ngũ Hành Nương Nương thường được cử hành vào ngày 19 tháng 3 âm lịch hằng năm, cũng có nơi cử hành vào ngày 23 tháng 3. Thoạt đầu người ta thờ bằng bài vị viết bằng chữ Nho, nhưng dần dần bài vị được thay bằng tượng của năm vị nữ thần, được sơn màu hay khoác y phục với năm màu tương ứng với Thủy (màu đen), Hỏa (đỏ), Mộc (xanh), Kim (trắng), Thổ (vàng). Theo sách vở chép đời vua Duy Tân thứ 5 (1911), triều đình đã sắc phong cho Ngũ Hành Nương Nương là "Đức Thánh Nương, Trứ Phong Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng Thần), gồm Thủy Đức Thánh Phi, Hỏa Đức Thánh Phi, Mộc Đức Thánh Phi, Kim Đức Thánh Phi, Thổ Đức Thánh Phi.
Như vậy chúng ta đã thấy, Ngũ Hành Nương Nương bao gồm năm vị nữ thần phát xuất từ thực tại của cuộc sống, được thờ như những vị thần bảo trợ cho con người, những gì liên quan đến đất đai, cây cỏ, củi lửa, nước nôi, kim khí, cũng chính là những yếu tố trong công việc, nghề nghiệp của những nông dân, ngư dân, thợ tiểu thủ công từ ngày xưa... Thờ Ngũ Hành Nương Nương là người dân mong muốn cho cuộc sống của họ luôn được trôi chảy, sung túc, an lành...
Tham khảo:
- Cơ sở Văn hóa Việt Nam, PGS. TS. Trần Ngọc Thêm, NXB Giáo Dục - 1998.
- Lễ hội Dân gian Nam bộ, TS. Huỳnh Quốc Thắng, NXB Văn hóa - Thông tin - 2003.
- Các thông tin trên trang mạng.
Tín ngưỡng thờ Bà Thủy của cộng đồng ngư dân AnThủy (Huyện Ba Tri-Tỉnh Bến Tre)
ThS. Dương Hoàng Lộc
(Trường Đại học KHXH&NV.TpHCM)
Dũng xuất ba đào hạm đội hải thuyền du khủng khiếp
Thần thông biến hóa Thủy nương cứu độ đắc bình an
(Câu đối ở võ ca Miếu Bà An Thạnh)
Trên con lộ đá đi về phía Bãi Ngao thuộc xã An Thủy (huyện Ba Tri- tỉnh Bến Tre) có ngôi miếu tên là Miếu Bà An Thạnh. Hỏi thăm những bậc cao niên ở đây thì biết rằng ngôi miếu có từ lâu đời và thờ Bà Thủy để độ cho ngư dân đi chài lưới và đánh bắt nơi biển khơi. Ngôi miếu khá lớn và khang trang, sạch sẽ vì được bà con ngư dân thường xuyên đóng góp, tôn tạo, đặc biệt là trong những năm gần đây. Điều đó cho thấy rằng, Bà Thủy được người dân nơi này tôn kính, sùng bái bởi vì vị thần này gắn bó với quá trình mưu sinh nơi biển cả của họ. Không chỉ vậy, càng đi sâu vào tìm hiểu việc thờ Bà Thủy của ngư dân thì càng có nhiều thú vị, mới mẽ. Ở đó, tín ngưỡng Bà Thủy không chỉ dừng lại ở niềm tin, hoạt động cúng bái mà còn phản ánh những yếu tố lịch sử, kinh tế-xã hội và cả thế giới quan, nhân sinh quan của ngư dân An Thủy qua nhiều thế hệ.
1.Bà Thủy là ai?
Vậy, một câu hỏi đặt ra: Bà Thủy là ai? Trong quan niệm của người Việt nói riêng và phương Đông nói chung, năm hành chất cấu tạo vũ trụ: Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ được nhân hóa thành 5 Bà Ngũ Hành với quyền năng khác nhau. Cùng với Bà Chúa Xứ, Chúa Ngọc, Chúa Tiên….Bà Ngũ Hành hay còn gọi Mẹ Ngũ Hành là nữ thần được thờ phổ biến ở Trung bộ và Nam bộ. Trong một số ngôi miếu, người ta tạc tượng 5 bà để thờ : Kim Đức Thánh Phi (áo màu trắng), Mộc Đức Thánh Phi (áo màu xanh), Hỏa Đức Thánh Phi (áo màu đỏ), Thủy Đức Thánh Phi (áo màu đen) và Thổ Đức Thánh Phi (áo màu vàng). Sách Đình Nam bộ xưa và nay ghi: “Ngũ Hành Nương Nương được nhà Nguyễn tặng mỹ tự Tư Hóa Mặc Vận Thuận Thành Hòa Tự Tư Nguyện Trang Huy Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng Thần (sắc Duy Tân thứ V)” [6: trang 135]. Tuy nhiên, ở một số nơi, người ta còn tách Bà Thủy và Bà Hỏa ra thờ riêng. Bà Hỏa được thờ ở những nơi chợ búa, đô thị với chức năng trông coi hỏa hoạn và cháy nổ. Riêng, ở các nơi có nhiều sông nước, ao hồ, Bà Thủy là vị thần được thờ cúng phổ biến. Thủy Đức Thánh Phi hay Thủy Long Nương Nương, Thủy Long Thần Nữ…là các tên gọi phổ biến của Bà. Trong quan niệm dân gian, Bà là nữ thần giếng, thần sông rạch, thần cù lao, thần hải đảo, tức vị thần cai quản vùng sông nước [9: trang 295]. Ngô Đức Thịnh cho biết thêm: “Vị thần này thể hiện tính lưỡng diện, một mặt, Bà là nơi ngư dân gửi gắm sự bảo trợ của mình trong mỗi chuyến đi biển đầy thách thức và may rủi, mặt khác, nếu làm điều gì “xúc phạm” tới Bà, như thả các vật dụng xuống “thủy cung”, cứu người đã bị Bà dìm chết để trừng phạt, không làm các nghi lễ “vớt vong” hay “chuộc vong”…thì Bà lại trở thành vị ác thần đáng sợ!” [9: trang 96].
Đặc biệt, đối với các nghề liên quan đến sông nước và biển cả ở Nam bộ, người ta thường vái van Bà Cậu để cầu mong độ trì qua cơn sóng gió. Chắc vì thế mà người ta thường hay gọi dân làm nghề thương hồ hạ bạc là “dân Bà Cậu”. Bà Cậu chính là Bà Thủy và hai người con trai: Cậu Tài và Cậu Quí. Nơi ở của Bà Thủy dưới sông nước, biển cả gọi là “Lục cung thủy triều”. Mặt khác, người ta còn có quan niệm Bà Thủy chính là hóa thân của Thiên Y Ana. Trong văn bia của Phan Thanh Giản tại Tháp Bà Nha Trang, có đoạn kể về Thiên Y Ana đã hóa phép nổi sóng gió nhấn chìm thuyền của thái tử Trung Quốc, biến chiếc thuyền này thành tảng đá. Do đó, Thiên Y Ana và 2 người con của Bà (Cậu Tài, Cậu Quí) được xem là vị thần của sông biển, cù lao. Lê Quang Nghiêm, trong Tục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hòa, cho biết chi tiết: “Ngày xuất hành ra biển làm mùa vào mùng 4 hoặc mùng 6 tháng giêng âm lịch, khi đoàn ghe đi ngang Tháp Bà Ponagar gần cầu Bóng, người ta làm lễ lệnh Bà Tiên Chúa” [7: trang 64].
Ngược ra Bắc bộ, người dân ở đây từ lâu đời đã thờ vị thần cai quản miền sông nước và biển cả, đó là Mẫu Thoải cai quản Thủy phủ trong hệ thống Tam phủ, Tứ phủ.
Như vậy, vị thần cai quản vùng sông nước, biển cả ở nước ta được gắn cho người phụ nữ và có sự khác biệt theo dọc chiều dài đất nước. Tín ngưỡng thờ Bà Thủy có nguồn gốc từ việc sùng bái tự nhiên, đồng nhất yếu tố sông nước và biển cả với vị thần có quyền năng phù hộ, độ trì cho ngư dân với những mùa cá nặng đầy khoang, bình yên trước sóng gió. Người viết tạm đưa ra giả thuyết như sau: Việt Nam là quốc gia có chiều dài bờ biển khoàng 3200 km và có hệ thống sông ngòi dày đặc. Vì thế, ngay từ lâu đời, người dân Việt Nam tôn sùng yếu tố tự nhiên biển cả, sông nước. Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa các vùng, miền. Ở Bắc bộ, Mẫu Thoải trong hệ thống Tam phủ, Tứ phủ phản ánh tư duy trừu tượng về thế giới quan của người dân nơi đây. Vào đến miền Trung, hệ thống Tam phủ, Tứ phủ không còn nữa, rồi Bà Thủy- vị thần có nhiệm vụ cai quản sông nước, biển cả được tách ra khỏi hệ thống này trở thành độc lập. Thêm vào đó là sự tôn sùng mạnh mẽ Thiên Y Ana, nên có nơi Thiên Y Ana và hai người con Cậu Tài, Cậu Quí giữ luôn vai trò bảo hộ cho dân làm nghề sông nước, biển cả, thay thế cho Bà Thủy. Vì vậy, có quan niệm Bà Thủy là hóa thân của Thiên Y Ana. Khi vào đến Nam bộ, dân thương hồ hạ bạc thường vái van Bà Cậu để độ trì cho họ. Lúc này, Bà Thủy lại có thêm 2 cậu, thể hiện dấu vết của sự ảnh hưởng tín ngưỡng Thiên Yana ở miền Trung. Phải chăng đây là quá trình thay đổi và khác biệt văn hóa, mà tín ngưỡng thờ Bà Thủy là điển hình, theo dọc chiều dài đất nước? Tuy nhiên, vấn đề này cần tiếp tục đi sâu tìm hiểu hơn nữa.
2. Tín ngưỡng thờ Bà Thủy trong đời sống cộng đồng ngư dân An Thủy
Qua hồi cố từ một số ngư dân cao tuổi, Miếu Bà An Thạnh được thành lập từ lúc nơi đây còn hoang vu. Một ngư dân từ miền Trung vào buôn bán, khai thác nghề đáy rạo- một hình thức đánh bắt tôm cá nơi cửa sông đã lập ngôi miếu nhỏ thờ Bà với sự cầu mong được bình an giữa nơi sông nước, biển cả bao la. Từ đó, ngôi miếu được ngư dân qua các thế hệ thờ cúng và xây cất khang trang như ngày nay. Ở An Thủy, ngoài Miếu Bà An Thạnh, còn có Miếu Bà An Lợi- thờ Bà Chúa Xứ và Miếu Bà An Thuận- thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu. Qua bài văn tế ở Miếu Bà An Lợi cho thấy Bà Chúa Xứ ở đây chính là Thiên Y Ana. Như vậy, có thể nhận định rằng, nếu tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ gắn liền với quá trình khẩn hoang, lập làng và nguồn gốc dân cư, tín ngưỡng thờ Bà Thuỷ gắn với quá trình phát triển nghề chài lưới, đáy rạo….của ngư dân Việt, thì tín ngưỡng thờ Thiên Hậu gắn với quá trình có mặt và đóng góp của ngư dân Hoa trên lĩnh vực nghề đáy sông cầu, phát triển kinh tế của ngư dân An Thủy.
Trong quá trình điền dã, một số ngư dân cao tuổi ở An Thủy đã kể lại một số giai thoại khá thú vị và ý nghĩa. Có thể kể lại như sau:
Bà Thủy hiển linh cứu dân
Năm đó, bọn lính Pháp đóng bốt ở Ba Tri tiến hành trận càn ở An Thủy để tìm bắt Việt Minh. Trên đường đi, chúng tha hồ bắn phá, đốt nhà dân, tạo nên cảnh thảm thương. Người dân An Thủy chỉ còn biết chạy trốn ra phía cồn, nắp vào những cây bần, cây đước. Bọn Pháp được bọn chỉ điểm báo, nên hành quân về phía cồn để bắn giết. Trên đường đi, bỗng nhiên tên chỉ huy cho bọn lính ghé vào miếu Bà Thủy (ấp An Thạnh-xã An Thủy) để nghỉ ngơi. Chúng lục lạo, bắn phá bừa bãi trong miếu. Khi ra khỏi miếu, tên chỉ huy còn bắn vào ban thờ Bà mấy phát súng. Bỗng nhiên, hắn bị hộc máu mồm, giãy giụa thảm thiết, đau đớn kêu la. Thấy vậy, bọn lính vô cùng lo sợ, vội chuyển hắn về Ba Tri để chữa trị. Trận càn kết thúc và bà con An Thủy hết sức vui mừng đã thoát nạn. Nếu không thì người chết sẽ rất nhiều. Từ đó, họ càng tin tưởng vào Bà hơn.
(Nguồn: Ban Khánh tiết Miếu Bà An Thạnh cung cấp-2008)
Câu chuyện này thể hiện tín ngưỡng thờ Bà Thuỷ có sự pha trộn với yếu tố lịch sử, góp phần cho biết vùng ven biển Bến Tre là nơi chịu nhiều sự mất mát và đau thương qua 2 cuộc kháng chiến. Ở đây, thần linh cũng không thể “làm ngơ” trước sự đau khổ của người dân mà phải ra tay để cứu dân độ thế. Do vậy, tín ngưỡng thờ Bà Thủy của ngư dân An Thủy mang nội dung lịch sử nhất định.
Bà Thủy trừng trị pháp sư
Ngày trước, trong làng An Thủy có vị pháp sư khá nổi tiếng. Ông này có tài bắt ấn, bùa chú hết sức hiệu nghiệm. Vì tài cao, nên ông xem thường các vị thần trong làng. Ông hay làm phép trục các vị thần về nhập đồng để hỏi han công việc. Đối với Bà Thủy ở Miếu Bà An Thạnh, ông tỏ thái độ khinh thường, thậm chí chửi rũa thậm tệ khi say xỉn. Điều này làm cho một số người dân bất mãn, nhưng không dám nói ra. Mỗi khi lệ cúng kì yên miếu, Bà Thủy thường hiển linh bằng cách xuất hiện nhiều quầng lửa bay vào miếu. Nhiều lần, ông này khoe tài mình bằng cách bắt ấn cho quầng lửa đứng lại giữa không trung, làm Bà không thể về chứng lễ của ngư dân. Một lần, trên đường đi đến miếu, thấy Bà Thủy hiển linh, ông bắt ấn cho bà đứng lại để khoe tài trước người dân. Nhưng vì quên làm bùa trấn đất hộ thân, Bà Thủy không những đứng lại, mà còn làm ông hộc cả máu mồm. Người ta đưa ông về nhà. Mấy ngày sau ông mất. Con cháu sau này không ai dám nối nghề.
(Nguồn: Ban Khánh tiết miếu bà An Thạnh cung cấp-2008)
Câu chuyện cho biết mối quan hệ giữa Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian: Đạo giáo (vị pháp sư) ở vị trí cao hơn tín ngưỡng dân gian (Bà Thủy). Chi tiết pháp sư nhiều lần dùng pháp thuật trấn áp Bà Thủy và sự phản công của Bà phản ánh sự xung đột giữa Đạo giáo và tín ngưỡng vai trò quan trọng,. Ngoài ra, sự thắng lợi của Bà Thủy thể hiện ngư nghiệp bắt đầu giữ chủ đạo trong đời sống kinh tế của người dân địa phương.
Trong tín ngưỡng cũng có sự thâm nhập khá sâu sắc của Phật giáo, như trường hợp tín ngưỡng thờ Bà Thuỷ ở đây. Các cụ cao niên ở Miếu Bà An Thạnh cho biết: Trưóc kia, vào ngày 15 tháng 4 âm lịch, trước ngày cúng chánh tế lễ kì yên miếu (16 tháng 4), Ban Khánh tiết cử người mang xôi chè qua ngôi chùa Bửu Sơn gần đó để cúng tạ chư Phật. Họ quan niệm rằng: “Có trời phật mới có thánh thần”. Hay vào lệ cúng kì yên hiện nay, ngư dân mang heo quay, gà, vịt….đến tạ Bà thì chỉ được phép cúng ở phía ngoài võ qui, không được mang vào trong. Những lễ vật này dành cho “binh tướng” của Bà, riêng Bà thì ăn chay vào những ngày cúng kì yên. Do vậy, lễ vật cúng Bà là trầu cau, hoa quả, trái cây, xôi chè…
Không dừng lại ở đó, mỗi khi ghe ra khơi đánh bắt, đóng ghe mới hoặc sửa chữa lại, ngư dân thường cúng tạ Bà Cậu với lễ vật không thể thiếu cặp vịt. Bởi vì họ quan niệm: “Ông cúng gà, bà cúng vịt”. Đối với những ghe đánh bắt trúng mùa, mỗi khi về bờ, họ thường tổ chức cúng heo quay để tạ ơn và cầu mong cho những chuyến ra khơi tiếp theo được như thế. Có những lúc biển cả nhiều sóng gió hay thất mùa, thậm chí khi có người bỏ mình, họ thường vái van “Tiên sư Bà Cậu” để cầu cho sóng yên biển lặng, gặp luồng cá chạy và để tìm được thi thể người đã mất. Theo ngư dân ở đây giải thích rằng: Tiên sư chính là những người đi biển lâu năm, nay đã quá cố hay là những người chẳng may bỏ mình giữa biển cả. Họ vái van để các “cô bác “ này giúp đỡ khi đánh bắt trên biển.
Vậy tín ngưỡng thờ Bà Thủy của ngư dân An Thủy thờ là nữ thần hay Mẫu? Ở Nam bộ, có thể tạm phân chia về Mẫu (Bà Chúa Xứ, Thiên Hậu, Linh Sơn) và nữ thần (Ngũ Hành, Bà Hỏa, Bà Thủy, Bà Cố Hỉ…). Tuy nhiên, Ngô Đức Thịnh - một chuyên gia nghiên cứu về thờ Mẫu ở Việt Nam đã phân vân: “Nếu như ở Nam bộ, Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Ngọc (Thiên Y A Na), Linh Sơn Thánh Mẫu-Bà Đen được coi là những Mẫu Thần và được tôn xưng là Thánh Mẫu, thì Bà Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) trong đó đặc biệt là Bà Thủy Long, Bà Hỏa là nữ thần hay Mẫu thần ?” [11: trang 164]. Ngoài ra, ông cũng giải thích về tình trạng khó phân lớp giữa Mẫu và nữ thần ở Nam bộ: “Tình trạng khó phân lớp giữa nữ thần và Mẫu thần này ở Nam bộ so với Bắc bộ là hoàn toàn có thể giải thích được vì Nam bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây, họ mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước, tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng văn hóa nói chung mà còn cả tín ngưỡng nữa. Theo tôi, đây cũng là một trong các đặc thù của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam bộ” [11: trang 164]. Ở đây, theo quan điểm người viết, việc phân lớp này đòi hỏi có quan điểm lịch sử cụ thể. Thứ nhất, đó là sự tôn xưng của người dân địa phương. Hiện tại, trong ban thờ chính của ngôi miếu Bà An Thạnh có bài vị khá cổ, được xem là của ngôi miếu ngay từ buổi đầu thành lập, và khắc chữ Hán: “Thủy Long Thánh Mẫu Thiên Nương chi thần vị”. Thứ hai, việc tôn sùng và thờ cúng phổ biến Bà Thủy của ngư dân ở đây qua hình thức “Tiên Sư Bà Cậu”. Căn cứ vào sự tôn vinh và ảnh hưởng lớn này, có thể khẳng định rằng, Bà Thuỷ mà ngư dân ở đây thờ là Mẫu. Có thể sẽ khác nơi khác, Bà Thủy chỉ là nữ thần, vì đối với ngư dân ở đây, Bà gắn chặt với nghề nghiệp, quá trình mưu sinh của họ. Ở khía cạnh rộng hơn, Bà Thủy có vai trò quan trọng đối với vùng ven biển và nghề đánh bắt thủy sản so với các nơi khác. Tại đình Tân Thạch (Xã Tân Thạch- Huyện Châu Thành-Tỉnh Bến Tre), qua bài vị thờ khá đơn giản đặt tại võ qui, Bà được gọi là “Thủy Long Nương Nương”. Hay trong Lăng Ông Bình Thắng ( Xã Bình Thắng- Huyện Bình Đại-Tỉnh Bến Tre), Bà Thủy được phối thờ trong chánh điện với tên gọi “Thủy Long Thần Nữ”. Căn cứ vào tên gọi mà biết rằng Bà Thủy ở các nơi này được gọi là nữ thần, chứ không là Mẫu.
3. Hoạt động thờ cúng Bà Thủy của cộng đồng ngư dân An Thủy
Các hoạt động thờ cúng Bà Thủy của ngư dân An Thủy nhằm thể hiện sự tôn vinh và ngưỡng vọng thần linh. Qua đó, phần nào hiểu được ảnh hưởng của Bà trong đời sống của ngư dân tại đây. Dưới góc nhìn folklore học, tín ngưỡng mang tính nguyên hợp. Do vậy, bên cạnh việc khảo sát tín ngưỡng, buộc phải tìm hiểu các hoạt động thờ cúng như : Miếu bà, lễ hội, sinh hoạt nghệ thuật,...là các bộ phận không thể tách rời khỏi tín ngưỡng và cùng tồn tại như một tổng thể.
3.1. Miếu Bà An Thạnh
Miếu Bà An Thạnh nằm trên khuôn viên đất tương đối rộng, có dạng “xếp đọi” hay “xếp bát”, tức những mái nhà nối tiếp theo nhau, bao gồm: Võ ca, võ qui, chánh điện (nhà chánh), hậu điện, nhà khách, nhà trù. Đó là những ngôi nhà vuông làm bằng 4 cây cột cái, có 4 cây trính xuyên qua. Loại nhà này có diện tích mở rộng ra 4 phía bằng bộ kèo đấm và kèo quyết đều nhau vuông vức, thường chỉ làm nơi thờ tự (đình, chùa, miếu) chứ không để ở. Đây là kiểu nhà xuyên trính hay đâm trính, có nguồn gốc từ nhà rường từ miền Trung mang vào. Võ ca là nơi dùng để ca hát, võ qui là nơi qui tụ cho dân làng cúng bái, chánh điện là nơi thờ Bà, hậu điện dùng thờ Tiền Hiền - Hậu Hiền, Tiên Sư, nhà khách dùng tiếp đãi khách mỗi khi tế lễ, nhà trù là nơi để nấu ăn. Ngôi miếu này qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, đặc biệt là giai đoạn gần đây, cho nên phần lớn được làm bằng chất liệu xi măng. Trong khuôn viên miếu bà An Thạnh, nhìn từ phía ngoài vào, ở giữa là bia Long Mã Hà Đồ có chức năng trấn trạch, hai bên có 2 ngôi miếu nhỏ thờ Sơn Quân và Thổ Thần.
Bài trí của ngôi miếu này có phần long trọng. Đó là hệ thống các câu đối, hoành phi sơn son thếp vàng được treo ở nhiều nơi, nhằm làm cho ngôi miếu thêm phần thâm nghiêm và trang trọng. Nội dung các câu đối và hoành phi ca ngợi công đức, uy linh của Bà Thủy, công lao của Tiền Hiền - Hậu Hiền:
- “ Đức Thánh Minh”
- “ Hiển Oai Linh”
- “Dũng xuất ba đào hạm đội hải thuyền du khủng khiếp
Thần thông biến hóa Thủy nương cứu độ đắc bình an”
- “An hưởng định dân nghệ tính thành y cựu
Thạnh hành tư thủy đức nghệ thuật duy tân”
Trong phần chánh điện được bài trí với lọng, bát bửu, trưng bày áo và mão của Bà. Ngôi miếu này đều có 2 lớp hương án, được trang trí chạm nổi hình Long Mã Hà Đồ, Long – Phụng, Hổ,... Phía trong chánh điện, ban thờ Bà được đặt ở giữa, hai bên là ban thờ Tả Ban, Hữu Ban. Trong miếu bà An Thạnh có đặt tượng Bà Thủy. Tượng này được nghệ nhân dân gian địa phương làm trong thời gian gần đây. Ở hậu điện có ban thờ Tiền Hiền-Hậu Hiền, Tiên Sư và ban thờ Tổ Nhạc. Đặc biệt, có thêm ảnh Bác Hồ được đặt ở hương án hậu điện, mang ý nghĩa với tấm lòng luôn nhớ ơn, tri ân Bác có công giải phóng dân tộc, đem lại hạnh phúc ấm no cho nhân dân.
Miếu Bà An Thạnh ngày nay được trùng tu khang trang, kiên cố hơn so với trước đây. Điều này phản ánh sự sung túc của đời sống kinh tế ngư dân, tấm lòng ngưỡng vọng và cảm tạ thần linh đã độ trì cho họ. Ngoài ra, ngôi miếu này là nơi gắn liền với tín ngưỡng thờ Bà Thủy, gắn liền với hoạt động lễ hội, với đời sống xã hội và lịch sử của cộng đồng ngư dân An Thủy. Do vậy, nó là một biểu tượng của văn hóa, gắn kết cộng đồng ngư dân lại với nhau, là tâm thức của những người lênh đênh trên biển cả bao la hay ở một góc bể xa xôi trong những chuyến đánh bắt dài ngày. Đây là một không gian thiêng của họ.
3.2. Lễ hội
Lễ hội Miếu Bà An Thạnh được tổ chức vào ngày 16/4 âm lịch hằng năm, và được ngư dân gọi là lễ kì yên với mục đích “ phong điều võ thuận, quốc thới dân an”. Ở đây, chính là sự cầu mong biển cả lặng yên, đời sống ngư dân sung túc, giàu mạnh. Lễ hội ở đây bao gồm các nghi lễ theo trình tự chung: Nghi múa bóng rỗi Bà - nghi nghinh Bà -nghi tế Tiền Vãng - nghi xây chầu đại bội - nghi chính tế - nghi đưa khách. Mỗi nghi lễ có một chức năng và ý nghĩa văn hóa riêng biệt. Có thể đi vào chi tiết các nghi này như sau:
_ Nghi múa bóng rỗi Bà: Nghi này được tiến hành vào tối trước ngày chính tế, tức ngày 15/4 âm lịch. Đây là phần thuộc về bà bóng múa dâng các phẩm vật như: Hoa, hương, trà, mâm vàng…để chầu mời Bà Thủy về chứng lễ cho người dân. Nghi này được diễn ra ở võ qui, thu hút khá nhiều người đến tham gia và thưởng thức tài nghệ của bà bóng. Tiếng trống cùng với kèn, nhạc đi theo từng nhịp múa, các động tác lắc lư dâng bông, dâng mâm…tạo nên một không gian sôi động và pha lẫn yếu tố thiêng, đưa cảm giác con người theo các động tác múa. Có thể nói, điều không thể thiếu được của lễ kì yên Miếu Bà An Thạnh chính là nghi múa bóng.
_ Nghi nghinh Bà: Nghi này được diễn ra vào sáng sớm ngày hôm sau, tức ngày chính lễ ( ngày 16/4 âm lịch). Toàn bộ Ban Khánh tiết, gồm những ngư dân cao tuổi, bắt buộc phải tề tựu đầy đủ, làm lễ tại chính điện. Sau ba hồi chuông trống, học trò lễ đứng hai bên và tiến hành điều khiển nghi lễ cho bộ phận tế tự trong Ban Khánh tiết. Các ông Chánh bái, Phó bái, Bồi bái…quì ở hương án ngoài, tiến hành dâng trà, rượu, hương để nghinh Bà về chứng lễ cho ngư dân. Sau đó, lần lượt các thành viên khác tiếp tục quì lạy. Ngoài ra, còn có múa lân để báo hiệu cho dân làng lễ hội đã bắt đầu. Xưa kia, nghi này bắt buộc phải ra biển làm lễ nghinh Bà về, bởi vì họ quan niệm: Bà Thủy vốn ở ngoài biển.
_ Nghi tế Tiền Vãng: Nghi này diễn ra ở hậu điện ngay sau nghi nghinh Bà. Sau ba lần dâng trà, rượu, bộ phận tế tự trong Ban Khánh tiết sẽ lần lượt quì lạy bàn thờ Tiền Hiền-Hậu Hiền. Ông Hương văn sẽ đọc văn tế Tiền Vãng, tức các vị Tiền Hiền - Hậu Hiền có công khai khẩn và tạo dựng, phát triển xóm làng, ngư nghiệp. Nội dung bài văn tế nhằm ca ngợi công đức của tiền nhân. Đây là một nghi lễ chứa đựng ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Lễ vật dâng cúng thường là đầu heo, lòng heo và hoa quả, thức ăn...
_ Nghi xây chầu đại bội: Nghi này được diễn ra vào tối ngày chính tế và gồm có 2 phần: Xây chầu và đại bội. Xây chầu còn gọi là lễ khai tràng, mang ý nghĩa cầu quốc thái dân an, khai thông thái cực. Sau lễ xây chầu là đại bội. Tùy vào yêu cầu của Ban Khánh tiết, đoàn hát bội sẽ thực hiện các nghi này và có phần giản lược. Lễ đại bội bao gồm: Khai thiên - tịch địa, Xang nhật nguyệt, Tam tài, Ngũ hành, Tứ Thiên Vương dâng liễn, Ông Địa gia quan tấn tước.
_ Nghi chính tế: Nghi này được tổ chức vào 12g đêm ngày chính lễ. Đây là nghi thức quan trọng nhất của lễ kì yên, được tổ chức tại chính điện với thời gian từ 2 - 3 giờ. Ban Khánh tiết có mặt đầy đủ. Sau 3 hồi chuông, trống, bộ phận tế tự quì lạy, có họ trò lễ và đào thài xướng lễ. Trước đó, ông Chánh bái đến trước ban thờ Bà làm động tác “ẩm phước thọ tợ”. Vì họ quan niệm rằng: Ông này là người cao tuổi, có đức độ nên được hưởng phước lộc của thần. Ẩm phước là uống ly rượu cúng Bà, thọ tợ là hưởng được miếng thịt ba chỉ hoặc nạc vai. Vì không ăn liền miếng thịt này, nên ông chỉ làm động tác tượng trưng ăn miếng trầu thay thế. Trong nghi chính tế, ông Hương văn đọc văn Chánh tế để tế Bà Thủy. Nội dung ca ngợi công đức, cầu nguyện Bà độ trì cho bà con ngư dân. Nghi chính tế kết thúc vào giữa khuya.
_ Nghi tống ôn: Nghi này là nghi cuối cùng của lễ kì yên, tổ chức vào đêm ngày cuối cùng (ngày 17/4 âm lịch), được bày cúng ngoài sân miếu. Xưa kia, nghi này dùng bè thả lễ vật cúng ra ngoài sông và có pháp sư theo cùng. Thực chất, đây là nghi thức có ảnh hưởng từ Đạo giáo. Tống ôn là tống tiễn ma quỉ, ôn dịch, xui rủi…đi xa để trong làng không còn bệnh tật, ôn dịch, thất bát. Lễ vật tống ôn thường có muối, gạo, vàng bạc, bánh kẹo, củi và thực phẩm…Ban Khánh tiết tề tựu đầy đủ, bộ phận tế tự quì lạy và khấn nguyện. Nghi này có sử dụng văn tế, gọi là văn Tống ôn. Hiện nay, ở một số miếu còn gọi là nghi đưa khách. Ngày nay, đời sống của người dân đã tiến bộ và văn minh hơn, không còn ôn dịch, bệnh tật hoành hành như trước. Do vậy, quan niệm của họ đã thay đổi, kết thúc lễ kì yên là lễ đưa tiễn khách gồm các vị thần linh, cô hồn, ma quỉ…ra về, sau khi về chứng lễ và phối hưởng tại miếu.
Trong những ngày lễ kì yên Miếu Bà An Thạnh, ghe đánh bắt phải tề tựu về dự lễ cúng. Họ mang những lễ vật đến miếu cúng tạ ơn Bà Thủy, ghe nào trúng mùa thì tạ lễ bằng heo quay, ngoài ra còn có xôi, chè…Xung quanh miếu không khí nhộn nhịp, đông vui với các hàng quán buôn bán. Mỗi gia đình đều cử người đến miếu cúng. Sau đó, họ ngồi bên nhau để lai rai và tâm tình về nghề biển, về những chuyến đánh bắt tiếp theo. Các món ăn do Ban Khánh tiết đãi là những lễ vật mà ngư dân đem đến cúng. Ngoài ra, họ còn có thêm các món cá đuối tái giấm hay xào nghệ, mắm cá, mắm tép ăn với thịt phay…Đây là những món ăn riêng có của vùng biển. Đặc biệt, không chỉ ngư dân, những người làm nghề khác như: Buôn bán, trồng giồng, nuôi tôm, làm muối…cũng tin tưởng vái van. Phải chăng đó là quá trình “cộng hưởng và lan truyền” từ đời sống tâm linh của ngư dân vốn là những người có vai trò chủ chốt trong đời sống kinh tế - xã hội và đông đảo tại địa phương? Mặt khác, trong đời sống hiện tại, chức năng của vị thần này được mở rộng hơn trước kia.
3.3. Sinh hoạt nghệ thuật
Có 2 hình thức sinh hoạt nghệ thuật trong lễ kì yên Miếu Bà An Thạnh là : Hát bội và múa bóng rỗi.
Trong lễ kì yên Miếu Bà An Thạnh, hát bội trước giúp vui cho thần thánh, sau cho bổn hội và bà con xem. Ngày nay, Bến Tre chỉ còn lại một số đoàn hát bội hoạt động trong dịp kì yên ở đình, miếu, lăng như: Đoàn Lâm Tiến và Tâm Đồng (Thị xã Bến Tre), đoàn Thanh Điền (Huyện Thạnh Phú), đoàn Kim Phụng và Ngọc Quí (Sở Văn hóa- Thể thao-Du lịch Bến Tre), đoàn Đào Đửng (Huyện Ba Tri)…Tùy vào từng năm mà Ban Khánh tiết Miếu Bà An Thạnh có thể mời một trong các đoàn này. Ở đây, hát bội thường được diễn với 3 xuất hát vào 2 ngày 16 và 17/4 âm lịch. Lúc diễn có người cầm chầu và đại diện Ban Khánh tiết ngồi xem. Ngoài ra, người dân địa phương ngồi xung quanh để thưởng thức. Vào buổi tối, cả võ ca chật ních người, bao gồm nam nữ, già trẻ cùng ngồi xem cho đến hết tuồng hát. Do vậy, hát bội ngày nay vẫn còn trong mạch sống của ngư dân nơi đây. Người xem có quyền bình phẩm, góp ý, thậm chí chê trách nếu nội dung tuồng hát hoặc diễn xuất của diễn viên không đúng, không đạt. Đó là cơ sở cho Ban khánh tiết tham khảo có nên mời tiếp đoàn hát vào năm sau hay không. Đoàn hát phải cố gắng để trình diện tài năng của mình trên sân khấu. Người nghệ sĩ phải vào vai như chính nhân vật mà mình thể hiện, như câu đối ở phía ngoài võ ca của Miếu Bà An Thạnh:
“ Giả diện hí trường thùy thức yên chỉ thành thánh chúa
Chơn hình phòng nội hà tri tu phát thị thường dân”
(Tạm dịch là: Nơi sân khấu hí trường phải giả thành vua chúa
Chốn nội phòng bỏ râu tóc chỉ còn là thường dân)
Qua khảo sát, một số tuồng hát bội được yêu thích và trình diễn cho ngư dân xem là vở Tiết Cương tảo mộ, Tiêu Anh Phụng loạn trào, Quan Công phò nhị tẩu, Cao Lan Anh, Bao Công xử án Quách Hòe, La Thông tảo bắc, Lưu Bị cầu hôn Giang Tả, Thạch Kim Huê đả hổ, San Hậu,…Các tuồng này không nằm ngoài thể loại tuồng truyện và tuồng đồ, được người dân yêu thích qua bao thế hệ. Nó góp phần vun bồi tính cách cho người dân nơi đây. Sau nghi thức xây chầu đại bội, người cầm chầu thúc trống, tuồng hát đầu tiên được trình diễn trong sự chờ đợi của mọi người. Sân khấu được trang hoàng rực rỡ, nhân vật mặc quần áo sặc sỡ, không khí sôi động hẳn lên với trống, nhạc và lời ca tiếng hát, góp phần làm cho các lễ hội thêm náo nhiệt, thu hút khá nhiều người tham gia. Kết thúc cả 3 tuồng hát bội là lễ tôn vương. Ở đây, ông bầu hay bà bầu của đoàn hát sẽ đứng ra đại diện cầu chúc đất nước, cho bổn hội, cho bà con ngư dân được một mùa ra khơi bình an, đời sống phát triển. Lễ tôn vương phản ánh rõ nét ý thức hệ phong kiến đã ảnh hưởng sâu sắc vào hát bội. Ngoài võ ca, 3 hồi trống chầu vang lên, đoàn hát bội quay vào buồng hát. Hát bội kết thúc giữa đêm khuya. Mọi người lại hẹn nhau vào mùa lễ năm sau.
Bên cạnh hát bội là hình thức múa bóng rỗi. Múa bóng rỗi là điệu múa, bài hát mà con người dâng lên cho thần thánh để cầu nguyện. Hình thức múa bóng rỗi đã trở thành sinh hoạt văn hóa vừa mang tính nghi lễ, vừa mang tính giải trí trong lễ hội kì yên các miếu bà ở Nam bộ. Trước đó, Ban Khánh tiết miếu bà có nhiệm vụ đi mời bà bóng để múa cho ngày cúng kì yên. Ở An Thủy, họ thường mời các bà hay nhóm bóng ở xã An Bình Tây, xã Phú Ngãi, xã Phước Tuy…để làm lễ. Như vậy, các địa phương này thuộc huyện Ba Tri là nơi còn tồn tại loại hình múa bóng rỗi. Năm 2007, người viết có tham gia lệ cúng kì yên ở Miếu Bà An Thạnh. Biểu diễn múa bóng là bà bóng Năm ở xã Phú Ngãi. Đây là bà bóng khá nổi tiếng ở Ba Tri, được truyền nghề từ nhỏ, có hiểu biết về nghệ thuật múa bóng. Theo bà, múa bóng không phải mê tín dị đoan mà chỉ là diễn xướng nghệ thuật dân gian, có kết hợp múa và hát, là biểu hiện của truyền thống văn hóa dân tộc. Bà chỉ múa một mình. Đầu tiên, bà bóng Năm cùng ban nhạc làm lễ ở bàn thờ Tổ Nhạc. Sau đó, bà làm lễ Tổ tại bàn thờ trước võ ca. Bà múa và hát theo trình tự: Hát rỗi Bà Thủy, múa dâng hương, dâng bông và dâng mâm. Nội dung bài rỗi của bà bóng Năm như sau: Hằng Nga, Tiên Đồng, Ngọc Nữ là 3 người hầu của Lê Sơn Thánh Mẫu. Họ đang đi chơi và nghe mùi hương phảng phất thấu đến thiên cung. Bà Lê Sơn cùng Thái Ất Chân Nhân bắt ấn và biết được trần gian đang tổ chức hội miễu nên sai 3 người cùng xuống để dâng bông, dâng hương và dâng mâm vàng cho Bà Thủy. Khi họ xuống tới cõi trần, chị trước em sau để đi tìm miếu Bà thì bị ông Địa Tiên làm phép giăng nhện, không cho đi. Cả 3 người cùng niệm Phật, dùng phép thiên tiên để phá trận đồ. Sau đó, họ cùng nhau đến miếu để giúp vui cho Bà Thủy và cầu chúc cho “quốc thới dân an, gia gia phước thọ”. Như vậy, điều này phản ánh được sự thâm nhập của Phật giáo và Đạo giáo vào nội dung múa bóng rỗi. Mỗi khi vào vai, bà bóng Năm phải xưng danh tánh như: “Như ta đây là Hằng Nga cung nữ…”. Điệu múa của bà thật chuẩn, phù hợp với tiếng nhạc. Để diễn tả cảnh tiên giáng trần dâng bông, đôi mắt của bà bóng Năm nhắm lại, hai tay giang ra và vẫy như cánh chim đang bay từ trên không trung xuống trần. Diễn tả khi xuống trần, đôi mắt của bà mở ra, hai tay giơ cao lắc mạnh và đội lễ vật múa. Do vậy, bài múa bóng rỗi của bà có nội dung và kết hợp điệu bộ khá nhuần nhuyễn. Đó còn là lời rỗi lúc thì tha thiết, sâu lắng và lúc thì vui vẻ, rộn ràng, đi kèm theo tiếng nhạc bổng trầm, khoan nhặt. Vì thế, không gian của ngôi miếu lúc này vừa mang tính trang nghiêm nhưng cũng không kém phần sinh động trước sự thưởng thức của người xem. Khi múa, đôi tay làm động tác quay tơ, đan tơ: Buông ra rồi quay vô để cầu no ấm phú quí. Chân phải bước theo chữ Công, chữ Thọ để cầu chúc trường sinh, phú quí. Mỗi lần kết hợp tay và chân được xem là một bộ. Kết thúc một bộ là động tác nhún người, được gọi là rụp. Theo bà bóng Năm, mỗi nghệ nhân múa bóng đều có một bài rỗi riêng, không giống nhau, được thầy truyền lại và sáng tác thêm cho phù hợp. Đặc biệt, nếu rỗi mời Bà Chúa Xứ và Cửu Thiên Huyền Nữ thì có lời giống nhau:
“Mời bà giáng tạ bàn trung
Mời bà hưởng nước với hương ăn trầu”
Riêng đối với Bà Thủy thì khác:
“Ai đi ai đứng ngoài sông
Tức là Bà Thủy dạo chơi biển hồ”
Cuối cùng, Bà bóng Năm đưa mâm lộc (trầu cau) cho ông Chánh bái và cầu chúc Ban Khánh tiết và bà con ngư dân được một năm bình an, tài lộc, sức khỏe.
Nói tóm lại, tín ngưỡng thờ Bà Thủy là hình thức tín ngưỡng tôn sùng giới tự nhiên, ở đây là yếu tố sông nước và biển cả. Việc tôn sùng này được gắn liền với vai trò của vị thần linh- Bà Thủy nhằm phù hộ độ trì cho ngư dân chài lưới và đánh bắt ở An Thủy qua nhiều thế hệ, mà cuộc sống của họ giữa sông nước và biển cả vốn có nhiều bất trắc hay xảy ra. Từ đó, các hoạt động cúng bái vị thần này được diễn ra thường xuyên và đều đặn với qui mô khá lớn, góp phần tạo nên một đời sống văn hóa khá phong phú, đa dạng của ngư dân An Thủy. Tất cả như một tổng thể văn hóa và là những di sản quí báu mà các thế hệ ngư dân ở đây tôn tạo và gìn giữ. Do vậy, việc mở rộng nghiên cứu và bảo tồn tín ngưỡng Bà Thủy ở Miếu Bà An Thạnh là một việc làm cần thiết. Đây không chỉ là một gạch nối giữa con người và thần linh, giữa con người với con người, giữa truyền thống và hiện tại mà còn là cơ sở cho sự tiếp tục gắn bó của ngư dân An Thủy với bờ biển Bến Tre, góp phần cho việc bảo vệ và khai thác một phần biển Đông nước ta.
Tài liệu tham khảo:
1. Đinh Bằng Phi 2005: Nhìn về sân khấu Hát bội Nam bộ- Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Văn nghệ.
2. Đinh Gia Khánh 1992: “Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian ở Việt Nam”. Tạp chí Văn học, số 5/1992.
3. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam 2006: Những vấn đề nhân học tôn giáo- Đà Nẵng: Tạp chí Xưa và Nay- Nxb. Đà Nẵng.
4. Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Viện Nghiên cứu Văn hóa, Sở Văn hóa-Thông tin Quảng Ngãi, Hội Văn học Nghệ thuật Kiên Giang 2008: Văn hóa biển miền Trung và văn hóa biển Tây Nam bộ- Hà Nội: Nxb.Từ điển Bách Khoa.
5. Huỳnh Ngọc Trảng 1993: “Tìm hiểu nguồn gốc và đặc điểm của múa bóng Nam bộ”. Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 5/1993.
6. Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường 1999: Đình Nam bộ xưa và nay- Đồng Nai : Nxb.Đồng Nai.
7. Lê Quang Nghiêm 1970: Tục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hòa- Sài Gòn: Trung tâm Văn bút Việt Nam.
8. Ngô Đức Thịnh (chủ biên) 2001: Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng Việt Nam- Hà Nội: Nxb.Khoa học Xã hội.
9. Ngô Đức Thịnh 2007a: Đạo Mẫu (tập 1)- Hà Nội: Nxb.Khoa học Xã hội.
10. Ngô Đức Thịnh 2007b: Lên đồng hành trình của thần linh và thân phận- Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb.Trẻ.
11. Ngô Đức Thịnh 2007c:Về tín ngưỡng lễ hội cổ truyền- Hà Nội: Viện Văn hóa- Nxb.Văn hoá Thông tin.
12. Nguyễn Chí Bền 1997: Tìm hiểu một số hiện tượng văn hoá dân gian Bến Tre- Hà Nội: Nxb.Khoa học Xã hội.
13. Thạch Phương, Đoàn Tứ (chủ biên)2001: Địa chí Bến Tre (tái bản lần 2)- Hà Nội: Nxb.Khoa học Xã hội.
14. Trần Hồng Liên (chủ biên) 2004: Cộng đồng ngư dân Việt ở Nam bộ- Hà Nội: Nxb.Khoa học Xã hội.
15. Trương Thìn 2005: Tôn trọng tự do tín ngưỡng, bài trừ mê tín dị đoan-Hà Nội: Nxb.Văn hóa Thông tin.
16. Sơn Nam 2006: Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam- Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb.Trẻ
Nguồn: Tạp chí Nguồn sáng Dân gian, số 2/2010
Giản giới tục thờ Ngũ hành thần nữ ở Khánh Hòa
( Nguồn: http://www.ninhhoatoday.net/stbkky76-2.asp )
Trong tín ngưỡng thờ nữ thần, mẫu thần ở Việt Nam nói chung thì Ngũ Hành thần nữ mà dân gian thường gọi là mẹ Ngũ hành hay bà Ngũ hành được thờ tự phổ biến ở các làng xã đặc biệt là tại các tỉnh ở Nam Trung bộ và Nam bộ. Đối với vùng đất Khánh Hòa, tục thờ này vẫn đang được bảo lưu và thực hành rộng rãi. Vậy tục thờ Ngũ hành thần nữ ở Khánh Hòa biểu hiện cụ thể ra sao? Các triều đại quy định điển lễ và ban tặng sắc phong đối với Ngũ Hành thần nữ như thế nào?... đó là những vấn đề cần tìm hiểu mà bài viết này mong muốn đề cập ngõ hầu góp phần nhỏ vào công tác nghiên cứu tục thờ nữ thần nói riêng và tín ngưỡng thờ mẫu nói chung.
Trước hết cần tìm hiểu một cách giản lược về khái niệm về Ngũ hành 五 行. Ngũ hành theo quan niệm triết học của người Trung Quốc cổ đại để chỉ năm hành (đi, sự vận động) cơ bản của vũ trụ bao gồm hành Thủy 水 (biểu trưng cho yếu tố nước, chất lỏng), hành Hỏa 火 (biểu trưng cho yếu tố lửa), hành Mộc 木 (biểu trưng cho yếu tố cây, gỗ), hành Kim 金 (biểu trưng cho yếu tố kim loại), hành Thổ 土 (biểu trưng cho yếu tố đất đai, thổ nhưỡng). Các hành này tương sinh tương khắc, chế hóa lẫn nhau tuân theo những quy luật nhất định. Cũng từ quy luật lý thuyết đó, Ngũ hành có ứng ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như trong Y học, ẩm thực, âm nhạc, phương vị, màu sắc, thiên văn, thời gian…
Xuất phát từ Trung Quốc, dần dần thuyết Ngũ hành được tín ngưỡng hóa, thành sự thờ phụng trong quan niệm “vạn vật hữu linh” rất phổ biến ở nhiều dân tộc Á Đông cho đến ngày nay trong đó có Việt Nam. Đặc biệt nước ta có truyền thống từ một nước nông nghiệp trồng lúa nước nên tín ngưỡng thờ các nhiên thần tức các thần trong tự nhiên như thần đất, thần nước, thần cây, thần lửa, và các thần có nguồn gốc từ động vật như chim, thú…. rất được coi trọng.
Xu hướng nữ hóa các vị thần đặc biệt là các nhiên thần như trường hợp năm bà ngũ hành (Ngũ hành thần nữ), các thần có nguồn gốc từ động vật như loài chim (Phấn Nhĩ Quỷ Vương thần nữ)[i],….cho thấy sự phong phú và đa dạng trong tín ngưỡng thờ nữ thần ở Khánh Hòa ngoài các nữ thần có nguồn gốc từ thiên thần (Thiên Y A Na) và các nhân thần là những thần có nguồn gốc từ con người cụ thể.
Di tích để thờ bà Ngũ hành thường mang tên Miếu Ngũ hành, Miếu Bà Ngũ hành hoặc có nơi gọi giản lược là Miếu Bà. Cũng nhiều trường hợp miếu thờ bà Ngũ hành mang tên miếu cùng với địa danh nơi đó, nhưng qua tìm hiểu cấu trúc thờ tự và thần chủ được thờ thì biết đó là miếu thờ bà Ngũ hành. Ở Khánh Hòa có nhiều miếu thờ Ngũ hành và dạng thức thờ tự. Nhiều nơi ở địa bàn Diên Khánh, Nha Trang, Ninh Hòa, Vạn Ninh, Cam Lâm, Cam Ranh có miếu thờ riêng như các ngôi miếu của các vị thần khác thường thấy. Có khi bà Ngũ Hành được phối thờ trang trọng trong các am thờ nhỏ hoặc các ban thờ riêng ở các miếu thờ hoặc các di tích như đình, chùa, lăng… do sự bài trí của người dân địa phương trong từng di tích cụ thể.
Miếu thờ Hỏa tinh thần nữ, trong khuôn viên đình Mỹ Trạch Ninh Hòa
Trong các ban thờ Ngũ hành một số nơi như di tích Am Chúa, di tích Miếu Bà Đại Điền Đông (Diên Khánh) có bài trí tượng năm bà rất đẹp với những màu sắc trang phục riêng cho từng bà. Căn cứ vào phương vị và màu sắc trong thuyết Ngũ hành thì trang phục áo bào màu vàng là bà Thổ, màu đỏ là bà Hỏa, màu xanh là bà Mộc, màu đen là bà Thủy, màu trắng là của bà Kim, trong đó tượng bà Thổ thường được đặt ở chính giữa năm bà vì mệnh thổ ở Trung ương, cũng như vậy tùy vào mệnh của mỗi bà Ngũ hành ứng với mỗi phương mà xếp đặt vị trí tượng cho tương ứng như: mệnh Kim ở phương Tây, mệnh mộc ở phương Đông, mệnh Thủy phương Bắc, mệnh Hỏa phương Nam. Đặc biệt trong một số di tích như am thờ Ngũ hành trong khuôn viên Miếu Bà Đại Điền Đông (Diên Khánh) vừa có tượng năm bà lại vừa có bài vị chữ Hán đề tự hiệu đích danh năm bà. Các miếu hoặc ban thờ không có tượng thì thường có bài vị bằng gỗ khắc chữ Hán đề danh hiệu của năm bà hoặc cũng có thể được viết bằng mực tàu lên trên tường nơi thờ bà Ngũ hành với tự hiệu Ngũ hành thần nữ; Ngũ hành chi vị hoặc Ngũ hành….
Khảo sát các tư liệu Sắc phong, bài vị, văn tế tại các di tích thì tên gọi chung của năm bà thường là Ngũ hành thần nữ 五 行 神 女, Ngũ hành nương nương 五 行 娘 娘, có di tích trên sắc phong đề là Ngũ hành tiên nương 五 行 僊 娘. Tên hiệu cụ thể của từng bà cũng không đồng nhất ở các di tích. Có khi là Kim đức thánh phi 金 德 聖 妃, Mộc đức thánh phi 木 德 聖 妃 , Thủy đức thánh phi 水德 聖 妃 , Hỏa đức thánh phi 火 德 聖 妃 , Thổ đức thánh phi 土 德 聖 妃, cũng có lúc là Hỏa tinh thần nữ 火 晶 神 女 , Thủy tinh thần nữ 水 晶 神 女 như ở sắc phong miếu Tam Tòa (Diên Khánh), lại có trường hợp là Chủ thiết/Chúa sắt thần nữ 主 鐵 神 女 tại Miếu Hội Đồng [ii] (Diên Khánh).
Sắc phong Ngũ hành thần nữ, miếu Ấp Bạch Qua (Diên Khánh)
Điều đặc biệt là Ngũ hành thần nữ đã được triều Nguyễn liệt vào tự điển và ban tặng sắc phong, đây là minh chứng quan trọng thể hiện tính chính thống quan phương của triều đình cho phép xã dân được thờ tự và công nhận bà Ngũ hành xếp vào hàng thần như những vị thần khác trong bách thần theo quan niệm của người xưa.
Sắc phong cho bà Ngũ hành cũng tồn tại hai dạng là phong chung và phong riêng tùy thuộc vào việc thờ ở mỗi làng xã. Qua việc thờ tự ở các di tích cho thấy, thường các di tích thờ cả năm bà Ngũ hành, có di tích thờ một bà trong năm bà như Miếu Bà Hỏa thờ bà Hỏa (Vĩnh Ngọc, Nha Trang), Đình Khánh Thành (Cam Lâm) có sắc thờ Kim tinh thần nữ. Cũng có di tích thờ hai bà trong năm bà như trường hợp Miếu Tam Tòa (Diên Khánh) có sắc phong thờ bà Thủy tinh thần nữ và Hỏa tinh thần nữ.
Như vậy rõ ràng việc tôn thờ một, hai hoặc năm bà trong Ngũ hành biểu tượng cho những yếu tố vật chất là đất đai, nước, kim loại, cây gỗ, củi lửa được người xưa tiếp nhận phụ thuộc vào đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng và tập quán sinh hoạt của người dân trong từng vùng. Theo đó, nơi nào vượng hành gì thì thường thờ vị thần của hành đó. Ví như vùng gần sông suối thường thờ bà Thủy, nơi nào nhiều đất đai vườn ruộng thường thờ bà Thổ, nơi nào có khí hậu khô nóng thờ bà Hỏa, miền rừng núi thờ bà Mộc hay mẫu Thượng Ngàn…
Tượng năm bà Ngũ hành, tại miếu Ngũ hành - Am Chúa Diên Khánh
Các sắc phong chung cho Ngũ hành thần nữ ở Khánh Hòa có niên đại muộn hơn các vị thần khác. Sắc phong chung cho Ngũ hành được tìm thấy sớm nhất vào năm Duy Tân thứ 5 (1911), hiện có ở nhiều di tích, như miếu Ấp Bạch Qua (Diên Khánh), đình Phong Ấp (Ninh Hòa). Sắc phong riêng cho từng vị trong năm vị thì Chủ thiết/Chúa sắt thần nữ (tức là bà Kim) có sắc phong sớm nhất là vào năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) tại Miếu Hội Đồng (Diên Khánh), còn lại đa số các sắc phong chung cho Ngũ hành thần nữ có niên đại vào năm Khải Định thứ 2 (1917) và năm Khải Định thứ 9 (1924).
Mỹ tự[iii] được phong qua các đời đối với Ngũ hành thần nữ là Tán hóa Mặc vận Thuận thành Hòa nhu Tư nguyên Trang huy Dực bảo trung hưng 贊 化 默 運 順 成 和 柔 資 元莊徽 翊 保 中 興, và thứ hạng thần cao nhất được phong là thượng đẳng thần上 等 神 (xếp vào hàng thần bậc thượng)[iv].
Đối với các di tích có sắc phong riêng cho từng vị trong năm vị thì mỹ tự được phong của mỗi bà cũng có nét riêng và thứ hạng thì chỉ lên đến hàng thần bậc trung (trung đẳng thần) trong ba hạng Thượng – Trung – Hạ. Như ở Đình Khánh Thành (Cam Lâm), sắc phong cho Kim tinh thần nữ vào năm Khải Định thứ 2 (1917) phong mỹ tự và thứ hạng là Trinh uyển Dực bảo trung hưng Hạ đẳng thần貞 婉 翊 保 中 興 下 等 神, năm Khải Định thứ 9 (1924) phong thêm mỹ tự Trai tĩnh 齋 靜 và xếp hạng là trung đẳng thần 中 等 神.
Nghi thức cúng tế Ngũ hành thần nữ cũng có nét tương đồng như các vị nữ thần hay mẫu thần khác trong vùng, tùy theo truyền thống phong tục mỗi địa phương mà quy định ngày vía và lễ phẩm phù hợp. Thường người dân hay tổ chức lễ vía bà vào tháng ba theo quan niệm cổ truyền tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ. Trong các văn cúng cầu an, cúng xuân cúng thu tại các di tích, thường thấy danh hiệu của bà Ngũ hành xuất hiện cùng với nhiều tên các vị thần khác trong thôn xã. Nhân dân các nơi tôn thờ Ngũ hành thần nữ và coi bà như thần mẹ có nhiệm vụ chở che và phò giúp họ trong lao động sản xuất được mùa màng tốt tươi, nhân khang vật thịnh. Đó cũng là nét đẹp tâm linh trong văn hóa tín ngưỡng thờ nữ thần, mẫu thần vốn đã trở thành mỹ tục của một vùng đất có bề dày truyền thống./.
Đỗ Văn Khoái
Trung tâm Bảo tồn di tích tỉnh Khánh Hòa
Tư liệu tham khảo:
1. Hồ sơ khoa học di tích: Đình Mỹ Trạch, Đình Phong Ấp (Ninh Hòa).
2. Hồ sơ khoa học di tích: Miếu Tam Tòa, Miếu Bà Đại Điền Đông, Am Chúa (Diên Khánh).
3. Sắc phong các di tích: Miếu Hội Đồng (Diên Khánh), Đình Khánh Thành (Cam Lâm), Miếu Tam Tòa, Miếu Ấp Bạch Qua (Diên Khánh)…
[i] Ở Đình Hội Xương (Diên Khánh) hiện có miếu riêng thờ bà Phấn Nhĩ Quỷ Vương và có sắc phong cho bà. Thần hiệu của bà qua tư liệu sắc phong tại miếu là Phấn Nhĩ Quỷ Vương thần nữ 奮 耳 鬼 王 神 女.
[ii] Miếu Hội Đồng: Sách Đại Nam Nhất Thống Chí, tập III, phần viết về tỉnh Khánh Hòa, mục Đền Miếu có ghi: Miếu Hội Đồng ở xã Phú Lộc, huyện Phước Điền thờ các vị thần trong bản cảnh, dựng từ năm Gia Long thứ 15, lợp bằng tranh; năm Tự Đức thứ 2 tu bổ lợp ngói. Hiện miếu không còn nhưng còn lưu giữ được 34 đạo sắc phong phong cho 11 vị thần trong bản cảnh trong đó có 03 sắc phong cho Chủ thiết/chúa sắt thần nữ 主 鐵 神 女 .
[iii] Mỹ tự: là những từ có ý nghĩa cao đẹp dùng để phong cho các vị thần, thường thấy trong sắc phong. Tùy thuộc vào công trạng, đức nghiệp của từng vị thần mà triều đình ban cho mỹ tự phù hợp. Ví dụ như mý tự phong cho Kim tinh thần nữ là Trinh uyển (chính đính, nhún thuận) Trai tĩnh (trai giới, trong sạch) Dực bảo trung hưng (có công giúp nước trong sự nghiệp trung hưng). Mỹ tự phong cho thần Thành hoàng ở Khánh Hòa thường là Quảng hậu (sâu dày) Chính trực (ngay thẳng) Hựu thiện (phò thiện) Đôn ngưng (lắng đọng).
[iv] Tư liệu: sắc phong Ngũ hành thần nữ tại Miếu Ấp Bạch Qua (Diên Khánh), Đình Phong Ấp (Ninh Hòa).
cảm ơn bạn Pháp Chiếu đã chia sẽ. XIn cho mình hỏi sự khác nhau giữa quan trạng và quan tướng được không? Mình biết quan trạng là như thế nào nhưng quan tướng thì dây là lần đầu mình nghe nói. Có phải quan tướng là cấp cao hơn so với quan trạng? Xin bạn chỉ bày cho mình được rõ. Xin cảm ơn
Lời của một Sư bà 90tuổi tu tại Tây Ninh và một Bà Cô tại Trị An Đồng Nai đang thờ Phật Địa Mẫu và Năm Bà Ngũ Hành: Năm Bà Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ, tượng trưng cho đất trời vũ trụ:
- Kim: biểu hiện sắc vàng ánh kim, chất kim loại, đại diện cho Bà Tây Vương Mẫu.
- Mộc: biểu hiện sắc xanh đen, thuộc về cây, đại diện cho Bà Diêu Trì Kim Mẫu.
- Thuỷ: biểu hiện sắc trắng, thuộc về nước, đại diện cho Bà Quan Âm Bồ Tát.
- Hoả: biểu hiện sắc đỏ, thuộc về lửa, đại diện cho Bà Trung Quốc Mẫu.
- Thổ: biểu hiện sắc đen, thuộc về đất, đại diện cho Bà Phật Mẫu Diêu Trì (Phật Địa Mẫu người đứng trên quả địa cầu).
Trên quả địa cầu của chúng ta sống được tạo thành từ những chất liệu này và cùng chịu sự cai quản vận hành của Năm Bà, một ngôi chùa muốn tạo dựng đều phải lập một miếu nhỏ thì Ngôi Tam Bảo mới bền vững.
Nguồn: http://vutruhuyenbi.com/forum/viewto...&t=981&start=0
VĂN THỈNH 5 BÀ
( Nguồn: http://hatvan.vn/forum/showthread.php?t=36483&page=2 )
Thỉnh mời Ngũ Vị Tiên Nương
Cõi mây năm gió, năm phương Bà về.
Hay là dạo khắp trần gian,
cầm hoa, hái quả, đem về hiến dâng.
Hay chơi quán Sở, lâu Tần,
Cũng xin giá võ, đằng vân ngự về.
Kính Bà cây Động đỏ hồng,
Lầu váng, núi bạc, chầu bông sẵn sàng.
Tình nhân thế hiệp hai hàng,
Thỉnh Bà giáng ngự về đồng chứng minh.
Tây phương thỉnh đức Kim Tinh,
Thần thông biến hoá oai linh làm đầu.
Chầu Mộc Tấn, cõi Tây Lầu,
Trên nguồn, dưới bể vọng cầu cũng thinh.
Chầu Thủy Tấn, cõi Nam Khê,
Đằng vân, giá võ, ngự về tòa chương.
Chầu Hỏa Tấn, cõi Bắc Phương,
Bệnh thời mắc, có Bà Vương Cõi Bà.
Trung Ương Chầu Thổ giữa trời,
Mở lòng nhân đức cứu người thế gian.
Năm Bà, Năm cõi, tòa vàng,
Ngũ phương, ngũ hướng, phép càng oai linh.
Hành phong, hoành võ oai linh,
Ai mà lầm lỗi trong mình khác ngay.
Biết ra cầu đảo đêm ngày,
Lâu thời bệnh nhiễm về tay Năm Bà.
Có lòng một nén hương hoa,
Không lòng lễ vật kêu mà thấu chi.
Phép Bà nương gió cỡi mây,
Trên thời hộ quốc, dưới thời an dân.
Văn chầu thánh giáng lưu ân,
Năm bà giáng phước, Thiên ân thọ trường.
VĂN THỈNH 5 BÀ
[ ThienGiac Soạn ]
( Nguồn: http://hatvan.vn/forum/showthread.php?t=36483&page=2 )
Kính dâng 5 nén nhang thơm,
Tâu lên ngũ vị thượng tiên Ngũ Hành.
Ngũ hành năm vị năm phương,
Thần thông hiển hách oai linh ai tày.
Chúng con chung gối tỏ bày
Khấu đầu vọng bái Thánh Bà Tiên Phi
Bà con Thượng Đế Thiên Cung,
Sớm trưa chầu trực đền rồng vào ra
Cha phong ngũ vị Thánh Bà
Kim Tinh đệ nhất, thỉnh ngài phương Tây.
Thỉnh bà về với trần miền,
Giáng lâm trước án, hưởng thiên lễ này.
Thanh Đế Thần Nữ Đông phương
Nguyện Bà giáng hạ đền rồng chứng minh.
Hắc Đế, Thần Nũ Tiên Phi,
Giáng từ phương bắc, chứng từ đằng hương.
Xích Để Thần Nữ Nam phương,
Dâng hương vọng bái, thỉnh nghinh Bà về
Hoàng Đế, Thần Nữ Tiên Nương,
Đằng vân giáng phủ Trung Ương ngự về.
Năm Bà, Liễu liễu phương phi,
Môi son, mắt phượng, điều thì, tóc xanh.
Hình dung cốt cách ai bằng,
Hình dung, nhan sắc thoát tày trần gian.
Xuân thu đông hạ tứ thời,
Khấu đầu vọng bái 5 bà thượng tiên
Chúng con một dạ chí thành
Đèn hương, lễ vật, kính thờ nguyện xin,
Nguyện xin tật bệnh tiêu trừ,
Năm xung, tháng hạn tống đưa ra ngoài.
THƠ VỀ 5 BÀ
[ ThienGiac sáng tác ]
( Nguồn: http://hatvan.vn/forum/showthread.php?t=36483&page=3 )
Kính dâng năm nén hương lành,
Tâu lên ngũ vị Ngũ Hành Nương nương.
Ngũ hành Ngũ Mẫu năm phương,
Thần thông hiển hách tuyên dương khôn tày.
Chúng con chung gối tỏ bày,
Khấu đầu vọng bái các ngài Tiên Phi.
Kỉnh Bà mở lượng từ bi,
Cỡi mây cỡi gió, năm chi về truyền.
Hay là dạo khắp trần miền,
Giáng lâm trước án, chứng thiên lễ phần.
Hay chơi quán Sở, lầu Tần,
Cũng xin giá võ, đằng vân ngự tòa.
Kính Bà năm sắc chầu hoa,
Đai, cân, mão, áo, phì phà, trà, phan.
Tình nhân thế hiệp hai hàng,
Thỉnh Bà giáng ngự về đàn chứng minh.
Nhứt thời thỉnh đức Kim Tinh,
Bạch y thần nữ oai linh làm đầu.
Thần thông biến hoá Tây lầu
Nguyện Bà giáng hạ sở cầu chứng tri.
Chầu Mộc Tấn, cõi Đông Ti,
Thanh y thần nữ, chứng trì đằng châu.
Điện rồng mẫu ngự nơi lầu,
Thượng nguồn, hạ bể, vọng cầu cũng thinh
Chầu Thủy Tấn, cõi Bắc Kinh,
Hắc y thần nữ, tòa chinh ngự về.
Hoa hương trà tửu đề huề,
Dâng lên từ mẫu, trương khuê đàng hoàng.
Chầu Hỏa Tấn, cõi Nam Bang,
Xích y Thần Nữ hạ đàn lai lân.
Đằng vân, giá võ, kim thần,
Bà đi độ khắp bất tuân trong đời.
Trung ương Chầu Thổ giữa trời,
Hoàng y Thần Nữ mở lời đoan trang.
Tiên Bà gian khổ không màng.
Kiếm trời than dược, cứu đàn con mang.
Năm Bà, Năm cõi, tòa vàng,
Ngũ phương, ngũ hướng, phép càng oai nghi.
Năm Bà, liễu liễu, phương phi,
Môi son, mắt phượng, nét thùy, tóc xanh.
Hình dung cốt cách ai bằng,
Thần nhan, sắc thái tựa vầng trăng minh.
Hành phong, hành vũ, oai linh,
Ai mà lầm lỗi mau trình hối ngay.
Biết ra cầu đảo đêm ngày,
Tâm thành tất ứng Năm Ngài hiển ra.
Có lòng chỉ nén hương hoa,
Không lòng lễ vật kêu mà thấu đâu.
Phép Bà, ôi nó nhiệm mầu,
Trên thời hộ quốc, dưới cầu an dân.
Xuân thu đông hạ ân cần,
Khấu đầu vọng bái chân thần Thượng Tiên.
Chúng con một dạ kiền thiền,
Ngoài nam, ra bắc, ba miền nguyện xin,
Năm Bà độ thoát tai tinh,
Năm xung, tháng hạn cứu sinh con trần
Hà sơn xã tắc xa gần,
Họa tai nước lửa chẳng gần được dân
Văn chầu thánh giáng lưu ân,
Năm bà giáng phước, Thiên ân thọ trường.
Cầu xin bà đã mọi đường,
Cúi xin chứng giám, chiêu dương hạ trần.
*CHÚ PHỤNG THỈNH 5 BÀ - CUNG THỈNH NGŨ HÀNH THÁNH MẪU NƯƠNG NƯƠNG CHƠN NGÔN:
ỐT MÔ LĂNG DA QUA TÌ CA, SI TA NA CUM BA LA SI HỀ ( 5 lần )
[ Trích từ BÙA CHÚ GIẢNG GIỚI, Nguồn: http://www.mediafire.com/download/9r...oi+182_298.pdf ]
BÀ CỐ HỶ - THÁNH ANH LA SÁT - BÀ HỎA
http://dised.danang.gov.vn/LinkClick...50%3D&tabid=61
五行娘娘
( Nguồn: http://www.fengtipoeticclub.com/tchau/tchau-a019.html )
http://cdn.sieuthitranhdep.vn/wp-con...uong-nuong.jpg
我把童年的一節記憶
遺留在某一段時間
母校旁邊的
一宅破舊不堪的
五行廟裡
刀光劍影
舞台上粉墨登場的
花旦小生
唱著比改良劇更古老的
節日神戲
煙香彌漫
鳴鼓聲與人聲交響的震盪
擾亂不了我和妳
兩小無猜已被神化的
童心
多年以後
我衹記得什麼是
金木水火土
卻忘記去追究
五行娘娘到底是什麼神?
可回憶的角落裡
總隱藏著一雙
含情脈脈的
水汪汪的大眼睛
如娘娘的溫柔凝眸下
扶帶我走過
學生的童年
2008.12.2寫於休士頑
*BÀ THỔ = HẬU THỔ NƯƠNG NƯƠNG
Ngày 18/3 âm lịch: Vía BÀ THỔ ( BÀ THỔ = HẬU THỔ NƯƠNG NƯƠNG ) theo Link: http://www.maiyeuem.net/topic/39110/...h---Suu-Tam/15
*BÀ THỦY = THỦY LONG THÁNH MẪU NƯƠNG NƯƠNG ( Có lần Điển Bà về, Bà nói ra, thì tôi mới hiểu rằng: MIẾU BÀ THỦY và MIẾU BÀ THỦY LONG; tuy 2 mà 1 vậy ! )
Ngày 21/2 âm lịch: Vía BÀ THỦY ( BÀ THỦY = THỦY LONG THÁNH MẪU NƯƠNG NƯƠNG ) theo Link: http://vanhoaphuongdong.co/threads/c...ong-nam.12075/
Theo đúng tục lệ thì lễ vía Ngũ Hành Nương Nương là vào ngày 19 tháng Ba âm lịch hằng năm
( http://www.trietvan.com/phamviethung/tucthonguhanh.htm / http://ttntt.free.fr/archive/phamngad.html )
*Theo Link: http://www.saigondautu.com.vn/pages/...ong-nuong.aspx
Bên cạnh đó, truyền thuyết kể lại rằng, những yếu tố cơ bản sinh ra vạn vật cũng đều được xem là mẹ: Mẹ Đất, Mẹ Nước, Mẹ Cây, Mẹ Trời…, vì thế mà có niềm tin trong mỗi cõi Trời, Đất, Rừng, Biển đều có 1 Vị Nữ Thần cai quản. Năm vị Tiên Nương là đại diện cho 5 yếu tố cơ bản trong Ngũ Hành: Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, cai quản càn khôn, ban phát tài lộc cho bá tánh, phạt kẻ ác tâm, độ người hiền đức. Đó là 5 Vị:
1. BÀ KIM: LÊ SƠN THÁNH MẪU ( 梨山聖母 - 驪山聖母 - 骊山圣母 - 骊山老母 )
2. BÀ MỘC: LINH SƠN THÁNH MẪU ( 灵山圣母 - 靈山聖母 )
3. BÀ THỦY: CỬU THIÊN HUYỀN NỮ ( 九天玄女 )
4. BÀ HỎA: CHÚA TIÊN CHÚA NGỌC ( 主仙主玉 )
5. BÀ THỔ: THÁNH ANH LA SÁT ( 圣婴羅刹 - 聖嬰羅刹 )
*Theo: http://adatfa.blogspot.com/2012/07/v...m-tong-bo.html
46. KINH HỘ LÊ SƠN THÁNH MẪU TRỪ TÀ:
Cấp cấp Lê Sơn Thánh Mẫu
Án: Me la hoa, me la há tri chì ri
Thiên linh linh Địa linh linh
THẦN TIÊN PHẬT THÁNH linh linh
Sát quỷ trừ ma vật lộng hình
Ám chủ ca ra da tá ha.
Tín ngưỡng đối với các vị thần độ mạng
( https://dongthap.gov.vn/wps/wcm/conn...8/than+do+mang / http://thegioivohinh.com/diendan/sho...0NG-L%C3%80-AI )
Theo đạo giáo, mỗi con người có một mạng (số mệnh). Mỗi mạng do một thần độ trì. Phải nhờ thầy cúng (trong thực tế một số nhà sư cũng làm việc này), để biết mình thuộc mạng gì và do vị thần nào phù hộ. Đàn ông thờ thần độ mạng phải theo thập can (giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, qúi), đàn bà phải theo thập nhị chi (tý, sửu, dần, mẹo, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi). Nghi thức thờ rất đơn giản, trên trang thờ chỉ có bài vị hay tranh tượng (có bán ở chợ) với bộ chân đèn, bình hoa, lọ cắm nhang, thường thắp nhang, xá mỗi tối.
a. Thần độ mạng cho đàn ông:
- Quan thánh Đế quân: Còn gọi là Quan đế, Xích đế, Quan công, Quan thánh đế... Đây là một nhân vật lịch sử Trung Quốc sanh năm 162 sau công nguyên, mất năm 219. Tranh tượng là người mặc triều phục màu xanh thẩm, mặt đỏ, râu năm chòm dài đến ngực. Phía sau có hai người; một là Quan Bình (con nuôi cùng chết với ông khi ông bị bắt) hai là Châu Xương mặt đen, tay cầm thanh long đao, một vũ khí lừng danh của Quan Công. Vía sanh cúng ngày 13-1 âm lịch, vía cử cúng ngày 24-6 âm lịch. Thờ Quan công không phải chỉ với nội dung sùng bái một võ tướng mà còn là biểu tượng của lòng chung thủy, trọng danh dự, sự dũng cảm, cương trực. Người ta tin rằng ông đã hiển thánh và hộ trì cho phái nam. Căn cứ vào tranh tượng Quan công còn nhiều danh xưng khác như Ngũ vị Quan công, Ngũ công vương Phật.
- Ngoài ra, cũng có hộ thờ Quan Bình, Tử vi Đại đế, Cậu Tài (Trài), cậu Quý
b/. Thần độ mạng cho đàn bà (bà độ mạng hay bà mẹ sanh):
- Nhóm chịu ảnh hưởng văn hoá Chăm:
+ Chúa Tiên, Chúa Ngọc nương nương; đều là nữ thần Thiên y A na Diễn Ngọc Phi tức thần mẹ xứ sở của người Chăm là Pô Inư Nưgar, được coi là thần độ mạng cho nữ giới. Tranh tượng là người đàn bà hai bên có hai nữ hầu cầm quạt, có hàng chữ Hán ghi chúa Tiên nương nương hay Chúa Ngọc nương nương.
+ Chúa Xứ nương nương: Tức bà Chúa Xứ núi Bà Đen, được triều Nguyễn phong hàm Linh Sơn Thánh mẫu. Tranh tượng vẽ một người đàn bà với bốn chữ Hán “Linh sơn Thánh mẫu”.
- Nhóm chịu ảnh hưởng văn hoá Hoa:
+ Cửu thiên huyền nữ: (như đã trình bày ở phần tổ nghề)
+ Thiên hậu thánh mẫu: Là người thuộc tỉnh Phước Kiến (Trung Quốc), được sanh ra trong một gia đình buôn bán bằng đường biển. Bà mất năm 987 khi chưa lập gia đình; sau đó hiển linh cứu sống nhiều người đi biển gặp nạn, được hoàng đế Trung Hoa phong nhiều danh hiệu, trong đó có tước Thiên hậu Thánh mẫu, thần độ mạng cho nữ giới. Tranh thờ là một người đàn bà với bốn chữ Hán “Thiên hậu Thánh mẫu”.
+ Ngũ hành nương nương: là năm vị thánh mang tên: Kim đức thánh phi, Mộc đức thánh phi, Thủy đức thánh phi, Hỏa đức thánh phi, Thổ đức thánh phi. Dân gian tin rằng năm vị có quyền năng trong các lĩnh vực liên quan đến vàng bạc, cây gỗ, nước, củi lửa và đất đai. Tranh thờ là năm bà mặc năm màu áo khác nhau: xanh, đỏ, vàng, tím, lục, bà mặc áo vàng ngồi ở giữa.
Theo quan niệm ngũ hành của Trung Quốc, hành thổ (đất) ở trung tâm (chính giữa, màu vàng); phảng phất bóng dáng quan niệm tôn thờ Mẹ đất của tâm thức tín ngưỡng cổ sơ. Ở đây dường như có sự hội tụ với tâm thức tín ngưỡng Mẹ xứ sở (Pô Inư Nưgar) của người Chăm trong tín ngưỡng thờ bà Chúa Tiên Chúa Ngọc, Chúa Xứ. Tín ngưỡng Mẹ đất hay Mẹ xứ sở, không chỉ là thần độ mạng cho nữ giới mà còn là Chủ đất với chức năng tương tự như thần Thành hoàng bổn cảnh hay ông Địa.
+ Kim hoa thánh mẫu: tức bà mẹ thai sanh, có chức năng về việc tạo ra con người của Trung Quốc, được coi là thần độ mạng cho nữ giới. Tranh thờ vẽ 12 nữ thần, tượng trưng cho 12 bà mẹ ứng với thập nhị can (12 con giáp); người hiếm con thường khấn bà để cầu tự. Tín ngưỡng thờ Kim hoa thánh mẫu còn thấy trong thần thoại Việt Nam với truyện Mười hai bà mụ.
+ Thánh anh La sát: Cũng còn gọi là bà La sát.
+ Lục cung thánh mẫu: tranh tượng vẻ hình người đàn bà mặc y phục màu đen đứng trên quả cầu.
+ Chơn y thánh mẫu: Tranh tượng vẽ hình người đàn bà mặc y phục màu đen, đứng trên toà sen có hào quang toả sáng trên đầu.
+ Bà Tổ cô: Hình thức thờ cúng giống như thờ bà độ mạng. Đây là vị gia thần riêng của gia đình, vị này thường là chị hay em gái của ông (ông nội, ông ngoại, ông chú, ông bác...) trong giòng họ, qua đời lúc còn trẻ chưa lập gia đình, thường giáng họa phúc cho con cháu trong nhà. Bài vị chỉ viết hai chữ Hán “Tổ Cô”, mỗi tối thắp nhang, thay nước cúng, hàng năm cúng lễ vào ngày đám giỗ của vị này. Ở Đồng Tháp có 15% hộ thờ Tổ Cô; cá biệt có một số hộ, bà tổ cô là liệt sĩ trong kháng chiến chống Pháp, Mỹ.
Kim Bà thì mặc áo trắng, Mộc Bà áo xanh, Hỏa Bà áo đỏ, Thủy Bà áo đen (hoặc tím) và Thổ Bà thì áo vàng.
http://www.baobinhthuan.com.vn/vi-vn....aspx?id=65476
http://www.hoalinhthoai.com/forum/showthread.php?p=735
Miếu ngủ hành Hy Hòa
Thứ hai - 17/10/2011 10:21
( http://www.hoianworldheritage.org.vn...Hy-Hoa-478.hwh )
Miếu Hy Hòa không biết xây dựng năm nào, ngay tên miếu cũng lấy theo tên gọi của phổ lập miếu: Hy Hòa, thuộc làng Minh Hương xưa. Người dân phổ này chuyên làm lịch và hàng mã.
Miếu tọa lạc tại số 6 Nguyễn Thái Học, khối An Định, Phường Minh An
Cũng như cư dân các vùng trên cả nước, cư dân Hội An xưa cũng hướng về đa thần, tin rằng trong tự nhiên có thần cai quản trong đó có nữ thần chưởng quản Ngũ hành với tên gọi là Ngũ Hành Tiên Nương. Miếu Hy Hòa thờ chư vị thần này.
Nhìn lên cổng chính tam quan miếu sẽ thấy ba chữ:
五 行 門
NGŨ HÀNH MÔN
Hai bên có hai tiểu đối:
東 成 - 西 就
ĐÔNG THÀNH - TÂY TỰU
Các cặp đối ở trụ cổng:
Thắng cảnh lâu dài thiên cổ tú
Thái bình thủy nguyệt vạn niên xuân
Mỹ lệ lâu đài ngàn thuở đẹp
Hòa Bình trăng nước vạn năm xuân
Thần nhân sở xá y nam bắc
Tiên nữ du cư tỳ cổ kim
Thần nhân thờ tự nam như bắc
Tiên Nữ độ trì xưa đến nay
Hoành phi ghi: SẮC NGŨ VÂN TƯỜNG
Gian giữa miếu thờ năm bài vị:
金 徳 仙 娘 聖 女 神 位 - Kim đức Tiên nương Thánh nữ thần vị
木 徳 仙 娘 聖 女 神 位 - Mộc đức Tiên nương Thánh nữ thần vị
水 徳 仙 娘 聖 女 神 位 - Thủy đức Tiên nương Thánh nữ thần vị
火 徳 仙 娘 聖 女 神 位 - Hỏa đức Tiên nương Thánh nữ thần vị
土 徳 仙 娘 聖 女 神 位 - Thổ đức Tiên nương Thánh nữ thần vị
Và bài vị:
明 天 依 阿 娜 主 玉 聖 女 神 位
Minh Thiên Y A Na chủ ngọc thánh nữ thần vị
(Đây là bài vị thần chủ nhưng hiện nay được an vị ở hàng bên như vị trí phối tế là chưa đúng)
Bên cạnh các bài vị trên còn phối thờ thêm hai bài vị:
奉 為 亡 祖 姑 穎 川 郡 陳 氏 之 神 位
Phụng vị vong tổ cô, Dĩnh Xuyên quận, Trần thị, chi thần vị
Bài vị phụng thờ vong hồn bà tổ cô họ Trần, quận Dĩnh Xuyên
奉 為 亡 祖 姑 蔡 氏 紅 娘 令 神 位
Phụng vị vong tổ cô, Thái Thị Hồng Nương, lệnh nữ thần vị
Bài vị phụng thờ Tổ cô, bà Thái Thị Hồng, lệnh nữ
Câu đối trụ tiền đường ghi:
Hiển hách anh linh chân thánh nữ
Chiêu chương đức hóa thị tiên nương
Hiển hách anh linh là thánh nữ
Sáng soi đạo đức chính tiên nương
Trước năm 1975 khoảng sân này bị che kín và miếu này ít được ai nhắc đến tên Hy Hòa mà chỉ đơn giản gọi là... Miếu Ông Sáo!!
Thực ra thời đó ông Sáo còn sống, do chạy tránh tên bay đạn lạc, năm Mậu Thân 1968 ông Sáo đem bầu đoàn thê tử xin trú tạm trong miếu này. Gia đình ông ở phía sau miếu, phía trước bán cơm.
Nhưng xa hơn nữa vào những năm trước 1945, miếu này là một "trường tư" dạy chữ Nho. Thầy đồ là ông Tư Cung người ở ấp Trường Lệ dưới.
Hàng ngày ông Tư đến miếu vào buổi sáng, sắp xếp dụng cụ sách vở rồi ra chợ dùng cơm trưa và "đong" một giấc, đến chiều mới dạy học.
Sách dạy chữ Nho chia làm 3 loại gồm
Sách mỗi hàng 3 chữ gọi là QUYỂN 1,
Sách mỗi hàng 4 chữ gọi là QUYỂN 2
Sách mỗi hàng 6 chữ gọi là QUYỂN 3
Quyển 1,2,3 mỗi quyển lại chia thành ba quyển nhỏ, học xong 3 quyển 1,2,3 hết 3 năm.
Mỗi năm có 3 lần thi kỳ (mỗi ba tháng) và một lần thi hội. Kiểm tra thi, thầy rút ra một quyển nhỏ rồi đọc bất kỳ hai chữ liền kề, trò phải đọc tiếp cho đến hết quyển.
Ông Hồ Viết, tên tự, do thầy đặt, là Hồ Xuân Quang còn có tục danh là Ký. Ảnh chụp trong một lần điền dã tìm mộ bà thứ phi ở Cẩm Thanh năm 2010.
Chú Ký từng theo học với thầy Tư Cung tại miếu Hy Hòa từ trước năm 1945. Gần 5 năm dùi mài mới nuốt xong ba quyển lớn. Sau đó "quẳng bút lông đi, viết bút chì" được một năm thì Nhật đảo chính.
Chú Ký kể, thời đó tui còn nhỏ chưa biết cái vinh dự "Võng anh đi trước, kiệu nàng theo sau", chỉ mơ học giỏi thành ông Tú.
Hãnh diện lắm, thời đó mà "Ông Tú về làng y như... Thành Hoàng về miễu".
Miễu và lễ hội cúng bà
Theo tài liệu khảo sát năm 1997, ở Đồng Nai có 198 miễu các loại; như vậy, miễu đa dạng và số lượng nhiều hơn đình. Đình gắn với cộng đồng làng thì miễu gắn với đình, chùa, cụm dân cư, vườn nhà của gia đình, hương lộ, hương thôn; nhân vật chính là mẫu.
Những năm 1960, Lương Văn Lựu ghi nhận: “Ngoài đình làng: Nhân dân trong ấp thường dựng lên những “Thổ Chủ” (miễu nhỏ), dưới cội đa hoặc cây to bóng mát, trên đường vắng, hay trong góc vườn để thờ Thổ Địa hay bà Chúa Tiên, Chúa Xứ, Liễu Hạnh và tùy theo ngày kỷ niệm của mỗi vị mà hành cúng hàng năm một cách thành kính” (1). Xét về hình thức, miễu ở Đồng Nai có mấy dạng chính:
- Miễu độc lập ở làng xã: Gắn với cụm dân cư trong làng ấp. Quy mô hơn các dạng miễu khác, thờ “thánh thần”, những làng, xã chưa có đình đều có lập miễu; dạng miễu này như là tiền thân của cái đình.
- Miễu ở đình, chùa: Là những miễu nhỏ ở khuôn viên đình, chùa; thường ở phía trước, thờ các vị Thổ thần, Sơn thần (thần Hổ), Thánh mẫu, Chiến sĩ trận vong.
- Miễu ở đất vườn: Gắn với các khu đất vườn, đất rẫy, đất ruộng của gia đình, thường thờ Bà và thần Đất; người địa phương còn gọi là Thổ Chủ.
- Miễu lẻ ven đường: Miễu do bá tánh lập lên ở ven đường, ven sông, hoặc dưới bóng cây, gò đất cảm thấy là linh thiêng thờ Thổ thần hoặc cô hồn không nơi nương tựa. Đa phần là miễu cô hồn.
Xét về đối tượng thờ cúng, nhận thấy thần điện của miễu đa tạp hơn đình, chùa. Có thể phân thành các dạng chính :
- Thờ vong hồn linh ứng: Những người chết “bất đắc kỳ tử” đều được tin là linh ứng, thường được thờ. Trong đó, các anh hùng, liệt sĩ hữu danh hoặc vô danh, có công hoặc có nhân cách cao được người địa phương thờ trang trọng nhất (như miễu Bình Hòa lập từ 1837 thờ 7 vị công thần chết trận trong binh biến Lê Văn Khôi, miễu cô hồn ở Dốc Sỏi (Bình Hòa) thờ 9 nghĩa sĩ trại Lâm Trung chống Pháp bị hành quyết...).
- Thờ các phúc thần: Thần Hổ, Rái Cá, Mãng Xà vương... là những linh vật giáng họa nhưng cũng được thờ ở đình miễu và được đãi lễ như là phúc thần, dạng này không nhiều, có sự tích hợp nhiều yếu tố, như miễu thờ Rái Cá ở Hòa Quới (Cù Lao Phố), đã hội nhập vào bàn thờ Lang lại đại tướng quân, miễu thờ rắn (Mãng xà vương) ở Mỹ Lộc (Tân Uyên) đã đổi dạng thành thờ Ngũ Hành; miễu thờ thần Hổ thì còn ít nhiều ở các đình, các làng còn đậm nét vùng sơn cước. Phổ biến là các miễu thờ thần Đất dưới dạng Thổ Chủ, Thổ thần hoặc Ông Tà.
- Thánh mẫu: Đa phần miễu ở làng, ấp cũng như ở đình đều có thờ Thánh mẫu, người địa phương quen gọi là thờ Bà. Các Thánh mẫu đã thâm nhập sâu vào đình, chùa, gia đình; lại chiếm lĩnh hầu hết thần điện của các miễu, chứng tỏ tín ngưỡng thờ nữ thần “sâu rễ bền gốc” trong tâm linh của cư dân Việt ở Đồng Nai.
Tục thờ cúng nữ thần gắn liền với cư dân Việt ở Đồng Nai từ buổi đầu mở đất, đồng hành với quá trình phát triển của xã hội, có sự tích hợp nguồn gốc nhập cư và nguồn gốc bản địa; có sự phát triển từ rời rạc vươn lên mang tính “đạo thờ mẫu” rồi lại địa phương hóa các mẫu được phụng thờ. Ở đầu thế kỷ XIX, Trịnh Hoài Đức đã chú ý đến đặc điểm này của đất Gia Định - Đồng Nai “...Nhiều người trung dõng khí tiết, trọng nghĩa khinh tài, dù hàng phụ nữ cũng thế, có nhiều giai nhân mỹ nữ, mà trong hạng người giàu sang, trường thọ khôn khéo cũng có xuất hiện tên tuổi của giới phụ nữ. Họ hay chuộng đạo Phật, tin việc đồng bóng, kính trọng nữ thần, như: Bà Chúa Ngọc, bà Chúa Động (quen gọi người phụ nhân tôn quý bằng bà), bà Hỏa tinh, bà Thủy Long, và Cô Hồng, Cô Hạnh... “ (1).
Khảo sát miễu Bà ở Đồng Nai, Bà được thờ là một tập hợp các nữ thần có nguồn gốc và “lý lịch” khác nhau, được thờ cúng ở miễu tùy theo tâm niệm của mỗi nơi:
- Bà Âu Cơ: Bà mẹ “thủy tổ” của dân tộc, theo cư dân Việt vào Đồng Nai khá muộn, được lập miễu thờ vọng gắn với thờ Quốc tổ ở vùng đất mới khai phá sau 1954, thờ cúng đơn giản, lễ cúng chính vào ngày 10 - 3 âm lịch.
- Bà Ngũ Hành: Được thờ phổ biến nhất, đó là 5 vị nữ thần ứng với: Kim Đức Thánh phi, Mộc Đức thánh phi, Thủy Đức thánh phi, Hỏa Đức thánh phi, Thổ Đức thánh phi. Năm bà Ngũ Hành chỉ là ý niệm chung về các vị nữ thần có thiên chức phù trợ cho việc sản sinh và phát triển; không có thần tích cụ thể; ngày vía chính là 5 - 5 âm lịch. Ở những vùng nhiều hỏa hoạn, đông người Hoa, nhiều khi Bà Hỏa (Hỏa Đức thánh phi) được thờ riêng một miễu.
- Liễu Hạnh Công chúa: Nữ thần quen thuộc của cư dân Việt ở đồng bằng Bắc bộ, một thành viên trong Tứ Phủ được thờ ở miễu Bà dưới chân núi Gia Lào (thuộc địa bàn huyện Xuân Lộc), được cúng vía vào ngày rằm tháng 3 âm lịch.
- Bà Chúa Thượng ngàn: Một nữ thần của cư dân đồng bằng Bắc bộ, của Tam Tòa, Tứ Phủ theo cư dân Việt vào Đồng Nai khá sớm, còn dấu vết được thờ ở nhiều nơi, dần dần bị lẩn khuất trong hào quang của các Bà Ngũ Hành, chỉ còn rải rác một vài miễu thờ, như miễu thờ trong khuôn viên đình Thành Hưng (Biên Hòa). Bà được phối hưởng trong lễ cúng đình, không còn cúng ngày vía riêng.
- Chúa Ngọc nương nương, Chúa Tiên nương nương: Là biến thể của Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi, mẹ xứ sở Po Inư Nagar của người Chăm; vừa được xem là thần độ mạng cho phụ nữ tại gia, vừa là thần nữ phù trợ cho cộng đồng. Lệ cúng vào ngày 3 tháng 3 (âm lịch) và các ngày rằm lớn.
- Chúa Xứ nương nương, Linh sơn Thánh mẫu: Cũng cùng một gốc với Chúa Ngọc, Chúa Tiên nhưng có trú sở, lai lịch và thần tích riêng. Chúa Xứ được giải thích có nguồn gốc ở Châu Đốc, điện thờ chính ở Núi Sam (Châu Đốc, An Giang). Linh Sơn Thánh mẫu cũng vậy, tục gọi là Bà Đen, điện thờ chính ở núi Bà Đen (Tây Ninh).
- Thiên Hậu Thánh mẫu: Có nơi còn thờ với tự hiệu là Thiên Phi nương nương (như miễu ở đình An Hòa). Đây là vị nữ thần của người Hoa, họ Lâm gốc Phúc Kiến, được người Hoa đưa vào Nam bộ, hòa nhập với thần thánh địa phương trở thành một trong những vị thần bản địa. Vía Bà Thiên hậu ngày 23 - 3 âm lịch.
- Cửu Thiên Huyền Nữ: Vị thần mang ý niệm chung, người ta tin rằng Bà là nữ thần quyền uy tối cao, cai quản cả chín tầng trời. Cửu Thiên Huyền Nữ là vị thần độ mạng phụ nữ, đồng thời là vị thần khai sáng, dạy cho con người biết làm nhà hai mái, biết làm mộc, đóng thuyền; Lộ Ban, Lộ Bốc, thờ Bà làm thầy. Bà được thờ trong miễu khắp nơi, vía Bà ngày 9 - 9 trùng với ngày Cửu Trùng của người Hoa.
- Mẹ Thai sanh: Nguồn gốc là Kim Hoa Thánh mẫu của người Hoa, vị thần trông nom về việc sinh nở. Người Đồng Nai thờ Mẹ Thai sanh với quan niệm là “mười hai Mụ Bà và ba Đức Thầy”.
- Thủy Long Thần nữ: Gốc là một thần giếng, dần dần được quan niệm là một thần cai quản sông nước, gọi chung là bà Thủy. Trong quan niệm dân gian hiện nay, bà Thủy bao hàm cả chức phận của Hà Bá và có thể cũng là Thủy Đức Thánh phi trong bộ Ngũ Hành, cho nên ngày vía cũng là ngày 5 - 5 âm lịch.
- Quan Âm Bồ tát: Vừa là Phật bà vừa là thần nữ. Người địa phương quan niệm Quan Âm có họ hàng với các nữ thần, cùng chức năng cứu khổ, cứu nạn nhất là cứu nạn trên biển. Cho nên, Quan Âm được kéo ra khỏi chùa, gắn với các miễu, nhiều khi cũng được cúng đồ mặn như các nữ thần khác hoặc phối tự ở các miễu lẻ.
- Các nữ thần bổn địa: Vừa dung nạp những vị nữ thần nhập cư, người Biên Hòa - Đồng Nai vừa có xu hướng gởi gấm niềm tin của mình ở những nữ thần tuy không giàu thần tích nhưng gắn bó với mảnh đất mình đang sinh sống. Thị Vãi, một thôn nữ có tính cách khác thường, giàu lòng thương người được người địa phương yêu mến lập miễu thờ, và tên miễu gắn liền với tên núi ở Long Thành - Bà Rịa. Cô bóng Hiên chuyên việc bói toán nhưng thực lòng, khẳng khái, được người địa phương tin phục, lập miễu thờ ở Thiện Tân (Vĩnh Cửu), Ngày vía Cô 15 tháng 2 âm lịch. Cô Lê Thị Hồng, một trinh nữ chết trôi có tấm lòng yêu đất yêu biển Long Hải được ngư dân Long Hải thờ phụng ở Dinh Cô. Vía cô ngày 10 tháng 12 âm lịch.
Trịnh Hoài Đức có nhắc đến Cô Hồng, Cô Các trong Gia Định Thành thông chí, nhưng kết quả điền dã chưa tìm được cơ sở thờ cúng các cô này ở Đồng Nai, chỉ thấy có tên gọi trong văn cúng.
Việc bài trí điện thờ hết sức đơn giản, gồm bát nhang, bình bông, chén nước, chân đèn; những ngày cúng thì: Nước trong, bông tươi, nhang thơm, đèn sáng; lễ vật cúng có thêm bánh, trái, xôi, chè, thịt, thường là thịt vịt hoặc heo thu gọn thành thủ vĩ. Nhiều nơi vật thờ còn có thêm: gương, lược, trâm cài, quạt và một vài món trang sức khác của nữ giới. Những miễu độc lập thường có thêm Tả ban, Hữu ban; Nhị vị công tử, Nhị vị công nương, Cậu Chài, Cậu Quới. Có miễu đầy đủ bàn thờ chư vị như: Tiên sư, Thành Hoàng, thần Hổ, thần Nông, Chúa Tiên, Quan Âm Bồ tát như miễu Ngũ Hành ở Cái Vạn (huyện Nhơn Trạch). Vì là thờ nữ thần cho nên, án thờ dù nhỏ vẫn thường được trang hoàng sặc sỡ, có lọng che, rèm phủ. Câu đối xuất hiện nhiều nhất ở miếu Bà:
Vạn cổ đào hoa chiêu Thánh nữ
Thiên thu vân tập hội Thần tiên.
Về tượng thờ các Bà, trước kia rất ít miễu có cốt tượng, thường thờ đơn giản bằng chữ Hán vẽ trên tường hay dán trong khám thờ như: Ngũ Hành nương nương, Chúa Ngọc nương nương, Chúa Xứ nương nương; gần đây phát triển thờ cốt tượng bằng thạch cao, xi măng, gốm hoặc vẽ tranh lồng kiếng với lối sản xuất “hàng loạt” cho nên các Bà đều đồng dạng, trang phục lộng lẫy như nhau, chỉ khác ở tên gọi dành cho Bà này hay Bà kia. Riêng Bà Ngũ Hành là dễ nhận ra nhất với bộ cốt tượng đủ 5 Bà trong 5 sắc áo khác nhau: Xanh, đỏ, tím, vàng, lục với quan niệm cổ truyền rằng hành thổ màu vàng là trung tâm nên ngồi giữa.
Lễ hội cúng Bà ở mỗi miễu một khác, tùy vào ngày vía của mỗi Bà. Những ngày sóc, vọng, ngày Tết, ngày vía đất, các miễu Bà được mở cửa cúng một lễ nhỏ bằng nhang, đèn, bông, bánh trái. Ngày vía mới là lễ chính. Có nơi cúng thường niên như nhau, có nơi đáo lệ 2, 3 năm một lần. Lễ cúng vía Bà thường vào ban đêm (thuộc âm), do Ban tế tự của làng đứng cúng hoặc có khi do tổ chức Hội mẫu ở địa phương làm chủ lễ. Miễu thuộc hệ dân dã nên nghi thức cúng Bà không đóng khung theo khuôn phép điển lệ; cởi mở, sinh động hơn cúng đình. Tuy nhiên, nhiều địa phương vẫn áp dụng nghi thức cúng đình trong cúng miễu.
Lễ vật cúng đơn giản không nhất thiết phải heo sống, heo đen, xôi tinh khiết, cũng không nhiều kiêng kỵ như cúng đình; bình thường thì: Heo quay, heo luộc, mâm xôi, đèn nhang, vàng bạc, bánh trái; có thể cúng vịt; nghèo hơn thì cúng gà, xôi chè, heo thu gọn thành thủ vĩ, vịt quay... nói chung là tùy tâm, tùy sức. Dân làng thành tâm dâng cúng hoa, mâm vàng bạc, đồ trang sức.. đều được miễn là lòng thành.
Đêm trước ngày vía, có nơi đáo lệ hai ba năm hoặc năm năm một lần tiến hành lễ thay áo cho Bà như lễ mộc dục phổ biến. Khi tiến hành lễ này, Chánh bái, Bồi tế lên nhang đèn khấn vái xin phép Bà, rồi lui ra. Các phụ nữ “sạch mình” đã chuẩn bị sẵn nước thơm (nước lá sả, hương nhu, bông bưởi), dùng khăn sạch nhúng nước thơm lau khắp các tượng bà; khăn lau xong, vắt trả nước ra thau khác, cứ như thế cho đến khi sạch rồi thay cho Bà áo mới, áo cũ và khăn lau không được dùng việc khác, sau phải đốt.
Một số miễu lại có tục nghênh Ông ở đình về dự trước khi hành lễ chính; nghênh Ông bằng kiệu có lỗ bộ, dàn nhạc, Lễ sinh và Chánh tế, Bồi tế đi hầu. Lễ đón ở đình, lễ xong phải đưa về. Riêng lễ hội chùa Bà Thiên Hậu ở Thủ Dầu Một và ở Bửu Long thì thực hiện theo nghi thức của Đạo giáo, với nhiều nghi thức phức tạp; có đám rước Bà đi thăm Đình trước ngày lễ chính, có lễ phóng đăng, cúng thí, hát bội, đặc biệt có lễ bắc cầu ngầm ý đón Bà từ biển vào. Lễ bắc cầu vào lúc 0 giờ, đêm đầu tiên của lễ hội. Cầu là một tấm vải đỏ rộng khoảng 0,6 mét, nối dài từ hương án bên ngoài sân vào chính điện. Cách khoảng 15 mét; trên tấm cầu đỏ rắc đầy hoa giấy, vàng bạc. Ba vị Pháp sư tụng kinh cầu đón, lúc ngồi ở bàn lễ, lúc đi vòng quanh như đón Bà; Khi Bà đã vào chính điện thì “cầu” được cuốn lại trân trọng để trước án thờ. Lễ cúng Bà dịp tháng 3 năm 1995 ở chùa Thiên Hậu (Bửu Long), là lễ hội kéo dài 3 ngày do các Pháp sư chuyên nghiệp cùng với dàn nhạc lễ chuyên trách thực hiện với một hệ thống tiết mục nghi lễ nhiều đến mức đa tạp. Lễ cúng Bà Thiên Hậu như đã nêu là một hiện tượng riêng biệt, đáng suy nghĩ. Thông thường ở các miễu khác nghi thức hành lễ giản dị; dân dã hơn. Dự phần vào lễ hội cúng Bà phổ biến là Hát bóng rỗi, Chặp Địa - Nàng; một loại hình nghệ thuật truyền thống phổ biến ở Biên Hòa - Đồng Nai.
Hát bóng rỗi, Chặp Địa - Nàng vừa mang tính nghi lễ (để cúng) vừa để giải trí, vui chơi trong lễ hội; đó là hình thức diễn xướng tổng hợp, gồm nhiều tiết mục liên hoàn; đồng thời cũng có thể phân chia thành các tổ hợp tiết mục tùy chọn. Một chương trình đầy đủ của Hát bóng rỗi, Chặp Địa - Nàng, gồm 8 tiết mục chính, trong đó mỗi tiết mục có thể phân nhỏ, hoặc kéo dài nội dung sinh hoạt. Tiến trình của các tiết mục cũng có thể thay đổi thứ tự hoặc cấu thành nhiều chương trình khác nhau: 1. Lễ khai tràng, 2. Chầu mời - thỉnh tổ, 3. Mời tiên ra tuồng; 4. Phước lộc, 5. Trạng - Nàng xuống huê viên, 6, 7. Bóng múa, 8. Hát chặp.
Hát bóng rỗi, Địa - Nàng ở Đồng Nai thường gồm các tiết mục: 1. Khai tràng, 2. Chầu mời - thỉnh tổ, 3. Chặp Địa - Nàng, 4. Hát bóng rỗi.
Mở đầu cuộc hát luôn là Lễ Khai tràng nhằm mục đích khai mạc cuộc hát, do dàn nhạc bóng biểu diễn, gồm: Chiêng, trống, đàn nhị, kèn, sanh cái. Tiếp theo là các xấp hát Chầu mời - thỉnh tổ: Mời Bà, mời ông, mời tiên, mời các chiến sĩ về dự lễ; mỗi đối tượng có các bài hát phù hợp, các bóng có trí nhớ tốt và tài ứng tác nhanh, không cần hát hay cũng được tán thưởng. Thường thì các bóng cầm trống tum (trống con) gõ nhịp, thay nhau hát. Điệu hát vận dụng cả lý, vè, nói rỗi (nói lối) nhiều khi cả các làn điệu tuồng.
Sau Hát chầu là diễn Chặp Địa - Nàng. Chặp Địa - Nàng là chặp bóng - tuồng hài hước “tổng hợp kiểu cách diễn của bóng rỗi lẫn tuồng (hát bội)” thường gắn với lễ cúng miễu Bà hoặc miễu Thổ Địa. Cuộc hát chỉ có hai nhân vật (Địa và Nàng) theo cốt truyện đơn giản: Tiên nữ Hằng Nga vâng lệnh Tây Vương mẫu xuống trần để hái lộc cầu an cho dân chúng, nhờ Thổ Địa (Địa) dẫn đi đến huê viên để “khai mạch giếng tưới cây huê”. Địa được dịp làm khó, vòi vĩnh, đùa giỡn với tiên nữ. Lối diễn vừa theo bài bản vừa ứng tác; hát, nói, kể kết hợp với nhạc và vũ đạo tuồng; các bài hát chắt lọc từ tuồng và các làn điệu dân ca quen thuộc; hóa trang cũng theo phong cách tuồng hài...; ứng đối giữa Địa và Nàng vui nhộn, dẫn dắt câu chuyện tài tình khiến cho cốt truyện đơn giản trở nên thú vị. Các đoạn: Địa đòi ăn, Địa đau đẻ, Địa chấm chè.. làm nở rộ tiếng cười sảng khoái. Tính cách của Địa không chỉ vui vẻ, còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Với một manh chiếu trước điện Bà, xung quanh là dân làng không phân thứ bậc, Địa bộc lộ hết mình, đùa giỡn với Tiên nữ, châm biếm cả chư Tiên, chư Phật; Địa còn mang ý nghĩa đại diện cho khát vọng thịnh vượng, bình đẳng, có tính nhân bản của dân làng. Chặp Địa - Nàng vừa dứt, bóng múa liền tiếp theo.
Bóng múa vừa mang tính nghi lễ vừa nhằm mục đích giải trí. Các bóng thay nhau múa bông, múa dâng mâm vàng rồi tiếp theo là các tiết mục tạp kỹ. Múa bông nhằm dâng cúng bông như để mở đầu cuộc múa bóng; với chén (hoặc tô) bông trên đầu, các bóng múa xoay người, xoay vòng trước điện thờ rồi dừng để cho người thủ từ nâng chén bông đặt lên bàn thờ Bà. Dâng bông 3 lần rồi đến dâng mâm vàng. Chiếc mâm được trang trí bằng giấy ngũ sắc thành hình tháp (có lẽ mô phỏng tháp Chàm). Mâm vàng được đội đầu, nâng, lật trên tay; trên trán, tự nhích từ chân lên đầu; cuối cùng được đốt cháy. Tháp giấy trên mâm cháy xong là dứt múa dâng mâm vàng, các bóng (vốn ái nam ái nữ) chuyển sang các màn trình diễn đặc sắc, với tài nghệ tạp kỹ như xiếc: Múa ghế, múa khạp da bò, múa bông huệ, múa xe đạp, múa dao, múa xoay đĩa, rót rượu bằng đầu... chủ yếu là các kỹ thuật dùng đầu, trán, mũi, nhân trung nâng giữ vật nặng, vật phức tạp tạo thăng bằng và di chuyển trong vũ điệu theo nhạc lúc mau lúc chậm.
Với cách biểu diễn như thế, dễ dàng nhận ra nguồn gốc Chăm của múa bóng với vũ điệu dựa vào kỹ năng đội đầu. Điều này đã được Huỳnh Ngọc Trảng chứng minh qua phim tài liệu “Múa mâm vàng, cội nguồn và dung mạo” do Hãng phim Tư liệu sản xuất năm 1992. Trước đó nữa, Quách Tấn đã chỉ ra được lò đào tạo các bóng múa là xóm Bóng ở trước Tháp Bà, “nhưng lệ múa bóng ngày vía Bà đã bỏ từ thời Bảo Đại, trước đệ nhị thế chiến“.
Người Nam bộ thường có câu hát luyến tiếc:
Ai về xóm Bóng thăm nhà
Hỏi xem điệu múa dâng Bà còn không?
Các tiết mục múa trò chơi, gọi là múa tạp kỹ dài - ngắn, nhiều - ít tùy theo không khí cuộc vui; dân làng thưởng nhiều thì sự hào hứng khiến các bóng múa hay, khéo, tận tình hơn, và ngược lại.
Các nữ thần được thờ tại miễu ở Đồng Nai phần lớn có nguồn gốc nữ thần biển, đánh dấu một hồi ức gắn với chặng đường gian lao hình thành các cộng đồng cư dân Việt ở Đồng Nai. Với một tập hợp nữ thần phức hệ như thế, Đồng Nai như là điểm hội tụ đồng thời cũng là nơi khuếch tán các hệ tín ngưỡng thờ nữ thần của miền Bắc, miền Trung, miền Tây, người Hoa và bổn địa. Tục thờ cúng nữ thần cũng cho thấy, cư dân Việt ở địa phương ít nhất cũng tìm được biểu tượng có ý nghĩa nhân bản hơn tư tưởng Nho giáo vốn xem thường phụ nữ.
Tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc bản địa có nhiều nét khác cư dân Việt, Hoa. Người Châu Mạ thờ thần Yang Nđu tối cao, cúng Yang Bri (thần rừng) vào mùa săn bắn; cúng Yang Hiu (thần nhà) cầu cho gia đình bình yên; quan trọng nhất là lễ cúng Yang Bơnơm (thần núi) và Yang Koi (thần lúa) với sinh hoạt cổ truyền của cộng đồng. Người Mạ không coi trọng trinh tiết, trai gái Mạ tự do tìm hiểu kết bạn, con cô con cậu có thể kết hôn; đám hỏi, đám cưới có già làng làm mai dong; sau cưới chú rể ở bên nhà gái sau đó mới ra riêng; luật tục truyền khẩu "nđrih" được thực hiện nghiêm, tội ngoại tình, chửa hoang bị phạt nặng. Khi có người chết, người làng làm lễ cúng Yang Bri xin cây đục làm hòm; hòm đưa vào nhà dài qua cửa lớn; xưa để lâu ngày mới chôn, người chết được chia của; thầy chang cúng tế theo nghi thức cổ, làng có đám tang kiêng cữ đi rừng 7 ngày; sau ba năm có lễ bỏ mả như phong tục các dân tộc Tây Nguyên.
Người Stiêng, Châu Ro có tập quán, tín ngưỡng tương tự người Châu Mạ, khác nhau ở tiểu tiết và tiếng nói, giống nhau ở quan niệm cổ truyền của cư dân cùng địa bàn cư trú Nam Trường Sơn.
(1) Biên Hòa sử lược, sách đã dẫn, trang 149.
(1) Gia Định Thành thông chí, sách đã dẫn, trang 4.
( http://dongnai.vncgarden.com/dhia-ch...g-xa-hoi/1-4-2 )
100 QUẺ XÂM BÀ
***
聖母靈籤100簽
http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=6561.0
xăm BÀ THIÊN HẬU
http://quachtrantuong.forumotion.com...m-ba-thien-hau
xăm BÀ THIÊN HẬU
http://quachtrantuong.forumotion.com...m-ba-thien-hau
【普傳太上道祖(老子、道德天尊( 清)、太上老君)心咒 】
二零一六年十二月三十一日 香港
普傳《太上道祖(老子、道德天尊( 清)、太上老君)心咒》
不肖三密佛子啤嘛榮遷埵智(蓮花尊 金剛)依師承訣竅敬謹撰造
此法乃由來自藏地、在華夏普傳無上 乘之「金剛上師諾那呼圖克圖」所傳
以下為祂對此法所作之開示:
「問:太上老君是否佛菩薩之化身?
答:太上老君是千手觀世音菩薩之化 。」
(手印暫不普傳)
種子字:「些」(seh)藏文(白色)
太上道祖心咒(摘一持誦則可):
A. 嗡,些,嘛哈咕嚕,呢喇嘛那加吔, 耳,沙嚕娃,司啲,吽吽,呸
Om,Seh,Maha Guru,Nira mana gaya,李耳,Saruwa,Sidi,Hum,Hum,Pei
B. 嗡,些,啤渣打喇嘛,呢喇嘛那加吔 李耳,沙嚕娃,司啲,吽吽,呸
Om,Seh,beh ja dara ma,Nira mana gaya,李耳,Saruwa,Sidi,Hum,Hum,Pei
https://www.mercyandwisdom.com/copy-of-5
二零一六年七月十八日 香港
普傳《至聖先師孔子誦修簡儀》
不肖三密佛子啤嘛榮遷埵智(蓮花尊 金剛)依師承訣竅敬謹撰造
此法乃由來自藏地,在華夏普傳佛門 上密乘之[金剛上師諾那呼圖克圖]所傳
以下為祂對此法所作之開示:
問:孔夫子是否佛菩薩之化身?
答:當然是佛菩薩化身。
問:孔夫子是何佛菩薩之化身?
答:孔夫子是文殊菩薩之化身。文殊 薩早已成佛,亦即是諸佛菩薩之化身 因漢(華夏)人均信仰孔夫子,故康 藏人稱漢(華夏)人是文殊菩薩的弟 ,對漢人有相當尊敬。
問:孔夫子是聖人,不知有無咒語?
答:有咒語,孔夫子之咒語有消滅年 日時分一切不祥災晦與百無禁忌功德
《至聖先師孔子誦修簡儀》
(一)淸淨端嚴身心,準備修法
誦三字明咒7/14/21遍,加持自身,修法處所及供品(若 有)
嗡,鴉,吽
Om, Ah, Hum
(二)將右手大拇指屈入掌中,至右 無名指末節,然後握拳,此乃金剛拳 (道教稱為[握固印])
誦文殊菩薩護身咒七遍
嗡,司廉(两字連音讀),吽
Om, Silim, Hum
接着以金剛拳印觸碰額頭,喉嚨,心 ,右肩,左肩(依此順序),然後在 頭將手印散開
(三)合掌至誠念誦如下:
那摩十方三世常住一切上師三寶
(三稱,亦即[念三遍],下同)
那摩大智文殊師利菩薩摩訶薩(一稱 [訶]字讀[呵])
那摩至聖先師孔子(三稱)
那摩金剛上師諾那呼圖克圖(一稱)
那摩蓮花龍尊黄公念祖金剛上師(一 )
我與無餘眾有情,直證菩提永皈依
仰懇時刻垂護念,自覺覺他祈加持
(三稱)
(四)雙手結文殊菩蕯慧劍印
(務請參考手印圖,結法為[雙手各指作外相叉,唯竪兩中指,曲 節指頭相觸合,如劍尖狀,印置胸前])
手印結妥,隨作以下觀想:
A . 首先觀想自己身處於萬里無雲晴空之
B . 接着觀想至聖先師孔子安住在您對面 空上方,而黄文殊菩薩則安住在至聖 師孔子之頂上(有關祂們的形姿,務 請參考本儀軌所附之法相)
C. 然後觀想在至聖先師孔子之心間,有 個金黄色藏文種子字[啲](di,務請參考本儀軌所附之藏文種子 字),放出極為強烈的金黄色光,光 您頂門而入,將自己一切惡業罪障, 病魔崇,痛苦煩惱,負面情緒,災厄 劫煞等皆化為黒氣,從全身的毛細孔 出體外,在大氣中蒸發消失,您遂渾 通透淨徹,心得安樂自在
(五)當以上種種,您都已經觀想無 後,便可將手印在額頭散開,接着去 念珠,持誦至聖先師孔子心咒108遍或 以上(有時間能多念更好,但,最少 念108遍,務請注意![孔夫子]三字,以[廣東話](粤語)發音則可)
嗡,鴉,嘛哈咕嚕,曼祖司哩,呢喇 那加吔,孔夫子,沙嚕娃,司啲,吽 ,呸
Om,Ah,Maha Guru,Manju siri,Nira mana gaya,孔夫子,Saruwa,Sidi,Hum,Hum,Pei
(六)讚願偈(合掌念一遍)
大智文殊垂眷念
下生華夏挽倒顛
明傳人倫伏古道
皈命至聖蓮足前
唯盼先師賜加持
願我濁世作清流
匡扶正義悲智運
苦海誓作度人舟
(七)合掌迴向(以下言辭,僅供大 參考)
弟子(自己姓名或法名)今謹以此持 至聖先師孔子心咒之殊妙功德,至誠 伸迴向:
祈願那摩至聖先師孔子,慈光注照, 願攝受,令使弟子(自己姓名或法名 身心康健,消宿現業,增諸福慧,息 災除障,圓成善根,道心不退,現眷 樂,先亡超昇
願我與一切眾生,悉皆速疾共證真常 樂
(後可再加自己個人之祈願)
至此修法圓滿,吉祥如意
【鄭重補充説明】
(1)此《至聖先師孔子誦修簡儀》之 言、手印與觀想,乃殊勝不共傳承, 倘非皈依弟子,本不輕授,今姑大開 便,望盼大家勿作等閒
(2)此儀軌看似簡單,不若藏密、東 、唐密儀軌之繁廣,但,實際上却是[麻雀雖小,五臟俱全],大家修之以恒,自能心領神會
(3)手印若在平常非修法場合,千萬 要隨便亂結,形同兒戲,又,所有手 印切記必須在額頭散開,因為所有手 在散開時會有光放出,若不在額頭散 ,其放出之光便會傷害那些[無形眾生](是故東密,唐密之修行人在結手印 ,會以淨布或袈裟遮蓋,我們不必如 ,但請務必慎重,如法行持)
又,結手印前應洗淨雙手
(4)通常若要能充分發揮咒力,需起 持誦滿一[洛叉](即十萬遍,越多越好),但,倘能 懷無偽之深信切願,即使未滿遍數, 必得蒙加持。
(5)手印圖已備妥,歡迎需要的同修 同道或朋友以臉書私訊(PM)向本群 管理員索要,咒音和法本PDF檔案可從 本群組專頁下載
咒音檔案:待傳。
大家最近是不是收不到新法和帖文了
建立悲智法施專頁,旨在方便同修。 免同修錯過悲智法施所傳的每個新法 盼請各位將本專頁,在「已讚好(Liked )」一欄,設定為「搶先看(see first)」或開啟「接受通知(Get notification)」選項。另: 有些電話是沒法設定以上選項的,那 要麻煩各同修用電腦處理了
https://www.facebook.com/mercyandwis...2%3A%22R%22%7D
【 至聖先師孔子誦修簡儀 】
二零一六年七月十八日 香港
普傳《至聖先師孔子誦修簡儀》
不肖三密佛子啤嘛榮遷埵智(蓮花尊 金剛)依師承訣竅敬謹撰造
此法乃由來自藏地,在華夏普傳佛門 上密乘之[金剛上師諾那呼圖克圖]所傳
以下為祂對此法所作之開示:
問:孔夫子是否佛菩薩之化身?
答:當然是佛菩薩化身。
問:孔夫子是何佛菩薩之化身?
答:孔夫子是文殊菩薩之化身。文殊 薩早已成佛,亦即是諸佛菩薩之化身 因漢(華夏)人均信仰孔夫子,故康 藏人稱漢(華夏)人是文殊菩薩的弟 ,對漢人有相當尊敬。
問:孔夫子是聖人,不知有無咒語?
答:有咒語,孔夫子之咒語有消滅年 日時分一切不祥災晦與百無禁忌功德
《至聖先師孔子誦修簡儀》
(一)淸淨端嚴身心,準備修法
誦三字明咒7/14/21遍,加持自身,修法處所及供品(若 有)
嗡,鴉,吽
Om, Ah, Hum
(二)將右手大拇指屈入掌中,至右 無名指末節,然後握拳,此乃金剛拳 (道教稱為[握固印])
誦文殊菩薩護身咒七遍
嗡,司廉(两字連音讀),吽
Om, Silim, Hum
接着以金剛拳印觸碰額頭,喉嚨,心 ,右肩,左肩(依此順序),然後在 頭將手印散開
(三)合掌至誠念誦如下:
那摩十方三世常住一切上師三寶(三 ,亦即[念三遍],下同)
那摩大智文殊師利菩薩摩訶薩(一稱 [訶]字讀[呵])
那摩至聖先師孔子(三稱)
那摩金剛上師諾那呼圖克圖(一稱)
那摩蓮花龍尊黄公念祖金剛上師(一 )
我與無餘眾有情,直證菩提永皈依
仰懇時刻垂護念,自覺覺他祈加持( 稱)
(四)雙手結文殊菩蕯慧劍印
(務請參考手印圖,結法為[雙手各指作外相叉,唯竪兩中指,曲 節指頭相觸合,如劍尖狀,印置胸前])
手印結妥,隨作以下觀想:
A . 首先觀想自己身處於萬里無雲晴空之
B . 接着觀想至聖先師孔子安住在您對面 空上方,而黄文殊菩薩則安住在至聖 師孔子之頂上(有關祂們的形姿,務 請參考本儀軌所附之法相)
C. 然後觀想在至聖先師孔子之心間,有 個金黄色藏文種子字[啲](di,務請參考本儀軌所附之藏文種子 字),放出極為強烈的金黄色光,光 您頂門而入,將自己一切惡業罪障, 病魔崇,痛苦煩惱,負面情緒,災厄 劫煞等皆化為黒氣,從全身的毛細孔 出體外,在大氣中蒸發消失,您遂渾 通透淨徹,心得安樂自在
(五)當以上種種,您都已經觀想無 後,便可將手印在額頭散開,接着去 念珠,持誦至聖先師孔子心咒108遍或 以上(有時間能多念更好,但,最少 念108遍,務請注意![孔夫子]三字,以[廣東話](粤語)發音則可)
嗡,鴉,嘛哈咕嚕,曼祖司哩,呢喇 那加吔,孔夫子,沙嚕娃,司啲,吽 ,呸
Om,Ah,Maha Guru,Manju siri,Nira mana gaya,孔夫子,Saruwa,Sidi,Hum,Hum,Pei
咒音下載
(六)讚願偈(合掌念一遍)
大智文殊垂眷念
下生華夏挽倒顛
明傳人倫伏古道
皈命至聖蓮足前
唯盼先師賜加持
願我濁世作清流
匡扶正義悲智運
苦海誓作度人舟
(七)合掌迴向(以下言辭,僅供大 參考)
弟子(自己姓名或法名)今謹以此持 至聖先師孔子心咒之殊妙功德,至誠 伸迴向:
祈願那摩至聖先師孔子,慈光注照, 願攝受,令使弟子(自己姓名或法名 身心康健,消宿現業,增諸福慧,息 災除障,圓成善根,道心不退,現眷 樂,先亡超昇
願我與一切眾生,悉皆速疾共證真常 樂
(後可再加自己個人之祈願)
至此修法圓滿,吉祥如意
【鄭重補充説明】
(1)此《至聖先師孔子誦修簡儀》之 言、手印與觀想,乃殊勝不共傳承, 倘非皈依弟子,本不輕授,今姑大開 便,望盼大家勿作等閒
(2)此儀軌看似簡單,不若藏密、東 、唐密儀軌之繁廣,但,實際上却是[麻雀雖小,五臟俱全],大家修之以恒,自能心領神會
(3)手印若在平常非修法場合,千萬 要隨便亂結,形同兒戲,又,所有手 印切記必須在額頭散開,因為所有手 在散開時會有光放出,若不在額頭散 ,其放出之光便會傷害那些[無形眾生](是故東密,唐密之修行人在結手印 ,會以淨布或袈裟遮蓋,我們不必如 ,但請務必慎重,如法行持)
又,結手印前應洗淨雙手
(4)通常若要能充分發揮咒力,需起 持誦滿一[洛叉](即十萬遍,越多越好),但,倘能 懷無偽之深信切願,即使未滿遍數, 必得蒙加持。
(5)手印圖已備妥,歡迎需要的同修 同道或朋友以臉書私訊(PM)向本群 管理員索要,咒音和法本PDF檔案可從 本群組專頁下載
https://www.mercyandwisdom.com/blank-172
*Thái-Thượng Đạo-Tổ Tâm-Chú (太上道祖心咒 ):
.Om,Seh,beh ja dara ma,Nira mana gaya,李耳,Saruwa,Sidi,Hum,Hum,Pei
.OM HRIH, VAJRADHARMA NIRMANAKAYA LI-ER, SARVA SIDDHI HUM HUM PHAT
*Thái-Thượng Đạo-Tổ Tâm-Chú (太上道祖心咒 ):
CN1:
.嗡,些,嘛哈咕嚕,呢喇嘛那加吔, � �耳,沙嚕娃,司啲,吽吽,呸
.Om,Seh,Maha Guru,Nira mana gaya,李耳,Saruwa,Sidi,Hum,Hum,Pei
.OM HRIH, MAHAGURU NIRMANAKAYA LI-ER, SARVA SIDDHI HUM HUM PHAT
CN2:
.嗡,些,啤渣打喇嘛,呢喇嘛那加吔 � �李耳,沙嚕娃,司啲,吽吽,呸
.Om,Seh,beh ja dara ma,Nira mana gaya,李耳,Saruwa,Sidi,Hum,Hum,Pei
.Om,Say,beh ja dara ma,Nira mana gaya,李耳,Saruwa,Sidi,Hum,Hum,Pei
.Om,Shri,Banza dharma,Nirmanakaya LI-ER,Sarwa,Sidi,Hung,Hung,Peh
.OM RHI, BENZA DHARMA NIRMANAKAYA LI-ER, SARVA SIDDHI HUNG HUNG PHET
.OM HRIH, VAJRADHARMA NIRMANAKAYA LI-ER, SARVA SIDDHI HUM HUM PHAT
=========
●九二、太上老君心咒
嗡、太上老君、悉地吽
*Thái-Thượng Lão-Quân Tâm-Chú ( 太上老君心咒 ):
.嗡、太上老君、悉地吽
.Án, Thái-Thượng Lão-Quân, Tất-Địa Hồng
.OM TAISHANG-LAOJUN SIDDHI HUM
the "Highest Elder Lord" (太上老君, Taishang Laojun).
http://www.wikiwand.com/en/Three_Pure_Ones