"Người chưa thấu triệt thì tham câu chẳng bằng tham ý. Người thấu triệt rồi tham ý chẳng bằng tham câu" --Bích Nham--
Printable View
"Người chưa thấu triệt thì tham câu chẳng bằng tham ý. Người thấu triệt rồi tham ý chẳng bằng tham câu" --Bích Nham--
Bạn đi hỏi cái ông Bích Nham ấy :). Nếu hỏi được ông ấy bạn hỏi thêm câu này...Ai là người thấu triệt, ai là người tham câu, ai là người tham ý???
Rốt cuộc tham cầu hay tham ý đều là cái đề mục để thấu triệt, khi thấu triệt rồi thì không có tham cầu cũng như tham ý
Người chưa thấu triệt thì tham câu chẳng bằng tham ý. ===> Câu là phương tiện dẫn tới tri kiến của ý.
Người thấu triệt rồi tham ý chẳng bằng tham câu ===> Câu là phương tiện để độ sinh. Khi liễu ngộ rồi thì kham thảo phương tiện câu để độ sinh.
Ý hay Câu, Câu hay Ý. Phi Câu, phi Ý. Bất phi câu, bất phi Ý. Thôi thì ý câu cũng chẳng bỏ và trụ.
Vậy là lúc đầu người mới tu niệm Phật/ trì chú là cầu tâm An...
Khi tâm An rồi cũng niệm Phật/ trì chú nhưng để chơi vui ah...???
Hay tự nhiên niệm/trì mà chẳng phải niệm/trì...
Biết thế chọn 1 câu chú/ hoặc 1 câu niệm Phật đi đến hết cuộc đời...
Câu luận này rất hay và rất có ý nghĩa với những người nghiên cứu Phật học cũng như các môn tôn giáo, tâm linh hoặc triết học Phương Đông nói chung.
Với triết học Phương Tây hiện đại người ta thường xây dựng một mô hình lý thuyết dựa trên các nền tảng cơ bản là các khái niệm cơ bản được định nghĩa rõ ràng.
Với Phương Đông thì khác ngược hoàn toàn. Do ý thức rất rõ là không thể dùng ngôn từ để diễn đạt trọn vẹn các khái niệm nên họ đi thẳng vào các đối tượng trừu tượng nhất mà không cần định nghĩa. Thậm chí họ mượn những danh từ cụ thể để gán cho một khái niệm trừu tượng. Ví dụ như: Niết bàn, Trí tuệ Bát Nhã, Đạo, Đức, Âm, Dương, Kim,Mộc, Phế, Can....
Trong quá trình tu tập tinh tiến, đạt được chứng ngộ thì các khái niệm trừu tượng đó được chính hành giả làm rõ dần lên.
Do vậy, mặc dù cũng cùng một "Câu" nhưng với người sơ cơ khác xa người đã chứng ngộ.
Do vậy câu luận: "Người chưa thấu triệt thì tham câu chẳng bằng tham ý. Người thấu triệt rồi tham ý chẳng bằng tham câu" ta phải phân biệt hai chữ "câu". Chữ đầu chỉ cho lúc sơ cơ mỗi "Câu" phải mượn "Ý" của những người đi trước để mà nắm bắt. Nhưng khi đã thấu triệt thì "Câu" đã được mang một nội dung khác mà chỉ hành giả đó biết, đầy đủ hơn những "Ý" ban đầu rất nhiều.
Đôi dòng lạm bàn cùng bạn.
Đọc sao thấy vậy
Chỗ nào khó hiểu
Sao phải luận bàn
Chỉ làm thêm rối
Đời trăm mối tơ
Gỡ hoài không hết
Lại đem đánh đố
Cái lẽ đương nhiên
Phiền...
dienthoai thấy rối à? Vậy thì đọc sao thấy vậy đi, đừng lên forum post bài nữa để lại làm rối cả người khác. ;)
Với trình độ cao siêu của bạn có thể thấy câu trên là đương nhiên nhưng tôi biết không phải ai cũng hiểu hết. Và cách hiểu của tôi cũng chỉ là quan điểm của cá nhân nên tôi post lên mong chia sẻ cùng mọi người trên forum này. Nếu bạn có quan điểm nào khác thì hãy post lên để mọi người tham khảo?
Chứ nếu cứ có người nghiêm túc viết còn những người khác chỉ spam hoặc phản đối như vậy thì chẳng mấy chốc forum chúng ta chỉ còn những bài copy từ nguồn khác và những bài spam mà thôi.
Mong các bạn tham gia một các tích cực hơn.
"Mượn bè qua sông, qua sông bỏ bè" --> Nói về việc Buông xả.
"Người chưa thấu triệt thì tham câu chẳng bằng tham ý. Người thấu triệt rồi tham ý chẳng bằng tham câu" --> Nói về quá trình hiểu biết và truyền đạt sự hiểu biết.
Do vậy hai câu trên có các mục đích khác nhau nên không thể dùng câu này thay cho câu kia được.
Đây là chỗ Thiền Tông ''lừa người'' đẩy vào chỗ NGHI ''chỗ bế tắc'' đó. Càng chạy theo giải nghĩa văn tự thì Thiền Tông gọi là ''đầu lại thêm đầu'' xa vào chìm đắm trong suy tưởng văn tự. Mã Tổ hôm trước dạy người là : tức tâm, tức Phật, tức vật. Hôm sau hỏi lại đại chúng: phi tâm, phi Phật, phi vật thì là cái gì ? . Thiền Tông cốt ''đẩy người'' đến chỗ lìa ''tứ cú, tuyệt bách phi'' (một cách nói khác của ''bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền'') đạt tới kiến tánh. Kiến tánh tương đương với quả Thánh Dự Lưu (Tu Đà Hàm) tức là chỉ tái sinh trở lại trong 7 kiếp nữa rồi đắc A La Hán. Kiến tánh tức là đã phá được 3 kiết sử là : thân kiến, giới cẩm thủ và nghi ngờ (trong 10 kiết sử). Người kiến tánh do ''đốn ngộ'' thì lập tức phải bảo nhậm (bảo nhiệm) tức là nhập thất hoặc không tiếp xúc với người bên ngoài trong một thời gian dài để phát triển vững chắc việc đã phá vỡ 3 kiết sử này. Nên các Tổ thường nói '' kiến tánh khởi tu''. Chữ tu ở đây bắt đầu là nhập thất để ''bảo nhiệm''. Còn ''kiến tánh thành Phật' tức là đã kiến tánh rồi thì chắc chắn giải thoát sinh tử (Thánh Dự Lưu). Dự là tham dự, dự phần, lưu là dòng chảy. Tức là đã gia nhập vào dòng chảy của 4 thánh quả (Tu Đà Hàm, Tư Đà Ham, A Na Hàm, A La Hán) và trải qua (chảy qua) 7 kiếp nữa để đạt quả cuối là A La Hán (dứt sinh tử, nhập Niết bàn)
A Di Đà Phật!
Nhất bổn sinh vạn thù! Vạn thù quy nhất bổn.
Nhân tưởng do ý tán loạn sanh thành. Phàm nhân đọc 1 câu suy luận ra vạn ý. Thánh nhân lấy vạn ý tóm tắt thành 1 câu. Chỉ đơn giảng vậy thôi.
Điều bạn nói là CÔNG ÁN, mục đích của chúng là dẫn các thiền sinh quay cuồng mệt mỏi trong tư duy để rồi cuối cùng sẽ ngắt được dòng tư duy (ý thức) nhằm đạt được ĐỊNH.
Câu luận trên là trong chương "Học Ðạo Cần Phải Biết Người Triệt Ngộ Bất Tất Hiềm Tri Giải" trong cuốn "Kho Báu Nhà Thiền". Chương này trích các câu nói và đối thoại của các Thiền sư nhằm giải thích vì sao người "thấu triệt" không cần giải thích chi tiết sự "thấu triệt" của mình. Câu này không phải là một CÔNG ÁN.
Ông Bích Nham đang ''lừa'' bạn và lừa người đọc đấy. Thậm chí ''lừa'' luôn cả người tập hợp các câu để biên tập viết sách. Có thể người biên soạn sách chưa chắc đã thấu triệt thế nào là tham thoại đầu hay công án. Câu nói trên thiền sư Bích Nham là câu thoại đầu (một loại giống như công án của Thiền Tông) để thấy ông Bích Nham lừa người: "Người chưa thấu triệt thì tham câu chẳng bằng tham ý. Người thấu triệt rồi tham ý chẳng bằng tham câu"
Người chưa thấu triệt thì cần phải ''tham'' câu. Tham câu là tham cái gì ? Là tham thoại đầu. Người chưa thấu triệt chính là người chưa ngộ thiền thì phải tham thiền. Mà tham câu là câu thoại đầu ví dụ như : Ai là người niệm Phật ? Tiếng vỗ của một bàn tay ? Mặt mũi trước khi cha mẹ sinh ra là ai ?.... Tóm lại là người chưa thấu triệt (chưa ngộ thiền) thì phải tham câu thoại đầu (tham thiền bằng câu nói đưa ra của thiền sư). Còn người thấu triệu (đã ngộ thiền) thì không cần tham thiền hay tham câu thoại đầu nữa (vì đã ngộ rồi thì tham thiền làm gì nữa). Chính vì ''lừa'' người nên ông Bích Nham mới nói tiếp ''Người thấu triệt rồi tham ý chẳng bằng tham câu''.. Chạy theo câu nói sau của ông ấy là bị kẹt rồi. Bị ''lừa'' rồi. Trong Thiền Tông ''ý'' và ''câu'' đâu có khác nhau mà bảo là ''tham ý'' hơn hay ''tham câu'' hơn. Như có người hỏi Lâm Tế: Phật là gì ? Lâm Tế hét. Làm sao tu đạo ? Lâm Tế cũng hét. Nếu tham ''ý'' của câu hét hay tham ''câu'' hét thì chắc chết quá. Đọc sách Thiền Tông thú vị như vậy đấy. Bạn lưu ý CÔNG ÁN là việc diễn ra giữa 1 thầy và 1 trò trong Thiền Tông về việc đối đáp để khai ngộ, kiến tánh (khi căn cơ của trò đã chín muồi). Còn THAM THOẠI ĐẦU là câu nói của 1 thiền sư nói ra cho 1 ngươi hay cho đại chúng để THAM CÂU hay THAM Ý của câu.
Bạn hãy đọc "Kho báu nhà Thiền" sẽ thấy rõ. Với các "công án" sẽ được ghi rõ là "công án". Còn câu trên là một câu luận mà thôi. Mà đã là câu luận thì có ý nghĩa và có thể giải nghĩa được.
Trong chương 19 "Học Ðạo Cần Phải Biết Người Triệt Ngộ Bất Tất Hiềm Tri Giải" chỉ gồm toàn các câu luận, chuyện kể chứ không có Công án nào cả.
Nhân bạn bàn về Công án tôi cũng xin bàn cùng bạn:
Vấn đề không phải nằm ở chổ chưa "ngộ thiền" thì Thầy đưa ra công án cho học trò mà Thầy biết rất rõ rằng trong việc Thiền định thì việc thiền sinh ngắt được tư duy là rất khó nên luôn ngẫu hứng đưa ra các câu hỏi không có giải đáp cho học trò. Người học trò do nôn nóng luôn cố gắng giải thích các câu hỏi đó của Thầy. Cứ mỗi lần lên trả lời là Thầy lại kêu về nghĩ tiếp. Việc suy nghĩ --> Trả lời --> Nghĩ tiếp... có khi kéo dài nhiều tháng tạo cho Thiền sinh rất mệt mỏi trong suy nghĩ tư duy. Với cách thức như vậy khi đã hiểu ra ý của Thầy thì Thiền sinh sẽ biết cách ngắt đi quá trình tư duy của mình. Đây rõ ràng là một bài tập tâm lý rất cao siêu của các Thiền sư.
Khi Thiền sinh đã dễ dàng ngắt hết suy nghĩ, tư duy để tiến tới Định thì các Thiền sư không còn dùng bài tập này nữa. Sau khi đã "ngộ thiền" thì các câu hỏi của Công án vẫn cứ vô nghĩa như ban đầu mà thôi.
Nhưng cách này chỉ hiệu quả khi Thiền sinh không biết đó là một câu "lừa".
Với những ai đã hiểu ý nghĩa này của Công án thì việc lặp lại các Công án đã biết sẽ không còn hiệu quả gì nữa. Do vậy với mỗi Thiền sư phải khéo léo luôn đưa ra các công án mới để "lừa" Thiền sinh".
Tôi tôn trọng ý kiến của bạn và kiến giải của bạn. Nhưng bạn lưu ý tôi không nói câu nói trên là CÔNG ÁN mà là câu để THAM THOẠI ĐẦU. Tham thoại đầu thực chất là một dạng công án. Bạn nói đúng là công án thì phải ghi chép rõ là công án. Việc ghi lại này hầu hết là do có người ngộ nhờ công án nên trong Truyền Đăng Lục có ghi chép là ''công'' là công văn. Án là án lệ. Tức là có lệ rằng khi có người ngộ (kiến tánh) bằng đối đáp với thầy thì ghi lại cuộc đối đáp đó. Câu của ông Bích Nham là câu để ''tham thoại đầu''. Tức là ai tham cũng được, sau hàng trăm năm tham cũng được. Như câu tham thoại đầu nổi tiếng là : Ai là người niệm Phật ? vẫn có giá trị bất hủ cho người muốn kiến tánh bằng tham thoại đầu. Ai là người niệm Phật ? Có cái gọi là ''ai'' trên thế gian này không ? Nếu ngộ liền phá được THÂN KIẾN. Thân kiến là tri kiến về danh và sắc.
Bạn có để ý thường Công Án và Tham thoại đầu là một câu hỏi không? Câu của Bích Nham không phải là một câu hỏi. Và khi đọc cả chương đó thì tôi thấy tất cả nội dung chỉ là các câu luận và đề có thể giải thích rõ ràng được theo một mục đích ghi rõ trong tên chương đó. Và do vậy câu đó sẽ không có tác dụng trong việc "lừa" Thiền sinh vào ngõ cụt của tư duy được. Khi tư duy vẫn tồn tại thì không thể Định Tâm được. Do vậy với ví dụ của bạn thì chữ "ngộ" ở đây chỉ mới ở mức độ "hiểu". Nếu ở mức độ hiểu mà chưa dứt bỏ ý nghĩ, tư duy thì chưa thể phá được THÂN KIẾN đâu.
Khi đã hiểu một công án hoặc tham thoại đầu thì việc Thiền sinh cần làm chính là ngắt được ý nghĩ, tư duy của mình và chính việc đó mới dẫn tới "Ngộ". Điều đó được ghi rõ trong Bát Nhã Tâm Kinh.
Rất vui được đàm đạo cùng bạn.