CHƯƠNG 9

TỪ LỜI ĐẾN VŨ TRỤ: KITÔ GIÁO VÀ NHỮNG SÁNG TẠO của PHÁT MINH

""Không hồ nghi gì, công trình của Đấng Tạo Hóa Toàn Năng thì quá bao la!"
Nicolaus Copernicus

D
anh sách của những ý tưởng vĩ đại về khoa học ngày nay thường có một thiếu sót chính. Trên danh sách ấy chắc chắn chúng ta sẽ tìm thấy thuyết về tâm mặt trời của Copernicus, định luật Kepler, định luật Newton, và thuyết tương đối của Einstein, tuy nhiên ý tưởng vĩ đại nhất của khoa học hiện đại thì hầu như không bao giờ được bao gồm. Nó là một ý tưởng vĩ đại đến độ giúp nẩy sinh mọi ý tưởng khác. Và nó vô hình đối với chúng ta bởi vì nó thường được coi là đương nhiên thay vì một lý thuyết cần được phát biểu có hệ thống. Thật kỳ quặc, ý tưởng vĩ đại nhất của khoa học hiện đại thì không dựa trên lý lẽ nhưng trên đức tin.

Đức tin không phải là một chữ thường được hoan nghênh trong giới khoa học. "Tôi không tin rằng khoa học gia có cùng một đức tin chắc chắn mà những người đạo đức chân thành thường có," nhà vật lý Richard Feynman viết như thế trong cuốn The Meaning of It All . Nhà thiên văn học Neil deGrasse Tyson than phiền rằng "những luận điệu của tôn giáo dựa trên đức tin" và khoe khoang rằng "những luận điệu của khoa học dựa trên cảm nghiệm được minh chứng." Feynman và Tyson dường như không ý thức rằng tâm điểm của ngành khoa học được họ yêu chuộng là một định đề dựa trên đức tin mà nó không kém huyền bí hơn bất cứ tín điều tôn giáo nào khác. Đây là một giả thuyết, thực sự không thể minh chứng, đó là vũ trụ thì hữu lý.

Các khoa học gia ngày nay cho rằng vũ trụ vận hành theo các quy luật, và trí tuệ con người có thể hiểu được các quy luật này. Khoa học thì dựa trên điều mà tác giả James Trefil gọi là quy tắc phổ quát: "Nó nói rằng các quy luật tự nhiên mà chúng ta khám phá ra đây đó trong các phòng thí nghiệm thì đúng ở bất cứ đâu trong vũ trụ và từng là động lực trong mọi thời gian." Nhà vật lý Steven Weinberg viết, "Tất cả những kinh nghiệm của tôi, là một vật lý gia, khiến tôi tin rằng có một trật tự trong vũ trụ… Khi chúng ta đến với các năng lượng ngày càng cao hơn và chúng ta nghiên cứu các cấu trúc ngày càng nhỏ hơn, chúng ta tìm ra các quy luật ấy, các quy tắc vật lý, nó diễn tả điều chúng ta hiểu biết trở nên ngày càng đơn giản hơn… Các quy luật chúng ta khám phá ra ngày càng có liên hệ chặt chẽ và phổ quát… Ở đó có một điều đơn thuần, một sự mỹ miều, mà chúng ta tìm thấy trong các quy luật mà nó điều hành vật thể mà nó phản chiếu điều gì đó được thấy trong cấu trúc hợp lý của vũ trụ ở mức độ rất sâu."

Các quy luật chi phối vũ trụ dường như được viết bằng ngôn ngữ toán học. Các khoa học gia vĩ đại nhất lấy làm kinh ngạc trước sự kỳ lạ này. Trong tiểu luận "The Unreasonable Effectiveness of Mathematics in the Natural Sciences" (Ấn tượng sâu sắc không thể giải thích của toán học trong khoa học thiên nhiên), vật lý gia Eugene Wigner thú nhận rằng căn bản toán học của thiên nhiên "là những gì tiếp giáp với điều huyền bí và không thể giải thích cách hợp lý." Feynman thú nhận, "Tại sao thiên nhiên phù hợp với toán học, đó là một bí ẩn… Sự kiện là tất cả đều có quy luật, đó là một loại phép lạ."

Sự kinh ngạc này phát xuất từ sự nhận biết rằng vũ trụ không cần phải theo phương cách như như thế này. Không có lý do gì đặc biệt để giải thích tại sao các quy luật tự nhiên mà chúng ta tìm thấy ở trái đất cũng chi phối một ngôi sao cách xa hàng tỉ năm ánh sáng. Thật dễ dàng để tưởng tượng ra một vũ trụ mà trong đó các điều kiện sống thay đổi bất ngờ từ lúc này sang lúc khác, hoặc ngay cả một vũ trụ mà trong đó các sự vật đột nhiên xuất hiện hoặc biến mất. Một vũ trụ thì không cần phải tuân theo các quy luật, đừng nói gì đến việc tuân theo các quy luật của toán học.

Thật vậy, vũ trụ dường như có thứ tự. Tôi nói "dường như" vì không cách chi chứng mình được. Có những điều lạ thường xảy ra trong khoa vật lý lượng tử (quantum physic) khiến người ta phải thắc mắc về giả thuyết rằng vũ trụ đi theo các quy luật nhất định. Ngay cả vậy, các khoa học gia bám lấy điều tin tưởng đã có từ lâu về tính cách hữu lý căn bản của vũ trụ. Trước hết phải tin rằng các quy luật này có thật, và lý lẽ con người có nhiệm vụ khám phá các quy luật ấy, các khoa học gia tiếp tục cố gắng tìm kiếm. Những điều khoản đức tin này thật cần thiết để khoa học hoạt động. Nếu không có sự tin tưởng "vô lý" rằng chúng ta sống trong một vũ trụ có thứ tự thì không thể nào có khoa học hiện đại. Khoa học cũng dựa vào điều tin tưởng không được hỗ trợ là tính cách hợp lý của vũ trụ được phản chiếu trong sự hợp lý của tâm trí loài người.

Như vậy, trong một vũ trụ thống nhất, có thứ tự, và có thể gần gũi được, người Tây Phương có được đức tin này ở đâu? Làm thế nào chúng ta đi từ thời kỳ hỗn mang sang đến sự hài hòa? Câu trả lời của tôi, chỉ có một chữ, là Kitô Giáo.

Kitô Giáo không phát minh ra ý tưởng về một vũ trụ hợp lý. Ý tưởng đó được phát minh bởi những người trước thời Socrat, tỉ như Thales, Parmenides, Heraclitus, và Pythagoras. Những người này có một số ý tưởng rất kỳ lạ, nhưng sự đóng góp lớn nhất của họ là thừa nhận một vũ trụ mà nó vận hành qua các quy luật được khám phá ra về nguyên nhân và hậu quả. Trước thời của những người này, có những thế giới thần thoại tỉ như câu chuyện của người Ai Cập về thần mặt trời, Ra, là người thỉnh thoảng du hành bằng xe ngựa ngang qua các bầu trời. Ngay cả người Hy Lạp cũng cho rằng sự thịnh nộ của Poisedon, thần biển hồ, gây nên các trận bão và động đất.

Những người trước thời Socrat thay thế ý tưởng của một "vũ trụ mê hoặc" với một ý tưởng về vũ trụ "tỉnh ngộ" mà lý lẽ tự nhiên của con người có thể hiểu. Có lẽ họ không biết điều gì gây nên nguyệt thực và động đất, nhưng họ đã không tìm đến thần Ra và Poisedon để giải thích lý do. Đây là một biến chuyển quan trọng về ý thức. Không may, ảnh hưởng của họ quá ngắn ngủi. Điều này một phần là vì Socrates, ông lý luận rằng triết học không quan tâm đến những điều bất thường của thiên nhiên nhưng thay vào đó phải chú trọng đến bản chất con người. Những người trước thời Socrates còn bị đánh bại bởi các phiếm thần của người Hy Lạp, được tin rằng họ hành động bất thường để hoàn thành các mục đích bí hiểm của họ.

Kitô Giáo làm sống lại ý tưởng về một vũ trụ có thứ tự qua cái nhìn về vũ trụ như tuân theo các quy luật mà nó biểu hiện sự hợp lý của Thiên Chúa sáng tạo. "Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa." Chữ lời được dùng ở đây, là logos, tiếng Hy Lạp có nghĩa "ý nghĩ" hay "sự hợp lý". Thiên Chúa thì linh thiêng và dựng nên vũ trụ, và vũ trụ vận hành đúng theo lý lẽ của Thiên Chúa. Đồng thời, Kitô Giáo chủ trương rằng vũ trụ, tự nó thì không linh thiêng. Kinh Thánh viết, "Thiên Chúa dựng nên hai vầng sáng lớn, vầng sáng lớn hơn làm chủ ban ngày và vầng sáng nhỏ hơn làm chủ ban đêm." Với Kitô Hữu, mặt trời không phải là một đối tượng tôn thờ; nó chỉ là một cái đèn thật lớn. Vũ trụ của Kitô Giáo thì có thứ tự nhưng không mê hoặc. Hơn thế nữa, Kitô Giáo (ở đây du nhập di sản của Do Thái Giáo) dậy rằng con người được dựng nên theo "hình ảnh" và "giống" như Thiên Chúa. Điều này có nghĩa trong con người có chút tia lý lẽ của Thiên Chúa, khiến con người tách biệt khỏi những điều khác và ban cho nó sức mạnh hiểu biết về tạo vật. Theo Kitô Giáo, lý lẽ con người xuất phát từ sự hiểu biết của Thiên Chúa khi tạo nên vũ trụ.

Đúng vậy, Kitô Giáo tin có phép lạ, mà nó có thể được coi như lệch hướng khỏi thứ tự thiên nhiên. Nhưng phép lạ thì đáng chú ý vì chúng ngoại lệ. Các phép lạ gây nên sự ngạc nhiên bởi vì chúng được tin là sản phẩm của một trật tự thiên nhiên mà nó bị tạm ngưng, trong những trường hợp họa hiếm. Hồi Giáo không chú trọng đến phép lạ bởi vì mọi thứ trong vũ trụ đều được coi là phép lạ. Thần học gia Hồi Giáo thời trung cổ là Abu Hamed al-Ghazali cho rằng Thiên Chúa can thiệp trong mọi giây phút để các biến cố trong vũ trụ xảy ra như vậy. Họ không đặt vấn đề quy luật: mọi thứ đều là sản phẩm của sự xâm phạm không ngừng của Thiên Chúa. Sử gia Joseph Needham giải thích rằng bất kể sự thịnh vượng và tinh tế của Trung Hoa thời xưa và thời trung cổ, khoa học không bao giờ được phát triển ở đây bởi vì "không có sự tin tưởng rằng quy luật tự nhiên có thể khám phá được và hiểu được, bởi vì không có sự đảm bảo rằng một Thiên Chúa lại đưa ra một quy luật để có thể hiểu được." Trong cuốn Science and the Modern World, Alfred North Whitehead kết luận rằng "đức tin trong tiềm năng của khoa học… là một tiềm thức phát sinh từ thần học thời trung cổ."

Thời trung cổ ở Âu Châu đã nhìn thấy sự phát sinh của trường đại học, mà nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển khoa học hiện đại. Đầu tiên, các đan sĩ làm việc không biết mệt trong các phòng thí nghiệm để phục hồi lại kiến thức kinh điển đã bị tiêu hủy khi người man rợ càn quét Đế Quốc La Mã và gieo rắc sự hỗn loạn trên khắp lục địa. Trong một vài thế kỷ, các đan viện là những tổ chức duy nhất ở Âu Châu để thu nhận, duy trì, và trao truyền lại kiến thức.

Sau đó các nhà thờ bắt đầu xây trường học, đầu tiên là tiểu học và sau đó là trung học. Dần dà những trường này ngày càng tiến bộ cho đến khi, vào thế kỷ mười hai, các đại học đầu tiên được thành lập ở Bologna và Balê. Trường Oxford và Cambridge được thành lập vào đầu thế kỷ mười ba, theo sau là các đại học ở Rôma, Naples, Salamanca, Seville, Prague, Vienna, Cologne, và Heidelberg. Các trường này có thể là chi nhánh của các nhà thờ, nhưng tự lập và tự trị. Học trình vừa có tính cách trần tục và thần học, nhờ vậy kiến thức khoa học mới của lúc ban đầu thời hiện đại mới có thể phát triển. Như Alvin Schmidt nói rõ, nhiều trường đại học tiên khởi của Hoa Kỳ--Harvard, Đại Học "William and Mary", Yale, Northwestern, Princeton, Dartmouth , Brown--khởi đầu là các trường Kitô Giáo.

Robert Grosseteste, một giám mục dòng Phanxicô là người đầu tiên làm viện trưởng Đại Học Oxford, đề nghị rằng kiến thức có thể gom góp được qua một phương pháp có tính cách cảm nghiệm, quy nạp. Một vài thế kỷ sau, Francis Bacon—một người đạo đức viết luận án về Thánh Vịnh và sự cầu nguyện—dùng phương pháp quy nạp để ghi nhận các kết quả cảm nghiệm. Bacon lý luận rằng qua khả năng khám phá mà Chúa ban cho con người, họ có thể chu toàn sự ủy thác của Thiên Chúa cho loài người là thống trị tạo vật và ngay cả khôi phục lại một loại vườn Địa Đàng. Ngày nay Bacon được coi là cha đẻ của phương pháp khoa học, "người sáng tạo của sự phát minh". Chính nhờ sự bảo trợ của giáo hội mà các tổ chức nghiên cứu y khoa đầu tiên và đài thiên văn đầu tiên được thiết lập và hỗ trợ. Từ thời Trung Cổ cho đến thời Khai Sáng, một giai đoạn vài thế kỷ, giáo hội đã thi hành nhiều điều cho khoa học Tây Phương hơn bất cứ tổ chức nào khác.

Chúng ta thường nghe rằng khoa học được tìm thấy trong thế kỷ mười bẩy để chống với các tín điều tôn giáo. Trên thực tế, khoa học được tìm thấy giữa thế kỷ mười ba và mười bốn qua một cuộc tranh luận về hai loại tín điều tôn giáo. Loại thứ nhất chủ trương rằng cuộc tranh luận của giới kinh viện, tiến hành theo các quy tắc nghiêm nhặt của lý luận suy diễn, là cách tốt nhất để khám phá ra bàn tay của Thiên Chúa trong vũ trụ. Loại kia chủ trường rằng cảm nghiệm suy diễn, kể cả việc sử dụng cảm nghiệm để "dò hỏi thiên nhiên," là phương cách thích hợp. Khoa học được lợi từ cả hai phương pháp này, dùng cảm nghiệm để kiểm tra các giả thuyết và sau đó dùng sự phê bình nghiêm khắc và tranh luận để thiết lập ý nghĩa của nó.

Sử gia Lynn White cho thấy làm thế nào mà phương pháp khoa học mới đã khởi đầu một chuỗi sáng chế và canh tân trong thế kỷ mười ba. Theo Jean Gimpel, thế kỷ mười bốn là "một trong những thời kỳ phát minh vĩ đại nhất của loài người." Cuộc cách mạng kỹ nghệ mà White và Gimpel diễn tả thì không giống như bất cứ gì được biết trong thời cổ điển. Giữa các phương pháp nông nghiệp còn mò mẫm của các đan viện và cuộc nghiên cứu mới có tính cách lý thuyết và cảm nghiệm của đại học, Âu Châu đã hình thành một phương pháp mới để hiểu biết về thiên nhiên và đưa nó vào thực tế giúp ích cho các mục tiêu nhân bản. Một lục địa trước kia hoang tàn không bao lâu đã đầy các trường học, nông trại, và xí nghiệp, tất cả đã đưa sản phẩm của sự hiểu biết và nông nghiệp cũng như mậu dịch lên một mức độ mới. Các phát minh của thời kỳ này bao gồm quạt nước, quạt gió, lò sưởi, mắt kính, và đồng hồ cơ khí. Các phát minh này dường như khiêm tốn, nhưng chúng đã trách nhiệm cho sự khởi đầu một nền văn minh mà không lâu, trong sự học hỏi, ảnh hưởng, và sức mạnh, đã làm cho các văn hóa khác trên thế giới trở nên còi cọt.

Có thể tìm thấy dấu vết của các khoa học gia chuyên nghiệp đầu tiên vào cuối thời Trung Cổ, và vì giai đoạn này, phần lớn không chỉ là Kitô Hữu mà họ còn coi công việc là chu toàn mục đích của Kitô Hữu. Morris Kline viết rằng "Khoa học gia thời Phục Hưng là một thần học gia có đối tượng là thiên nhiên thay vì Thiên Chúa." Điều này không có nghĩa thần học gia thời Phục Hưng trên con đường trần tục. Trái lại, họ tự coi như hoàn thành mục đích của Thiên Chúa trong một phương cách mới và tốt đẹp hơn, bởi đi ra ngoài khuôn khổ thánh thư của Chúa và khảo sát tạo vật của Người.

Trong thế kỷ mười sáu, phong trào Cải Cách đưa ra một ý tưởng mới. Đây là quan điểm cho rằng sự hiểu biết không chỉ trong lĩnh vực của tổ chức giáo hội nhưng là mỗi người phải tự quyết định, nhất là khi đề cập đến vấn đề lương tâm. "Chức tư tế của cá nhân tín hữu" là một quan điểm vô cùng mạnh mẽ bởi vì nó tẩy chay phẩm trật của giáo hoàng, và cũng ngầm hiểu là mọi tổ chức trong phẩm trật. Nói cho cùng đó là một trang sử của tư tưởng độc lập, được tiến hành không bởi các tổ chức nhưng bởi các cá nhân. Những người Tin Lành tiên khởi đã không biết điều đó, nhưng họ đang đưa vào các ý niệm thần học mới nhằm đem lại sinh lực mới cho nền văn hóa khoa học vừa mới xuất hiện ở Âu Châu.

Đây là một phần danh sách các khoa học gia hàng đầu là Kitô Hữu: Copernicus, Kepler, Galileo, Brahe, Descartes, Boyle, Newton, Leibnitz, Gassendi, Pascal, Mersenne, Cuvier, Harvey, Dalton, Faraday, Herschel, Joule, Lyell, Lavoisier, Priestley, Kelvin, Ohm, Ampere, Steno, Pasteur, Maxwell, Planck, Mendel. Một số đông các khoa học gia này là giáo sĩ. Gassendi và Mersenne là linh mục. George Lemaitre cũng thế, ông là nhà thiên văn Bỉ đầu tiên đưa ra thuyết "đại thanh" (big bang) về nguồn gốc vũ trụ. Mendel, người khám phá ra các quy tắc di truyền đem lại sự hỗ trợ mạnh mẽ cho thuyết tiến hóa, đã sống cả cuộc đời như một đan sĩ dòng Augustin. Khoa học hiện đại sẽ ở đâu nếu không có những người này? Một số là Tin Lành và một số là Công Giáo, nhưng tất cả đều nhìn đến thiên hướng khoa học theo các quan hệ hiển nhiên của Kitô Giáo.

Copernicus, là một kinh sĩ của vương cung thánh đường ở Krakow, coi thiên văn như "một khoa học gần với Chúa hơn con người" và coi thuyết nhật tâm của ông như tiết lộ sự phối hợp vĩ đại của Thiên Chúa đối với vũ trụ. Boyle là một người Anh Giáo đạo đức, ông tuyên bố rằng các khoc học gia là những người được Chúa trao cho sứ mệnh phục vụ như "các tư tế của sách thiên nhiên." Công trình của Boyle bao gồm các nghiên cứu khoa học và tiểu luận thần học. Trong chúc thư, ông để lại tài sản nhằm hỗ trợ cho một chuỗi bài diễn thuyết chống với chủ thuyết vô thần. Newton hiển nhiên là một Kitô Hữu thần bí, ông viết nhiều bài nhận định về lời ngôn sứ trong kinh thánh từ sách Daniel và Khải Huyền. Có lẽ là khoa học gia vĩ đại nhất trong mọi thời đại, Newton coi những khám phá của ông như chứng tỏ sự sáng tạo tài tình của công trình Thiên Chúa trong thiên nhiên. Ông viết, "Hệ thống mỹ miều nhất của mặt trời, các hành tinh, và vũ trụ chỉ có thể phát sinh từ ý định và quyền năng của một hữu thể thông minh và quyền lực." Thiên Chúa của Newton không giống như người làm đồng hồ, chỉ làm cho vũ trụ chuyển động rồi sau đó rút lui. Thay vào đó, Thiên Chúa là một tác nhân tích cực duy trì các vật thể trên trời trong vị trí của nó và rất quan tâm đến tạo vật đặc biệt của Người, là loài người.

Thí dụ của Kepler cho thấy, niềm tin Kitô Giáo của các khoa học gia vĩ đại này không phải là tình cờ đối với công việc. Đúng ra, các niềm tin này là những linh hứng dẫn dắt các khoa học gia. Kepler viết, "Tôi đã muốn trở thành một thần học gia. Tuy nhiên, giờ đây tôi mới thấy, bởi nỗ lực của tôi Thiên Chúa được tán dương qua thiên văn học." Là một người nhiệt liệt hỗ trợ thuyết nhật tâm của Copernicus, Kepler chủ trương rằng vũ trụ có tâm điểm mặt trời là một hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi, với mặt trời tượng trưng cho Thiên Chúa, các tinh tú và hành tinh tương trưng cho Chúa Kitô, và chuyển dịch của các thiên thể tượng trưng cho Chúa Thánh Thần. Khi Kepler khám phá ra rằng các hành tinh không di chuyển theo vòng tròn nhưng theo hình trái soan cân xứng, ông bị một số thần học gia chỉ trích là khước từ sự mỹ miều của hoạch định tạo dựng của Thiên Chúa. Các thần học gia này lý luận rằng chắc chắn Thiên Chúa sẽ phải dùng các vòng tròn tuyệt hảo để bố trí sự vận chuyển của hệ thống hành tinh!

Tuy nhiên, dựa trên đức tin Kitô Giáo sâu đậm, Kepler biết chắc rằng Thiên Chúa đã dùng đến một khuôn mẫu mỹ miều hơn nữa, và ông đã phải vất vả để tìm hiểu. Khi khám phá ra đó là gì—ba định luật của ông về sự chuyển động của các hành tinh—ông đã cảm nghiệm một điều gì đó về hiển linh tinh thần. Kepler tuyên bố rằng định luật của ông cho thấy Thiên Chúa đã dùng một hệ thống đơn giản hơn nhiều và thanh lịch hơn hệ thống trước đây được mô tả trong hệ thống Ptolemaic của vòng tròn và ngoại luân. Trong lời cầu nguyện kết thúc cuốn "The Harmony of the World", Kepler xin Chúa "ban ơn để các minh chứng này có thể đưa đến sự vinh hiển cho Chúa và sự cứu rỗi các linh hồn."

Các định luật của Kepler thừa nhận những tương giao kỳ lạ. Tỉ như, định luật thứ ba của Kepler nói rằng số bình phương thời gian của một vòng quay của hành tinh thì tỉ lệ với lũy thừa ba khoảng cách trung bình của nó đến mặt trời. Làm thế nào người ta có thể tính toán ra được? Phần lớn Kepler biết được điều này vì ông tin rằng có mối quan hệ toán học mỹ miều được ẩn giấu ở đó và chờ đợi ông. Một phần của thiên hướng Kitô Giáo của ông là đi tìm điều đó và phổ biến để Thiên Chúa được vinh danh hơn. Sự thành công của Kepler dẫn đến sự nhận biết đáng kinh ngạc rằng động lực tôn giáo đôi khi có thể đưa đến những khám phá kinh hoàng làm thay đổi lịch sử khoa học.

Điều này dường như lỗi thời đối với ngày nay, nhưng không phải như vậy. Các khoa học gia thường tìm kiếm các mô hình và trật tự mới trong thiên nhiên, và họ dùng một điều dường như có vẻ khác thường để xác định xem họ có đi đúng đường hay không. Họ thường tự hỏi mối quan hệ ấy có "đơn giản" hay có "mỹ miều" không. Những mô hình nào quá nặng nề hay "xấu xa" thường bị tẩy chay dựa trên các nền tảng ấy.

Tại sao? Bởi vì ngay cả một khoa học gia trần tục nhất cũng cho rằng các thực thể trong thiên nhiên thì không chỉ có thứ tự mà còn mỹ miều. Tôi cho rằng, điều này là phần sót lại của Kitô Giáo về khoa học hiện đại. Nó là tiếng thì thào, nếu chúng ta nghe được, rằng ngay cả ngày nay khoa học của chúng ta dựa trên các nền tảng tôn giáo. Ngay cả các khoa học gia trần tục không thể tránh khỏi các điều thừa nhận của Kitô Giáo, và một số người am tường nhất của họ đã công nhận điều này. Einstein thú nhận rằng "trong bất cứ ai thực sự tìm kiếm thiên nhiên, đều có một loại sùng kính tôn giáo." Nhà sinh vật học Joshua Lederberg mới đây nói trong tạp chí Science rằng, "Điều không thể bàn cãi là sự thôi thúc tôn giáo dẫn dắt chúng ta trong động lực duy trì việc tìm tòi có tính cách khoa học." Sự thôi thúc đó bắt nguồn từ Kitô Giáo.