CHƯƠNG 7
ĐƯỢC DỰNG NÊN BÌNH ĐẲNG:
NGUỒN GỐC PHẨM GIÁ CON NGƯỜI
"Một ý niệm khác của Kitô Giáo, không kém điên rồ: ý niệm về sự bình đẳng của các linh hồn trước Thiên Chúa. Ý niệm này cung cấp một khuôn mẫu cho tất cả các lý thuyết về quyền bình đẳng."
Friedrich Nietzsche, The Will to Power
T
rong những chương trước đây tôi đã thảo luận về việc tại sao Kitô Giáo lại là nguyên nhân gây ra các ý tưởng và thể chế quan trọng mà ngày nay vẫn còn chủ yếu trong đời sống chúng ta. Dĩ nhiên, không phải tất cả những đổi mới này đều được mọi người qúy trọng. Một số người chống đối Kitô Giáo chỉ vì nó đã đem cho chúng ta chủ nghĩa tư bản hay truyền thống gia đình có cha và mẹ. Nhưng ở đây, tôi thảo luận về một di sản Kitô Giáo mà hiển nhiên mọi người đời đều trân qúy: sự bình đẳng của con người. Ý tưởng Kitô Giáo này là động lực bên trong của chiến dịch chấm dứt nô lệ, phong trào dân chủ và chế độ tự trị phổ thông, và còn cả một học thuyết quốc tế về nhân quyền. Sự kiện tôi ca tụng vai trò Kitô Giáo trong việc khuôn đúc những thay đổi lớn lao trong xã hội thì xuất phát từ hệ luận tất yếu chín chắn: nếu Tây Phương từ bỏ Kitô Giáo, nó sẽ còn nguy hại đến các giá trị của chủ nghĩa bình đẳng mà Kitô Giáo đã đem vào thế giới. Sự chấm dứt Kitô Giáo cũng có nghĩa sự xói mòn hệ thống giá trị tỉ như phẩm giá bình đẳng và quyền bình đẳng mà người tín hữu cũng như thế tục đều trân qúy.
Khi Thomas Jefferson viết trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập rằng "mọi người được dựng nên bình đẳng", ông cho rằng đây là một sự thật hiển nhiên. Nhưng nó không hiển nhiên chút nào. Thật vậy, hầu hết các văn hóa trên thế giới, và ngay cả ngày nay, bác bỏ lời tuyên bố này. Xét theo bề ngoài, đó là điều vô lý khi cho rằng con người bình đẳng trong khi tất cả những gì chung quanh chúng ta đều rõ ràng là bất bình đẳng. Con người thì bất quân bình về chiều cao, trọng lượng, sức khỏe, khả năng chịu đựng, sự thông minh, sự kiên trì, sự chân thật, và trong hầu hết đặc tính khác. Sự bất bình đẳng dường như là thực tế hiển nhiên của bản chất con người.
Ông Jefferson biết điều này. Ông khẳng định một loại bình đẳng đặc biệt của con người. Ông cho rằng con người thì bình đẳng về luân lý. Con người không đối xử tốt đẹp như nhau, nhưng mỗi một đời sống có giá trị luân lý không hơn không kém. Theo học thuyết kỳ lạ này, giá trị của người phu quét đường ở Philadelphia cũng vĩ đại như của chính ông Jefferson . Mỗi một đời sống đều có giá trị, và không người nào có giá trị hơn người nào.
Tính chất qúy báu và giá trị bình đẳng của đời sống con người là một ý tưởng của Kitô Giáo. Người tín hữu Kitô luôn tin rằng Thiên Chúa đã đặt một giá trị vô cùng trong cuộc sống từng cá nhân mà Người đã dựng nên và Người yêu qúy mỗi người như nhau. Trong Kitô Giáo, bạn không được cứu độ qua gia đình hay bộ lạc hay thành phố. Sự cứu độ là một vấn đề cá biệt. Hơn thế nữa, Thiên Chúa có một "thiên hướng" hay ơn gọi cho mỗi một người chúng ta, một hoạch định của Chúa cho mỗi một cuộc đời. Trong thời Cải Cách, Martin Luther nhất mạnh đến tính cách cá biệt của hành trình Kitô Giáo. Chúng ta không chỉ bị phán xét vào cuối cuộc đời, nhưng trong toàn thể cuộc đời, chúng ta còn liên hệ với Thiên Chúa một cách cá biệt. Ngay cả chân lý tôn giáo cũng không chỉ trao truyền cho chúng ta nhưng được lĩnh hội qua sự cầu nguyện và học hỏi. Những ý tưởng này có các hậu quả nghiêm trọng.
Chúng ta thường được bảo rằng các ý niệm hiện đại về dân chủ và quyền bình đẳng được tìm thấy trong thời Hy La cổ xưa, nhưng các người sáng lập Hoa Kỳ không chắc về điều này. Alexander Hamilton viết rằng sẽ là điều "nực cười khi tìm kiếm các mô thức này trong các thời đại giản dị của Hy La cũng như truy lùng các mô thức ấy trong những người Hottento và Laplander." Trong cuốn The Federalist chúng ta thấy ý tưởng cổ điển về tự do ban bố "cho các công dân cái cây vào ngày này và các tượng vào ngày khác… Nếu mọi công dân Athen là Socrates, mọi cuộc họp của người Athen vẫn chỉ là một đám đông ô hợp." Trong khi người Hy La cổ xưa có nền dân chủ chỉ huy, được hỗ trợ bởi hệ thống nô lệ lan tràn, chúng ta có điều gì đó thật khác biệt: nền dân chủ đại nghị, với quyền công dân đầy đủ và quyền bầu cử được nới rộng cho mọi người, trên nguyên tắc. Hãy tìm hiểu xem sự thay đổi lớn lao này xảy ra như thế nào.
Trong thời Hy La cổ xưa, sự sống con người ít có giá trị. Người Spartan để con chết đói trên đồi. Tục giết trẻ sơ sinh thì phổ thông, mà vẫn còn thấy ở nhiều nơi trên thế giới ngày nay. Các người cha muốn có con trai thì họ không áy náy trấn nước con gái sơ sinh. Người ta thường bị đánh đập cho đến chết hay bị xâu xé bởi súc vật trong các đấu trường của La Mã. Các nhà tư tưởng lớn thời xưa, từ Seneca cho đến Cicero, đều không thấy gì sai lầm trong thông lệ này. Kitô Giáo cấm đoán các việc ấy, và Kitô Giáo khiến chúng ta cảm thấy rùng rợn khi nghe nói về các điều đó.
Phụ nữ có địa vị rất thấp kém trong xã hội Hy La cổ xưa, cũng như ngày nay trong nhiều nền văn hóa, nhất là trong thế giới Hồi Giáo. Aristotle nói lên quan điểm của nhiều người khi ông viết rằng lý trí trong người đàn ông được bày tỏ trọn vẹn. Trong trẻ em, theo Aristotle, lý trí hiện diện nhưng chưa phát triển. Trong phụ nữ, ông viết, lý trí hiện diện nhưng vô dụng. Những quan điểm như thế thì rất phổ thông trong các văn hóa phụ hệ. Và, dĩ nhiên, chúng phổ biến trong xã hội Do Thái khi Đức Giêsu còn sống. Nhưng Người đã phá vỡ điều cấm kỵ này. Từ quan điểm xã hội và ngay cả từ quan điểm của các môn đệ, Đức Giêsu đã gây xôn xao dư luận khi cho phép phụ nữ (ngay cả người thấp kém trong xã hội) được du hành với Người và thuộc về vòng bạn hữu của Người.
Kitô Giáo không chống đối phụ hệ, nhưng nâng thân phận của người phụ nữ lên. Kitô Giáo cấm ngoại tình--một tội được coi là trầm trọng như nhau cho nam cũng như nữ--và đặt sự ràng buộc luân lý đối với sự kỳ thị phổ thông mà nó cho rằng phụ nữ phải nết na trong khi nam giới có thể tùy ý. Không như Do Thái Giáo và Hồi Giáo, mà họ đối xử khác nhau về vấn đề ly dị giữa nam và nữ, các quy tắc của Kitô Giáo thì giống nhau về vấn đề này. Vì thế phẩm cách cao qúy là vị thế của phụ nữ trong hôn nhân Kitô Giáo mà người nữ chiếm ưu thế trong giáo hội Kitô Giáo thời tiên khởi, cũng như trong một số sự tôn trọng ngày nay. Một trong những hậu quả là người La Mã khinh miệt Kitô Giáo, cho đó là tôn giáo của phụ nữ.
Trong thời Trung Cổ chúng ta gặp một sự phát triển mới—ý niệm về tình yêu phong nhã. Vì lần đầu tiên trong lịch sử, người phụ nữ, là đối tượng tình yêu của một hiệp sĩ, được nâng lên một địa vị cao. Thật vậy, địa vị của họ còn cao hơn cả người theo đuổi họ. Càng ngày, phụ nữ càng được coi là bạn mà sự trò chuyện được qúy trọng và được tìm cách làm quen. Cuốn "Vợ ông Bath" của Chaucer là một điều không thể tưởng tượng được trong bất cứ nền văn hóa nào thuộc thế kỷ thứ mười bốn. Tác phong lịch sự, lối xử thế đầy tôn trọng đối với phụ nữ, được Kitô Giáo phát minh. Sinh hoạt xã hội giữa nam và nữ được khởi sự vào cuối thời Trung Cổ. Hơn thế nữa, khi đời sống gia đình ngày càng được coi là tâm điểm của hạnh phúc con người, vai trò của người mẹ trong việc gìn giữ gia đình và đảm bảo sự giáo dục con cái ngày càng có giá trị.
Chống với những tiến bộ này, người vô thần đưa ra một vấn đề khác: sự nô lệ. Sam Harris viết trong cuốn Letter to a Christian Nation, "Hãy đọc Kinh Thánh và bạn sẽ khám phá thấy rằng đấng tạo nên vũ trụ rõ ràng mong đợi chúng ta duy trì chế độ nô lệ."4 Steven Weinberg nhận xét rằng "Kitô Giáo… sống thoải mái với chế độ nô lệ trong nhiều thế kỷ." Các văn sĩ vô thần này chắc chắn không phải là những người đầu tiên đổ lỗi cho Kitô Giáo về điều họ cáo buộc là tán thành chế độ nô lệ. Nhưng từ trước thời Kitô Giáo đã có chế độ nô lệ trong nhiều thế kỷ ngay cả thiên niên kỷ. Nó được phổ thông thi hành trong thế giới xưa, từ Trung Hoa và Ấn Độ cho đến Hy Lạp và La Mã, và hầu hết các văn hóa coi đó như một thể chế không thể thiếu, giống như gia đình. Trong nhiều thế kỷ, chế độ nô lệ không cần được bảo vệ vì không ai chỉ trích. Ngay cả Kinh Thánh cũng không lên án rõ ràng. Thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Êphêsô (6:5) và các đoạn khác cũng thúc giục người nô lệ phải tuân phục chủ nhân, và khuyên chủ nhân hãy tử tế với người nô lệ.
Dầu vậy, ngay từ đầu Kitô Giáo đã ngăn cản hoạt động nô lệ của tín hữu Kitô. Trong các thư của T. Phaolô chúng ta thấy chính thánh nhân can thiệp với một ông chủ tên là Philemon cho một người nô lệ đã bỏ trốn. T. Phaolô nói, "Có lẽ đây là lý do hắn bị tách rời khỏi ông trong một thời gian ngắn, để ông có thể có được hắn mãi mãi, không phải như một nô lệ, nhưng như một người em." Làm thế nào một nô lệ có thể trở nên người anh em? Kitô Hữu bắt đầu thấy hoàn cảnh này không thể đứng vững được. Chế độ nô lệ, nền tảng của văn minh Hy La, đã héo úa trong các nước Kitô Giáo thời trung cổ và được thay thế bằng giai cấp nông nô, không giống nô lệ. Trong khi nô lệ là "dụng cụ con người", nông nô là con người có quyền kết hôn, ký khế ước, và sở hữu bất động sản. Chế độ phong kiến thời trung cổ được dựa trên hệ thống thứ bậc của quyền lợi và nghĩa vụ hỗ tương giữa các ông chủ và nông nô.
Ngoài ra, Kitô Hữu còn là nhóm đầu tiên trong lịch sử khởi sự phong trào chống chế độ nô lệ. Phong trào này được khởi sự vào cuối thế kỷ mười tám ở Anh, lan tràn sang các phần khác của Âu Châu, và rồi mạnh nhất là ở Hoa Kỳ, nơi nền kinh tế của miền Nam lệ thuộc phần lớn vào sức lao động của nô lệ. Ở Anh, William Wilberforce phát động một chiến dịch mà lúc khởi đầu hầu như không ai hỗ trợ và được thúc đẩy hoàn toàn bởi niềm tin Kitô Giáo của ông—câu chuyện này được kể lại thật sống động trong cuốn phim Amazing Grace. Sau cùng Wilberforce chiến thắng, và vào năm 1833 chế độ nô lệ bị cấm ở Anh. Bị áp lực của các nhóm tôn giáo ở quê hương, nước Anh dẫn đầu trong việc ngăn chặn nạn buôn bán nô lệ ở nước ngoài.
Cuộc tranh luận về vấn đề nô lệ ở Hoa Kỳ thực sự là cuộc tranh luận tôn giáo. Mọi phía đều cho mình có thẩm quyền của Kinh Thánh và truyền thống Kitô Giáo. Các chủ nô lệ viện dẫn lời của Thánh Phaolô và nói rằng chế độ nô lệ từng hiện hữu trong các quốc gia Kitô Giáo kể từ thời Đức Kitô. Những người da đen tự do thúc giục giải phóng các anh chị em nô lệ da đen thì lại trưng ra câu chuyện giải phóng trong Sách Xuất Hành, trong đó ông Môsê đưa người Do Thái bị nô lệ đến tự do: "Môsê, hãy xuống núi, xuống tận đất Ai Cập và nói với Pharaô là hãy để dân của ta ra đi."
Người ta không ngạc nhiên khi một nhóm chống đối chế độ nô lệ là vì có lợi cho phần tử của mình. Trong lịch sử, người ta từng chống đối chế độ nô lệ cho chính mình nhưng lại vô cùng thỏa thích khi bắt người khác làm nô lệ. Thật vậy có hàng ngàn chủ nô lệ da đen ở Nam Mỹ. Điều đáng kể là cả một nhóm chống đối chế độ nô lệ. Nhóm Quaker là người đầu tiên ở Hoa Kỳ chống đối chế độ nô lệ, và các Kitô Hữu khác theo sau. Các nhóm này đưa tính cách chính trị vào một nhận xét trong kinh thánh nói rằng tất cả mọi người đều bình đẳng trong mắt Thiên Chúa. Từ chân lý tinh thần này họ đi đến một đề nghị chính trị: vì con người bình đẳng trong mắt Thiên Chúa, không ai có quyền cai trị người khác mà không có sự đồng ý của họ. Đề nghị này là căn bản luân lý cho chủ nghĩa bãi nô và dân chủ.
Các biến động trong lịch sử Hoa Kỳ có thể hiểu như một cố gắng để thể hiện nguyên tắc Kitô Giáo này. Với những ai nghĩ về lịch sử Hoa Kỳ phần lớn theo ý nghĩa thế tục, có lẽ họ ngạc nhiên khi biết các biến cố lớn của lịch sử chúng ta được dẫn trước bằng sự hồi sinh tôn giáo ồ ạt. Sự hồi sinh Kitô Giáo đầu tiên, "The First Great Awakening", quét qua quốc gia này vào giữa thế kỷ mười tám, đã tạo thành nền tảng luân lý cho cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ. Sự hồi sinh nhấn mạnh rằng người ta không chỉ biết đến Đức Kitô, nhưng còn phải phát triển một sự tương giao cá biệt với Người. Các khuôn mặt dẫn đạo ở đây là George Whitefield, giáo sĩ với kiến thức của Oxford, đã hướng dẫn phong trào Methodist mới thành hình, và Jonathan Edwards, mục sư phái Congregationalist có bằng cấp của Yale làm chủ tịch của Đại Học Princeton. Sử gia Paul Johnson viết rằng cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ thì "không thể hiểu được… nếu không có nền tảng tôn giáo này."
Sự hồi sinh "The First Great Awakening" đưa ra những điều mặc nhiên thừa nhận mà Jefferson và các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã dựa vào trong cuộc Cách Mạng. Hãy nhớ rằng Jefferson khẳng định rằng lời tuyên bố của ông về sự bình đẳng con người thì vừa "hiển nhiên" và vừa là một quà tặng của Thiên Chúa: chúng ta được Đấng Tạo Hóa phú ban cho các quyền không thể nhượng bộ. Quả thật không còn nguồn nào khác cho các quyền này. Nhưng làm thế nào Jefferson có thể quá tự tin cho rằng chủ thuyết của ông thì "hiển nhiên"? Là vì ông biết rằng hầu hết người Hoa Kỳ đều tin điều đó. Theo ông nói, ông chỉ diễn tả một điều sẵn có trong bản chất người Hoa Kỳ. Sau này John Adams viết, "Chúng ta muốn nói gì về Cách Mạng Hoa Kỳ? Cuộc chiến? Đó không thuộc về thành phần của Cách Mạng; nó chỉ là một ảnh hưởng và kết quả của cách mạng. Cách Mạng sẵn có trong tâm trí của người dân… một thay đổi trong tình cảm tôn giáo của họ". Các tình cảm tôn giáo này được rèn luyện trong các bài giảng nẩy lửa của "The First Great Awakening".
Sự hồi sinh thứ hai "The Second Great Awakening", được khởi sự vào đầu thế kỷ mười chín và kéo qua New England và New York, rồi sau đó vào nội địa quốc gia, để lại dấu vết trong phong trào tự kiềm chế, phong trào phụ nữ được đi bầu, và quan trọng nhất, phong trào bãi nô. Chính sự hăng say tôn giáo của những người như Charles Finney, một luật sư phái Presbyter là khoa trưởng trường Oberlin đã đưa đến phong trào bãi nô và khởi sự một chuỗi biến động đưa đến cuộc Nội Chiến, sự chấm dứt nô lệ, và "tái sinh sự tự do"của Hoa Kỳ.
Trở về thế kỷ hai mươi, và hãy để ý đến lời tuyên bố lừng danh của Mục Sư Martin Luther King khi nói rằng ông vừa đệ trình giấy nợ lên Hoa Kỳ và đòi hỏi phải được trả tiền mặt. Một người kỳ thị chủng tộc miền Nam có thể hỏi, "Giấy nợ gì? Ông ấy muốn nói gì?" Ông King cầu viện đến bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Thật đặc biệt, người vô địch về sự tự do này đưa vụ kiện của ông dựa vào một tuyên ngôn được công bố hai trăm năm trước đây bởi một chủ nô lệ miền Nam! Tuy vậy, khi thi hành điều này, ông King cầu viện đến một nguyên tắc mà chính ông và Jefferson cùng chia sẻ, nguyên tắc giá trị bình đẳng của mọi con người. Cả hai, một mục sư thế kỷ hai mươi và quản lý đồn điền thế kỷ mười tám, đều phản ảnh phạm vi dài hạn của Kitô Giáo.
Hoặc hãy nhớ lại giấc mơ nổi tiếng của ông King về một ngày khi con người sẽ được xét xử "không bởi mầu da nhưng bởi các nét cá tính." Nhiều văn sĩ—trong đó có tôi—trong quá khứ thường giải thích điều này như một lời kêu gọi cho chủ thuyết công trạng: chúng ta phải được xét xử trên sự hiểu biết và khả năng. Nhưng đây không phải là điều ông King muốn nói. Ông hy vọng một ngày nào đó khi chúng ta sẽ được xét xử bởi nội dung của cá tính chúng ta. Không phải là những thành quả hiểu biết, nhưng thành quả đạo đức, dường như đó là vấn đề đối với ông King. Ở đây, chúng ta cũng thấy sự vang vọng mạnh mẽ của Kitô Giáo, mà nó thẩm định giá trị con người không qua quyền lực và của cải nhưng qua đức tính mà chúng ta sống trong đời.
Như ông Nietzsche nói trong lời ở đầu chương này, học thuyết về con người bình đẳng của Kitô Giáo cũng là căn bản cho mọi học thuyết hiện đại về nhân quyền. Đúng vậy, ngày nay chúng ta có rất nhiều học thuyết về quyền lợi từ các nguồn thế tục, nhưng bạn chỉ cần khơi nhẹ thì cũng thấy được các nền tảng Kitô Giáo. Triết gia John Rawls lý luận rằng chúng ta phải sáng chế ra một hệ thống xã hội bằng cách tưởng tượng mình đằng sau "bức màn ngu dốt" mà trong đó chúng ta không biết mình sẽ thông minh hay ngu dốt, giầu hay nghèo. Một ý niệm thích thú, nhưng tại sao chúng ta phải tự đặt mình sau bức màn giả thuyết này? Tại sao chúng ta không phủ nhận những đặc ân hiện thời?
Các ý tưởng của Rawls sẽ không có ý nghĩa nếu trước đó không tin rằng mỗi một đời sống được coi giống như bất cứ ai khác. Ông mặc nhiên chấp nhận ý niệm rằng chúng ta không tự động được hưởng các đặc ân, tự bản chất chúng ta không tốt hơn người khác, và chúng ta có thể dễ dàng chiếm ngự vị trí của người khác trong cuộc đời, và họ cũng vậy đối với chúng ta.
Ngày nay có hai loại học thuyết về nhân quyền: học thuyết về luân lý và học thuyết về pháp luật. Cả hai đều là sản phẩm của Kitô Giáo. Hãy nghĩ đến một lý thuyết về luân lý tỉ như học thuyết về "cuộc chiến chính đáng". Nó định rõ các điều kiện đạo đức mà cuộc chiến có thể xảy ra. Tính cách cơ bản của quan niệm này có thể thấy trong phần đối thoại "Melian Dialogue" trong cuốn Peloponnesian War của Thucydide. Trong đó người Athen bác bỏ lý luận có tính cách luân lý của người Melian với sự kiên quyết rằng trong chiến tranh "nước mạnh thi hành những gì họ có sức mạnh để thi hành và nước yếu phải chấp nhận những gì họ phải chấp nhận." Khi sau cùng người Melian đầu hàng, người Athen giết tất cả những người đàn ông và bán phụ nữ và trẻ con làm nô lệ. Như đại sứ Athen nói với người Melian, đây là kiểu cách của thế giới. Nếu điều đó làm chúng ta kinh hoàng, đó là vì lương tâm xã hội chúng ta đã được khuôn đúc bởi Kitô Giáo.
Các nguyên tắc "cuộc chiến chính đáng" của Kitô Giáo nói rằng ngay cả trong thời chiến bạn không thể tự do giết hại dân lành. Nó cũng nói rằng cuộc chiến phải được khởi sự với tính cách tự vệ: bạn không được tấn công. Một cuộc chiến chính đáng phải là biện pháp sau cùng, chỉ xảy ra khi các biện pháp khác đã được sử dụng mà không thành công và khi có cơ hội thành công hợp lý. Hơn thế nữa, sự trả thù phải xứng hợp với sự tấn công lúc đầu. Nếu ai đó đột kích bộ lạc của bạn và giết chết mười người, bạn không được đột kích và giết mười ngàn người. Học thuyết "cuộc chiến chính đáng" là một sản phẩm của Kitô Giáo. Nó khởi đầu từ Augustine, được phát triển thêm bởi Aquinas, và rồi được trình bầy ngày nay bởi các nhà tư tưởng như Francisco de Vitoria, Hugo Grotius, và John Locke.
Bây giờ hãy để ý đến một học thuyết hợp pháp tỉ như Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền trong hiến chương của Liên Hiệp Quốc. Bản tuyên ngôn này, được thông qua vào ngày 10 tháng Mười Hai, 1948, bởi Đại Hội Đồng LHQ mà không có một phiếu chống, nó khẳng định các quyền lợi chung cho mọi người trên mặt đất. Mọi người đều có quyền tự do của lương tâm. Ý muốn của người dân là căn bản cho thẩm quyền của chính phủ. Mỗi một người trưởng thành có quyền kết hôn với một người khác phái qua sự tự do ưng thuận và tạo dựng gia đình. Không ai bị tra tấn hoặc trừng phạt trái nhân đạo. Mọi người đều bình đẳng trước luật pháp. Mọi người đều có quyền để sống, tự do, và sở hữu chủ. Các tuyên ngôn này là bản cáo trạng đối với nhà độc tài và áp bức ở bất cứ đâu.
Tuy nhiên, tính cách hoàn vũ của bản tuyên ngôn này được dựa trên các giảng dạy đặc biệt của Kitô Giáo. Các quyền lợi trong bản tuyên ngôn được dựa trên tiền đề rằng mọi sự sống con người đều có giá trị và mọi người được coi bình đẳng; đây không phải là sự giảng dậy của tất cả nền văn hóa và tôn giáo trên thế giới. Ngay cả như vậy, một học thuyết Kitô Giáo ngay từ nguyên thủy phải có tính cách hoàn vũ trong sự áp dụng bởi vì Kitô Giáo nói rõ điều này trong ngôn ngữ thông thường. Như Thánh Phaolô viết cho tín hữu Galát (3:28): "Không còn Do Thái hay Hy Lạp, không còn nô lệ hay tự do, không còn người nam hay người nữ, vì tất cả anh chị em là một trong Đức Giêsu Kitô." Ở đây, chủ nghĩa cá nhân Kitô Giáo được phối hợp với thuyết phổ quát, và cả hai cùng chịu trách nhiệm cho một trong những phép lạ chính trị vĩ đại ngày nay, một sự đồng ý toàn cầu về các quyền lợi được coi là bất khả xâm phạm.
Sau cùng, Kitô Giáo còn chịu trách nhiệm cho ý niệm hiện đại của chúng ta về tự do cá nhân. Có nhiều dấu vết của ý niệm này trong thế giới kinh điển và thế giới cổ Do Thái. Trong các nhân vật như Socrates và các ngôn sứ Do Thái, người ta tìm thấy các cá nhân danh tiếng là người có can đảm đối đầu và đặt vấn đề với ngay cả các thẩm quyền cao nhất. Nhưng trong khi các văn hóa này tạo ra được các nhân vật vĩ đại, như các văn hóa khác ngay cả ngày nay, không một ai trong bọn họ nuôi dưỡng được sự qúy mến đặc tính cá nhân. Hiển nhiên là Socrates và các ngôn sứ Do Thái tất cả đều kết thúc thảm bại. Họ là những nhân vật dị thường trong xã hội, và xã hội mau chóng tẩy chay họ.
Trong tiểu luận "The Liberty of the Ancients Compared with That of the Moderns" (Sự tự do của người xưa so với người thời nay), Benjamin Constant đưa ra sự phân biệt quan trọng giữa cách nhìn của người Hy La và cách nhìn của chúng ta ngày nay về sự tự do. Constant nhận xét rằng với người xưa, tự do là quyền được tham dự trong việc làm luật. Dân chủ Hy Lạp là dân chủ trực tiếp mà trong đó mọi công dân có thể hiện diện trong agora, tranh luận về các vấn đề thuế và chiến tranh, và sau đó họ bỏ phiếu để chọn hành động nào mà polis phải theo. Đây là quyền lực thực sự, quyền lực của người dân để định hướng các quyết định của xã hội. Vì vậy, người Hy Lạp hành xử sự tự do của mình qua sự tích cực tham dự vào chính trị và đời sống dân sự của thành phố. Không có loại tự do nào khác.
Thật vậy, Constant báo cáo rằng trong hầu hết các thành phố xưa "mọi hành động riêng tư đều chịu sự giám sát gắt gao. Sự độc lập cá nhân không được coi là quan trọng, dù có liên hệ đến quan điểm, hay sự lao động, hay trên tất cả, liên hệ tôn giáo. Quyền chọn lựa tôn giáo cho riêng mình, một quyền mà chúng ta coi là quý giá nhất, dường như được người xưa coi là trọng tội và phạm thượng. Hầu như không có gì mà luật lệ không quy định. Do đó, giữa những người xưa, cá nhân, hầu như luôn luôn cao nhất trong việc chung, lại là một nô lệ trong mọi tương giao riêng tư."
Trong các thành phố xưa, chỉ có Athens cho phép công dân được rộng rãi trong quyết định cá nhân. Constant lý luận rằng, Athens có thể thi hành điều này vì dân nô lệ quá đông. Nhưng người Athens không hoàn toàn tách biệt khỏi các phong tục của các thành phố xưa, điều này có thể thấy trong tục lệ khai trừ, mà Constant nhận xét "dựa trên sự mặc định rằng xã hội có thẩm quyền hoàn toàn trên thành viên của nó." Hàng năm, công dân được yêu cầu viết vào lá phiếu tên của những người, mà theo quan điểm của họ, đáng bị loại trừ khỏi thành phố. Bất cứ ai có tên trên số phiếu nhiều hơn quy định sẽ bị trục xuất, đôi khi trong một thời gian mười năm, đôi khi vĩnh viễn. Khi người Athens bỏ phiếu khai trừ một trong những người giỏi nhất của họ, ông Aristide người Công Chính, người công dân chỉ giải thích rằng vì họ hết hứng thú khi nghe ông này được gọi là "người Công Chính."
Constant viết, tất cả những điều này thì hoàn toàn khác với ý niệm tự do ngày nay. Chúng ta không có dân chủ trực tiếp; chúng ta có dân chủ đại nghị. Phải, chúng ta bỏ phiếu vào ngày bầu cử, nhưng ngay cả vậy, lá phiếu của chúng ta là một trong trăm triệu, do đó sự ảnh hưởng của mỗi công dân thì rất nhỏ so với toàn thể. Đây không phải là loại tự do quan trọng nhất đối với chúng ta ngày nay. Đúng ra, ý niệm tự do ngày nay có nghĩa quyền để bày tỏ quan niệm, quyền chọn ngành nghề, quyền mua và bán bất động sản, quyền du lịch bất cứ đâu bạn muốn, quyền đối với khoảng không gian riêng tư, và quyền sống theo ý mình. Đây là sự tự do mà chúng ta đã chiến đấu, và chúng ta trở nên căm phẫn khi nó bị thử thách hay lấy đi.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks