CHƯƠNG 5
CỦA XÊDA TRẢ LẠI CHO XÊDA:
NỀN TẢNG TINH THẦN CỦA CHÍNH QUYỀN HẠN CHẾ
"Kitô giáo chứ không phải điều gì khác là nền tảng cơ bản của sự tự do, lương tâm, nhân quyền và dân chủ, các tiến bộ đáng kể của văn minh Tây Phương. Chúng ta tiếp tục được nuôi dưỡng tự nguồn gốc này." Jurgen Habermas, "A Time of Transition"
S
ỗ lực dậy bảo con cái chúng ta phải có thái độ thù nghịch với tôn giáo, và nhất là Kitô Giáo, thì thực sự lạ lùng nếu biết rằng văn minh Tây Phương được xây dựng bởi Kitô Giáo. Vấn đề thì không phải là con em chúng ta biết quá nhiều về Kitô Giáo, nhưng là chúng biết quá ít. Ở Hoa Kỳ chúng ta không có trở ngại về madrassas của Hồi Giáo, là nơi kinh Koran được học hỏi. Đúng hơn, chúng ta sống trong một xã hội ngu dốt về tôn giáo mà trong đó Kinh Thánh ít khi được dậy bảo. Hậu quả là nhiều người ở Hoa Kỳ và Tây Phương không thể kể ra năm điều trong Mười Điều Răn, hoặc biết rằng Sáng Thế Ký là cuốn đầu tiên của Kinh Thánh. Ngay cả ý nghĩa của Ba Ngôi Thiên Chúa cũng không được điểm nào. Một trong mười người Hoa Kỳ hình như họ tin rằng "Joan of Arc" là vợ của ông Noe. Sự ngu dốt kiểu này làm cho nhiều người Tây Phương xa lạ với nền văn minh của chính mình, vì họ không biết văn chương, lịch sử, và triết lý nào đã làm cho Tây Phương trở nên văn minh như ngày nay.
Còn có loại người thứ hai, trong một phương cách nào đó còn nguy hiểm hơn loại thứ nhất, mà tôi thường chạm trán. Đây là những người nghĩ rằng họ biết về nền móng của văn minh Tây Phương nhưng thực sự lại không biết. Những người này thường là sản phẩm của sự tự giáo dục, hay chỉ đọc lướt qua, hay những lời đồn đại mà họ góp nhặt từ nhiều năm. Họ không đọc Edward Gibbon, nhưng lại thấm nhuần thái độ bài-Kitô Giáo của ông ta. Do đó họ mạnh dạn khẳng định rằng Hy Lạp và Rôma đại diện cho cao điểm của nền văn minh cổ. Họ than thở, thế giới kinh điển sau đó bị tiêu diệt bởi quân man di mọi rợ Kitô Hữu là những người đã nhận chìm thế giới vào Thời Tăm Tối. Họ nói tiếp, may mắn thay nền văn minh được duy trì bởi thời kỳ Phục Hưng mà đó là một sự quay trở về để nghiên cứu kinh điển. Sau đó là thời Khai Sáng, nó đã mở mắt chúng ta để thấy những điều lạ lùng của khoa học hiện đại, của hệ thống thị trường để tạo nên sự thịnh vượng, và dân chủ cận đại.
Ngay cả những danh từ—"Thời Trung Cổ", "Thời Tăm Tối"—đưa những người này đến các thành kiến. Những chữ như "Phục Hưng" và "Khai Sáng" thường được giải thích mù quáng là những miêu tả tinh thần thời đại theo nghĩa đen. Chúng ta phải nhớ rằng những người sống trong thời Phục Hưng không tự coi mình là nhân vật Phục Hưng. Chữ này là một danh từ của thế kỷ mười chín mà nó được dùng để áp dụng cho thời trước đó.
Ngoài hai nhóm mà tôi đã nhắc đến—nhóm ngu dốt và nhóm giáo dục nửa vời—chúng ta phải thêm nhóm thứ ba là những người biết rằng Tây Phương có nguồn gốc Kitô Giáo nhưng họ muốn từ bỏ. Khi những người soạn thảo hiến chương của Liên Hiệp Âu Châu để loại trừ bất cứ điều gì dính đến Kitô Giáo ra khỏi gốc gác của Âu Châu, họ đã thi hành điều này bởi vì họ muốn nhấn mạnh đến mức độ mà Âu Châu đã tách rời khỏi quá khứ Kitô Giáo. Như George Weigel viết trong cuốn "The Cube and the Cathedral", chủ nghĩa thế tục hiện giờ là một trong những biểu ngữ mà người Âu Châu hiện đại muốn diễn hành dưới bóng của nó.
Trong chương này và chương kế tiếp, tôi muốn đánh tan một số thành kiến hiện nay và cho thấy Kitô Giáo chính là nguồn gốc và nền tảng của văn minh Tây Phương. Tôi cũng muốn chứng tỏ rằng Kitô Giáo chịu trách nhiệm cho nhiều giá trị và tổ chức ngoài đời mà người ta quý mến nhất. Kết quả là, sự khao khát muốn từ chối nguồn gốc Kitô Giáo của văn hóa Tây Phương thì không chỉ là một hành vi từ chối lịch sử, nhưng nó còn đưa các ưu tiên luân lý của người thế tục vào tình trạng hiểm nghèo.
Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc khảo sát xem Kitô Giáo đã hình thành loại cột trụ nền tảng nào cho văn minh Tây Phương. Thực sự, Tây Phương được xây dựng trên hai cột trụ: Athen và Giêrusalem. Nói đến Athen, tôi muốn nói văn minh cổ điển, nền văn minh của Hy Lạp và Rôma trước khi có Kitô Giáo. Nói đến Giêrusalem, tôi muốn nói đến đạo Do Thái và Kitô Giáo. Trong hai chữ này, Giêrusalem thì quan trọng hơn. Athen mà chúng biết và yêu mến thì không thực sự là Athen, nhưng đúng ra nó là Athen được nhìn dưới mắt của Giêrusalem.
"Chính ở Rôma, vào ngày mười lăm tháng Mười 1764, khi tôi ngồi đăm chiêu ở giữa đống gạch vụn của Thủ Đô, trong khi các thầy tu khổ hạnh đang ngâm nga kinh chiều trong Đền Jupiter, đó là khi trong đầu tôi nảy ra ý tưởng viết về sự suy sụp của thành phố này". Trong cuốn "The Decline and Fall of the Roman Empire", Edward Gibbon kết án Kitô Giáo đã thay thế nền văn minh kinh điển bằng sự man rợ của tôn giáo. Nhưng nền văn minh kinh điển thì tự nó pha trộn với các thói quen man rợ tỉ như thói đồng dâm nam (pederasty) và nô lệ. Hơn thế nữa, tín hữu Kitô không tiêu diệt văn minh La Mã. Người Hun, người Goth, người Vandal, và Visigoth đã làm điều đó. Những người man rợ này, đến từ các vùng ngoại giáo ở phía bắc Âu Châu, tàn phá Rôma mà từ lâu nó đã suy yếu và điêu tàn. May mắn thay, sau cùng họ trở lại Kitô Giáo. Sau một thời gian, chính Kitô Giáo đã văn minh hóa những người thô lỗ này. Kitô Giáo tìm thấy một lục địa mà nó đã từng bị bỏ hoang. "Thời Tăm Tối" là hậu quả của sự điêu tàn và cướp phá của những người man rợ.
Một cách từ từ và chắc chắn, Kitô Giáo đã chiếm lục địa lạc hậu này và đem cho nó kiến thức và trật tự, sự vững vàng và phẩm giá. Các đan sĩ sao chép và nghiên cứu các bản thảo mà nhờ đó đã duy trì kiến thức của thời cổ xưa này. Trong cuốn "Religion and the Rise of Western Culture", Christopher Dawson cho thấy làm thế nào mà các đan viện đã trở nên các địa điểm thành công và có kiến thức trên toàn Âu Châu. Nơi trước đây từng bị bỏ hoang nay họ làm thành các thôn xóm, sau đó thị xã, và sau cùng các khối thịnh vượng chung và thành phố. Qua nhiều năm, các chiến sĩ man rợ độc ác trở nên hiệp sĩ Kitô Giáo có tác phong, và các lý tưởng về văn minh và phong cách cũng như tình cảm được hình thành mà chúng khuôn đúc xã hội chúng ta ngày nay. Nếu Kitô Giáo không được phát sinh từ Do Thái Giáo, Rodney Stark viết, rất có thể chúng ta vẫn còn sống trong Thời Tăm Tối.
Kitô Giáo có trách nhiệm về đường lối mà xã hội chúng ta được tổ chức và phương cách chúng ta sống hiện thời. Kitô Giáo góp phần quá nhiều vào hệ thống luật lệ, kinh tế, chính trị, nghệ thuật, lịch, ngày lễ của chúng ta, cũng như các ưu thế về luân lý và văn hóa mà sử gia J.M. Roberts viết trong cuốn The Triumph of the West rằng "Không ai trong chúng ta ngày nay có thể trở nên như bây giờ nếu một nhóm người Do Thái cách đây gần hai ngàn năm đã không tin rằng họ được biết đến một bậc thầy vĩ đại, từng thấy ngài bị đóng đinh, bị chết, bị mai táng, và sau đó sống lại."
Hãy nghĩ đến nghệ thuật Tây Phương. Bạn đã đến Đền Sistine chưa? Đã thấy bức tượng Pietà của Michelangelo chưa? Bức Last Supper của Leonardo da Vinci? Có lẽ bạn quen thuộc với bức Christ at Emmaus hay bức Simeon in the Temple của Rembrandt. Ở Venice bạn có thể thấy các bích họa tuyệt vời của Veronese, Titian, và Tintoretto. Âm nhạc Tây Phương sẽ thế nào nếu không có bản Messiah của Handel, bản Requiem của Mozart, và hàng loạt sáng tác của Johann Sebastian Bach? Nếu bạn chưa bao giờ thì hãy đặt chân vào một trong những vương cung thánh đường vĩ đại kiểu Gothic và nhìn ngắm những gì mà các thợ xây cất vô danh đã thực hiện với đá và kính. Làm thế nào có thể mường tượng được văn chương Tây Phương mà không có Dante, Milton , và Shakespeare? Điều tôi muốn nói thì không chỉ tất cả các đại nghệ sĩ này là Kitô Hữu. Đúng hơn, đó là, các công trình vĩ đại của họ sẽ không được thực hiện nếu không có Kitô Giáo. Liệu rằng họ sẽ tạo thành các công trình vĩ đại khác không? Chúng ta không biết. Điều chúng ta biết là Kitô Giáo đã đem lại những đường nét độc đáo cho thiên tài của họ. Không đâu có sự hứng khởi con người quá cao hay rung động tâm hồn quá sâu đậm hơn là các công trình về nghệ thuật, kiến trúc, văn chương và âm nhạc có sắc thái Kitô Giáo.
Ngay cả các nghệ nhân tẩy chay Kitô Giáo cũng hoàn thành các tác phẩm mà chắc chắn được khuôn đúc bởi các chủ đề của Kitô Giáo. Ông Goethe là một loại người phiếm thần, họ coi Thiên Chúa không khác gì với thiên nhiên, tuy nhiên tác phẩm Faust của ông là một chuyện ngụ ngôn thâm thúy xuất phát từ các đề tài đau khổ, biến đổi và cứu chuộc của Kitô Giáo. Những người vô thần và theo chủ thuyết hoài nghi nổi tiếng--tỉ như Voltaire và Nietzsche—thì không thể hiểu được nếu không có Kitô Giáo (Voltaire được giáo dục bởi các linh mục dòng Tên; cha của Nietzsche là một mục sư và tựa đề cuốn tự truyện của ông Ecce Home, có liên hệ đến điều mà Philatô đã nói về Chúa Kitô: "đây là người.")
Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đọc những cuốn như Freethinkers của Susan Jacoby mà bà tán dương sự kiện rằng chúng ta sống trong một xã hội hầu như hoàn toàn thế tục. Chúng ta thấy Sam Harris nhấn mạnh rằng, phát triển một nền luân lý độc lập với Kitô Giáo hay tôn giáo nói chung là điều rất có thể. Chúng ta đọc Free Inquiry của Theodore Schick Jr. và ông nhấn mạnh rằng các triết gia rất đặc biệt tỉ như John Stuart Mill và John Rawls "từng chứng minh rằng rất có thể có được một nền luân lý tổng quát mà không có Thiên Chúa."
Ở đây có sự mơ hồ lớn lao. Chúng ta hơi chút mơ hồ khi biết rằng chữ "secular" (thế tục) thì tự nó là một danh từ của Kitô Giáo. Trong đạo Công Giáo, một linh mục gia nhập một cộng đoàn chuyên về chiêm niệm và rút lui khỏi thế gian thì được coi là gia nhập một dòng "tôn giáo", trong khi một linh mục sống trong giáo xứ giữa những người thường thì được coi là linh mục "thế tục." Như chúng ta sẽ thấy, chủ nghĩa thế tục tự nó là một sáng chế của Kitô Giáo. Các giá trị thế tục cũng là sản phẩm của Kitô Giáo, ngay cả khi chúng bị tách biệt khỏi nguồn gốc nguyên thủy.
Nếu tất cả điều này đúng thì thật sai lầm khi có thành kiến chống với sự nhận biết và giảng dậy về vai trò của Kitô Giáo. Tín hữu cũng như không tín hữu đều phải tôn trọng Kitô Giáo như một phong trào đã tạo nên văn minh của chúng ta. Chúng ta phải qúy trọng di sản Kitô Giáo không chỉ như một vật gia truyền nhưng như một sự hiện diện sống động trong xã hội, và chúng ta phải lo rằng điều gì sẽ xảy ra cho nền văn minh chúng ta nếu Kitô Giáo biến dạng khỏi Tây Phương và tự thiết lập trong các nền văn hóa không phải Tây Phương.
Thay vì thử thiết lập bản liệt kê các thành quả của Kitô Giáo, tôi sẽ truy nguyên ảnh hưởng của Kitô Giáo ở Tây Phương bằng việc chú trọng đến ba ý tưởng chính. Ý tưởng thứ nhất sẽ được khai triển trong chương này và hai ý tưởng kế tiếp trong các chương tiếp theo. Trước hết tôi để ý đến ý tưởng tách biệt các phạm vi tôn giáo và chính quyền. Tuy ý niêm này ngày càng trở nên mập mờ và bị xuyên tạc trong thời đại chúng ta, ý niệm nguyên thủy thì rất hay. Chúng ta nghĩ rằng sự tách biệt tôn giáo và chính quyền như một ý tưởng của người Hoa Kỳ hay ý tưởng thời Khai Sáng, nhưng trước đó từ lâu nó là một ý tưởng của Kitô Giáo. Đức Kitô dường như là người đầu tiên nghĩ về điều đó. Như chúng ta đọc trong Phúc Âm Mátthêu 22:21, Đức Kitô nói, "Hãy trả lại cho Xêda những gì thuộc về Xêda, và trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa."
Để nhìn thấy tính cách cấp tiến của tư tưởng Đức Kitô, tôi quay về với văn sĩ cổ người La Mã, Celsus, là người thuộc thế kỷ thứ hai đã viết một bài tấn công Kitô Giáo rất có ảnh hưởng. Tài liệu của Celsus đã bị thất lạc, nhưng giáo phụ Origen đã công bố bài phản bác, Contra Celsum, nhờ đó chúng ta có thể thấy lý luận của ông. Trên căn bản, Celsus kết án người tín hữu Kitô là vô thần.
Ông không đùa. Với người Hy Lạp và La Mã thời xưa, các thần mà người ta phải thờ cúng là các thần của nhà nước. Mỗi một cộng đồng có các thần riêng của mình—đó là thời đại đa thần—và tinh thần ái quốc đòi hỏi một công dân Athen phải dâng cúng cho các thần của Athen và một công dân Rôma phải thần phục các thần của Rôma. Celsus nổi giận, người tín hữu Kitô từ chối thờ các thần của người Rôma. Họ không công nhận hoàng đế La Mã như một vị thần, tuy Xêda đã được Thượng Viện Rôma nâng lên hàng thần thánh. Thay vào đó, tín hữu Kitô nhấn mạnh đến việc thờ phụng một thần bên ngoài, thề trung thành với thần ấy trên cả sự trung thành với nhà nước. Thật là sự phạm thượng! Thật là sự phản quốc!
Tôi không ám chỉ rằng người Hy Lạp và La Mã xưa thì đặc biệt "đạo đức". Ông Gibbon cho biết các triết gia và viên chức chính phủ có thái độ rất khác biệt với công dân thường về việc đối xử với các thần: "Các kiểu thờ phượng khác nhau được thấy trong thế giới La Mã thì tất cả được nhìn bởi người dân là đúng như nhau, bởi triết gia là sai như nhau, và bởi quan tòa là hữu dụng như nhau." Ngay cả vậy, căn tính tôn giáo trong thế giới xưa thì có sự ràng buộc không thể chia lìa với bộ lạc và cộng đồng của bạn. Bạn không thể là một người Dinka tốt và không thờ các thần của Dinka, dù đó là hòn đá hay tảng đá hay mặt trời. Bạn cũng không thể là một người Rôma tốt và không tán dương các thần của Rôma, dù là Apollo, Bacchus, hay Jupiter.
Kitô Giáo giới thiệu không chỉ một tôn giáo mới nhưng còn một ý niệm mới về tôn giáo. Cuộc cách mạng văn hóa này ở Tây Phương quá thành công đến độ ngày nay, các phiếm thần xa xưa chỉ còn được thấy trong các tên của hành tinh và trong bảng tử vi những người theo khoa chiêm tinh. Người vô thần không thèm tin vào thần Baal hay Zeus và việc cầu khẩn họ chỉ làm cho mọi tôn giáo nghe có vẻ ngờ nghệch. Mục tiêu thực sự của người vô thần là Thiên Chúa của độc thần giáo, thường là Thiên Chúa của Kitô Giáo.
Kitô Giáo không phải là đạo độc thần đầu tiên. Có nhiều dấu vết của độc thần giáo trong tôn giáo cổ của người Ba Tư là đạo thờ lửa. Người Ba Tư là tín đồ của đơn nhất thần đạo: dường như họ tin có nhiều thần nhưng chỉ có một thần tối cao quyền thế hơn các thần khác. Người Do Thái là tín đồ độc thần giáo đầu tiên, họ đi theo ý niệm một Thiên Chúa, Đấng hiện thân mọi đức tính và đáng được loài người thờ phượng và tuân phục: "các ngươi không được có thần nào khác ngoài ta." Trong Cựu Ước chúng ta có thể chứng kiến cuộc chiến giữa độc thần giáo Do Thái và khuynh hướng đa thần vẫn còn mạnh mẽ, được thấy trong các tình tiết của người Do Thái thờ thần Baal, Moloch, và bò vàng.
Kitô Giáo chấp nhận độc thần giáo Do Thái và dẫn giải nó vừa có tính cách hoàn vũ vừa có tính cách cá biệt. Không có chủ nghĩa cá nhân trong Do Thái Giáo của người Israel xa xưa; người Do Thái thờ phượng Giavê như một bộ lạc và như một cộng đồng. Cá nhân người Do Thái không có sự lựa chọn về vấn đề này. Khi ông Môsê từ núi đi xuống và thấy dân Israel thờ bò vàng, ông không nghĩ rằng họ chỉ muốn đi theo một đức tin khác. "Tự do tôn giáo" không được phép ở đây. Thái độ của ông Môsê có chút gay gắt; hoặc đi theo Giavê, Thiên Chúa độc nhất của người Do Thái, hoặc bị giết chết. Một số người không khôn ngoan đã chọn thờ bò vàng, và ông Môsê đã ra lệnh giết tất cả.
Thiên Chúa trong Cựu Ước là một vị thần hoàn vũ, tuy nhiên cùng lúc dường như Người là Thiên Chúa của một bộ tộc. Người liên hệ chính yếu đến tuyển dân của Người, và kẻ thù của Israel là kẻ thù của Người. Người Do Thái không mong đợi người Ai Cập và Rôma đi theo Thiên Chúa, tuy họ coi Thiên Chúa vượt trên cả các thần của người Ai Cập và La Mã. Do đó, không ngạc nhiên gì khi độc thần giáo của Do Thái nói chung không được coi là mối đe dọa đối với ngoại giáo La Mã. Thật vậy, người La Mã chỉ coi vị thần của người Do Thái là một trong các thần của họ. Do Thái Giáo là một tôn giáo hợp pháp trong đế quốc La Mã; Kitô Giáo thì không, tối thiểu cho đến khi hoàng đế Constantine trở lại Kitô Giáo. Lý do để cấm đoán và bách hại Kitô Giáo là vì người tín hữu Kitô cho rằng Thiên Chúa không chỉ riêng cho họ mà còn cho toàn thế giới.
Tiềm tàng trong độc thần Kitô Giáo là sự phê bình tính cách đa thần của dân ngoại. Theo người tín hữu Kitô, các thần của Hy Lạp và La Mã là những sáng chế của con người. Hãy nhìn đến các thần ở Homer. Mỗi một người dường như hiện thân một đức tính con người: Aphrodite là nữ thần của đam mê tình dục, Ares là thần của sự xung đột, vân vân. Các thần này cũng có những phù phiếm nhỏ nhen và ghen tương như con người. Các đức tính của họ là các đức tính con người được phóng đại. Như văn sĩ kinh điển Mary Lefkowitz đã viết, "Đời sống của các thần này là một hình thức đời sống con người được lý tưởng hóa cao độ nếu loài người được bất tử, trẻ mãi không già và mạnh mẽ." Thật cay đắng, sự chỉ trích việc sáng chế các thần này, mà chúng dường như có giá trị khi được phát động chống với thuyết đa thần xưa, thì ngày nay lại được nhắm đến việc chống Kitô Giáo. Như Daniel Dennett và Richard Dawkins sẽ đồng ý, người tín hữu Kitô cũng sáng chế ra Thiên Chúa của họ. Nhưng Thiên Chúa Kitô Giáo thì không giống con người chút nào. Người vượt lên trên không gian và thời gian. Người không có thân xác. Người là một bản thể thuần túy tinh thần. Loài người chỉ có thể hiểu lờ mờ về Người, con người phải nhờ đến các hình ảnh và sự loại suy có tính cách nhân hình luận (anthropomorphic).
Độc thần giáo là một ý tưởng quan trọng lớn lao, nhưng như chúng ta có thể thấy ngày nay người Hồi Giáo giải thích như thế nào, nó là một ý tưởng có thể được dùng để biện minh cho chế độ thần quyền. Khi dùng chữ chế độ thần quyền, tôi không muốn nói sự cai trị của hàng tư tế. Tôi chỉ muốn nói rằng lề luật của Thiên Chúa được nới rộng ra đến mọi lãnh vực của xã hội và đời sống con người. Đây là trường hợp của Do Thái xưa, và đây từng là truyền thống của Hồi Giáo. Tiên tri Môhamét khi còn sống thì vừa là một ngôn sứ vừa là một Xêda, là người nhập nhằng giáo hội với quốc gia. Theo gương của ông, các người cai trị các đế quốc Hồi Giáo, từ Umayyad cho đến Ottaman, tự coi mình là đại diện cho Ala trên mặt đất, có nhiệm vụ thiết lập luật lệ Hồi Giáo trên toàn thế giới và nếu có thể đưa mọi phần đất đặt dưới quyền của thánh luật Hồi Giáo. Sử gia Bernard Lewis viết rằng "Trong Ả Rập cổ điển và trong các ngôn ngữ cổ của Hồi Giáo, không có hai chữ đi liền với nhau như 'giáo dân' và 'giáo hội', 'thiêng liêng' và 'tạm thời', 'trần tục' và 'tôn giáo', bởi vì những chữ này diễn tả một sự phân biệt của Kitô Giáo mà không có sự tương đương trong thế giới Hồi Giáo." Ngay cả ngày nay, ở những quốc gia Hồi Giáo nghiêm khắc như Saudi Arabia chúng ta thấy luật Hồi Giáo (sharia) vượt ra ngoài luật tôn giáo để bao trùm cả luật thương mại, dân luật, và luật về gia đình.
Trong Kitô Giáo thì không như vậy. Lý do thì đã được nêu rõ trong cuốn nổi tiếng The City of God của Augustine, một giáo phụ. Augustine lý luận rằng trong khi chúng ta còn sống ở mặt đất, tín hữu Kitô cư ngụ trong hai lãnh vực, thành phố dưới đất và thành phố thiên đàng. (Chỉ khi lúc tận thế Thiên Chúa sẽ hội nhập hai lãnh vực thành một vương quốc uy nghi duy nhất do Người cai trị). Công dân Kitô Hữu có bổn phận đối với mỗi một lãnh vực này, nhưng bổn phận không giống nhau. Đúng vậy, người tín hữu Kitô phải hết lòng tận tụy với thành phố trên trời. Nhưng theo sau bổn phận chính yếu này là những kết luận đáng chú ý. Nó có nghĩa rằng thành phố dưới đất không cần phải lưu tâm với vấn đề chung cục hay định mệnh tối hậu của con người. Nó cũng hàm ý rằng những yêu sách của thành phố dưới đất thì có giới hạn, và một lương tâm thiêng liêng trong mỗi một con người bảo vệ họ khỏi sự kiểm soát chính trị, và các vua cũng như hoàng đế, tuy quan trọng, nhưng không thể lấn lướt quyền bính chỉ thuộc về một mình Thiên Chúa.
Ở đây chúng ta thấy có manh nha về ý tưởng của một chính quyền hạn chế. Ý tưởng này xuất phát từ nhận thức của Kitô Giáo rằng lãnh vực của nhà cầm quyền thì bị giới hạn và có những hạn chế mà họ không thể vượt ra ngoài. Những giới hạn đó lúc đầu do giáo hội đặt ra để cạnh tranh với nhà nước và thiết lập lãnh vực thẩm quyền cho chính mình. Chúng ta nên nhớ rằng giáo hội không chỉ là một tổ chức thuần túy tinh thần--tổ chức sinh hoạt phụng vụ và ban các bí tích—nhưng còn là một thẩm quyền thế tục, làm chủ các bất động sản và trong một số trường hợp còn có cả quân binh. Trong nhiều thế kỷ, các vua và giáo hội tranh giành nhau về cách phân chia ranh giới giữa hai lãnh vực, nhưng cả hai đồng ý rằng phải có một ranh giới. Bây giờ các vua được thay thế bởi chính phủ dân chủ, nhưng Kitô Giáo vẫn duy trì ý tưởng rằng có một số điều mà ngay cả các chính phủ dân cử cũng không thể kiểm soát.
Ý tưởng về một chính phủ hạn chế của chúng ta ngày nay được lấy từ quan niệm của Kitô Giáo về sự cách biệt mà nhà nước không có quyền kiểm soát và nới rộng nó để bao trùm toàn thể lãnh vực riêng tư. Đây là sự tinh biệt quan trọng chúng ta thấy ở Tây Phương giữa lãnh vực nhà nước và xã hội. "Xã hội" bao trùm mọi sinh hoạt của người dân, trong khi "nhà nước" ám chỉ một lãnh vực được mô tả rõ rệt về thẩm quyền chính phủ. Nhà nước có thể xâm phạm phần đất mà trước đây thuộc về lãnh vực tư nhân, nhưng không thể chiếm trọn lãnh vực tư nhân. Ngay cả một chính phủ được 99 phần trăm dân chúng tuyển chọn cũng không có quyền nói với 1 phần trăm dân còn lại là họ phải theo đảng Cộng Hòa, chỉ được ăn rau trái, hoặc ngay cả là tín hữu Kitô. Nếu làm như vậy, chính phủ hợp pháp sẽ trở thành chính phủ độc tài, và người dân có quyền chống đối và thay thế.
Nếu lãnh vực của chính phủ phải được hạn chế thì lãnh vực giáo hội cũng vậy. Như Đức Kitô đã nói, "Vương quốc của tôi không thuộc về thế gian này." Thiên Chúa muốn tự giới hạn lãnh vực cai trị trần thế không phải vì Người bị giới hạn, nhưng vì Người đã trao một phần vương quốc của Người cho nhân loại để quản lý ở trần gian. Ý niệm Kitô Giáo này không chỉ có người Athen và Rôma xưa không thể hiểu mà cả người Israel xưa cũng vậy. Trong khung cảnh mới của thuyết phổ quát Kitô Giáo, cùng một Thiên Chúa cai trị toàn thể vũ trụ, nhưng mỗi một quốc gia có luật lệ và văn hóa riêng cho mình.
Lãnh vực của Thiên Chúa là lãnh vực của giáo hội. Luật lệ của Thiên Chúa ở đây là tối cao, tuy phải có những người giải thích ở trần thế để có thể hiểu và áp dụng. Ngay cả như vậy, cũng còn một lãnh vực thế tục hoạt động bên ngoài sự kiểm soát của giáo hội. Ở đây chúng ta thấy làm thế nào ý tưởng "thế tục" lại là một sáng tạo của Kitô Giáo.
Thật quan trọng để biết rằng sự tách biệt giữa hai lãnh vực nhà nước và giáo hội đã có ngay từ khởi đầu Kitô Giáo. Nó không phải là một phát minh hiện đại, tuy trong thời đại ngày nay sự tách biệt này được khoác cho một hình thức mới và có phần nào ác ý. Ở Rôma thời Xêda, các nhà cai trị là hoàng đế, và giáo hội Kitô Giáo là một thiểu số bị bách hại hoàn toàn tách biệt với đế quốc này. Khi Kitô Giáo trở nên tôn giáo chính thức của đế quốc Rôma trong cuối thế kỷ thứ tư, hai lãnh vực này có sự pha trộn nào đó. Nhưng ngay cả vậy, giáo hội chỉ ban phát các bí tích và hoàng đế ban hành và củng cố luật lệ. Ngay cả trong thời kỳ bi thảm Tòa Thẩm Tra Tây Ban Nha, nếu bạn phạm tội lạc giáo bạn sẽ bị giáo hội xét xử, nhưng nếu bạn phạm tội giết người bạn sẽ bị nhà nước xét xử. Do đó trong toàn thể lịch sử Tây Phương, giáo hội và nhà nước hành xử khác nhau dù quyền tài phán chồng chéo lên nhau. Do đó ngày nay ở Tây Phương, chúng ta trố mắt kinh hãi khi thấy chính phủ Hồi Giáo đề nghị xử tử phụ nữ nào từ chối không đeo khăn che mặt như tôn giáo bó buộc, hoặc xử tử bất cứ ai dám bỏ đạo mà theo Kitô Giáo.
Nhưng kiểu cách này cũng đã xảy ra ở Tây Phương, và không may người vi phạm lại là Kitô Hữu. Khởi sự từ thời Kitô Giáo trở thành tôn giáo chính thức của đế quốc Rôma, kéo dài cho đến thời Tòa Thẩm Tra Tây Ban Nha, và ngay cả cho đến thế kỷ thứ mười bảy, các nhà cầm quyền Kitô Giáo với sự hỗ trợ của các giáo hội đã dùng quyền lực của nhà nước để bắt buộc người khác phải tuân theo tôn giáo chính thống. Cả người Công Giáo cũng như Tin Lành đều phạm tội này. Những người Puritan (Thanh Giáo) rời Anh Quốc đến Hoa Kỳ không phải để trốn tránh sự bách hại của Công Giáo nhưng là sự bách hại của Anh Giáo. Mục đích của họ khi đi tìm đất riêng cho mình thì không phải để cho phép mọi người được tự do tôn giáo nhưng đúng hơn để áp đặt kiểu cách chính thống của mình lên toàn thể xã hội.
Trong những phương cách nào đó, động lực của những người Kitô Giáo chuyên chế này thì có thể hiểu được. Đôi khi các động lực ấy rất có ý nghĩa. Họ tin rằng mình là những người nắm được chân lý duy nhất, nhưng động lực thúc đẩy họ là hãy lưu tâm đến người khác đi đến mức thái quá, họ sử dụng đến cả nhà tù và cưỡng bức để giành được một người về phía mình. Tuy nhiên, khi làm như vậy, họ đã lầm lẫn giữa Kitô Giáo và thế giới Kitô Giáo. Họ cố gắng thiết lập thành phố trên trời ngay ở dưới đất, đó chính là điều Augustine cảnh cáo, cũng như Đức Kitô đã cảnh cáo trước đó. Hơn thế nữa, họ vi phạm nguyên tắc được Thiên Chúa thiết lập ngay trong Vườn Địa Đàng. Thật dễ dàng để Thiên Chúa ép buộc ADong và Evà phải tuân theo mệnh lệnh của Người, nhưng Thiên Chúa đã không làm. Tuy Người biết họ sẽ chọn sai. Người tôn trọng sự tự do của họ để cho phép họ chọn lựa. Sự tự do thi hành điều tốt lành cũng ám chỉ tự do từ chối điều tốt lành.
Các nhà tư tưởng hiện đại từ ban đầu như John Locke là các tín hữu Kitô thành thật và thực tế. Họ đã phát minh ý niệm khoan dung tôn giáo không bởi vì họ muốn làm tan biến hay giảm bớt ảnh hưởng của Kitô Giáo, nhưng vì họ thấy loại Kitô Giáo sai lầm đã thống trị xã hội Tây Phương. Những người như Locke rất đúng khi ghê tởm một số lạm dụng xảy ra nhân danh Kitô Giáo. Do đó, vì vấn nạn Kitô Giáo này—chia cắt và tranh giành—họ đề ra một giải pháp Kitô Giáo: tự do tôn giáo. Ý tưởng này được hình thành qua nhiều giai đoạn, giai đoạn đầu tiên là khoan dung tôn giáo. Chữ khoan dung có xuất xứ từ tiếng Latinh có nghĩa "chịu đựng," và khoan dung có nghĩa "kiên nhẫn chịu đựng." Sự khoan dung bao gồm mầm mống bất đồng và ngay cả khinh miệt: Tôi dung thứ bạn bởi vì tuy tôi tin là bạn sai lầm, tôi sẽ chịu đựng bạn và để bạn cố chấp trong sự lầm lạc của bạn. Sự khoan dung của Locke ảnh hưởng đến hầu hết các giáo phái Tin Lành nhưng không ảnh hưởng đến Công Giáo.
Những người sáng lập quốc gia Hoa Kỳ nới rộng ý niệm khoan dung và tạo thành một ý tưởng táo bạo mới mẻ mà Âu Châu chưa biết: sự tự do lương tâm. Văn kiện "Peace of Westphalia" (1648) đề ra một quy luật thực tiễn là tôn giáo của người cầm quyền trở nên tôn giáo của nhà nước. Nhưng đây chỉ là một giải pháp thỏa hiệp nhắm đến việc chấm dứt sự cãi cọ vô tận giữa nhiều giáo phái Kitô khác nhau. Trong một số phương cách nào đó, "sự tách biệt giữa giáo hội và nhà nước" cũng được hình thành ở Hoa Kỳ với cùng một lý do. Có một vài giáo phái muốn thống trị và áp đặt tôn giáo của họ thành luật, nhưng không có giáo phái nào mạnh đủ để thi hành điều đó ở mọi nơi. Những người Thanh Giáo chiếm ưu thế ở Massachusetts, nhưng người Anh Giáo lại là đa số ở Virginia, và cũng có một số Công Giáo đáng kể ở Maryland. Sau cùng nhiều nhóm đồng ý là để chính phủ ra ngoài tôn giáo. Điều khoản thiết lập Tu Chính Án Đầu Tiên được thông qua phần lớn là nhờ sự hỗ trợ của Kitô Hữu. Như John Courtney Murray đã nói, đó không phải là một điều khoản tôn giáo, nhưng một điều khoản hòa bình.
Đặc điểm của các nhà sáng lập Hoa Kỳ là họ vượt lên trên sự khoan dung để nhấn mạnh rằng chính phủ trung ương phải hoàn toàn đứng ngoài vấn đề thần học. Bất kể tính cách mới lạ của nó, ý tưởng này là một khái niệm hết sức Kitô Giáo. Phần lớn những người sáng lập là tín hữu Kitô đạo đức, tuy một số trong nhóm, tỉ như Thomas Jefferson, là người Deist (hữu thần giáo). Nhưng dù họ có biết hay không, họ đang theo quy tắc của Đức Kitô là giữ cho các lãnh vực của Xêda và Thiên Chúa tách biệt nhau. Không cách chi các nhà sáng lập từ chối các nền tảng Kitô Giáo của quá khứ nước Hoa Kỳ. Ngay cả Jefferson, có lẽ là người ít đạo đức nhất trong nhóm, lý luận rằng chính đức tin tôn giáo là nền tảng cho chính sự tự do: "Và có thể nào những sự tự do của một quốc gia được nghĩ là an toàn khi chúng ta lấy đi nền tảng duy nhất bền bỉ của chúng, một sự tin tưởng trong tâm trí người dân rằng những tự do này là quà tặng của Thiên Chúa? Rằng có thể nào những sự tự do ấy bị vi phạm mà Người không nổi giận?" Sau cuộc Cách Mạng, các nhà sáng lập tiếp tục duy trì những ngày cầu nguyện công cộng, chỉ định vị tuyên úy cho Quốc Hội và các lực lượng quân sự, và đề cao các giá trị tôn giáo trong các trường thuộc Northwest Territory.
Họ cũng không tìm cách biệt lập chính phủ trung ương với phạm vi luân lý. Không có "bức tường ngăn cách" thiết lập ở đây. Trái lại, các nhà sáng lập tin rằng luân lý là điều không thể thiếu cho hình thức mới của chính phủ nếu muốn thành công. Hầu hết họ chia sẻ quan điểm của George Washington như được bày tỏ trong bài diễn văn từ giã: "Chúng ta hãy cẩn thận ấp ủ giả thuyết rằng có thể duy trì luân lý mà không cần đến tôn giáo." John Adams còn đi xa hơn nữa: "Hiến Pháp của chúng ta được thiết lập chỉ cho một dân tộc có luân lý và tôn giáo." Đồng thời, các nhà sáng lập nhận biết rằng những khác biệt có tính cách thần học thì thuộc phạm vi mặc khải và vì vậy không phải là một chủ đề thích hợp cho cuộc tranh luận dân chủ. Họ tìm cách loại bỏ những khác biệt thần học chính là để có thể bất đồng khi tranh luận về vấn đề luân lý, và vì vậy luật lệ có thể phản ảnh cảm thức luân lý phổ thông của người dân.
Khi đến thăm Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ mười chín, Alexis de Tocqueville nhận xét rằng "các giáo phái ở Hoa Kỳ thì nhiều vô kể," tuy vậy "mọi giáo phái giảng dậy cùng một quy tắc luân lý nhân danh Thiên Chúa." Tocqueville cho là tôn giáo đứng hàng đầu các tổ chức chính trị ở Hoa Kỳ, điều đó có nghĩa nó có ảnh hưởng sâu đậm đến quần chúng trong sự điều hòa luân lý và còn hơn thế nữa trong toàn thể xã hội. Và ông thấy Kitô Giáo ngăn chặn bản năng tự nhiên con người là ích kỷ và tham vọng bằng cách nêu cao lý tưởng bác ái và tận tụy với hạnh phúc của tha nhân.
Các tòa án ngày nay đã sai lầm giải thích sự tách biệt giữa giáo hội và nhà nước có nghĩa rằng tôn giáo không còn chỗ đứng nơi công cộng, hoặc không được phép dùng điều luân lý xuất phát từ tôn giáo để khuôn đúc luật lệ của chúng ta. Bằng cách nào đó sự tự do để bày tỏ tôn giáo trở nên sự tự do tách biệt khỏi những bày tỏ tôn giáo. Những người thế tục muốn quét sạch tôn giáo và luân lý có nền tảng tôn giáo ra khỏi công cộng để họ có thể giữ độc quyền chia sẻ quan điểm riêng của họ cho xã hội. Trong tiến trình này, họ biến các tín đồ trở thành công dân hạng hai. Đây là sự bóp méo ghê gớm một ý tưởng cao qúy mà đó cũng chính là ý tưởng của Kitô Giáo. Sự tách biệt giữa các lãnh vực không phải là một vũ khí chống với Kitô Giáo; đúng ra, nó là một dụng cụ được Kitô Giáo cung cấp để đề cao hòa bình xã hội, tự do tôn giáo, và một cộng đồng có luân lý. Nếu chúng ta tái khám phá ý niệm này với ý nghĩa đích thực của nó, xã hội chúng ta sẽ tốt hơn nhiều.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks