CHƯƠNG 2
SỰ SỐNG CÒN CỦA ĐIỀU LINH THIÊNG:
TẠI SAO TÔN GIÁO ĐANG THẮNG LỢI
"Cường tráng, mạnh khỏe, và vui sướng thì tồn tại và phát triển."
Charles Darwin, The Origin of Species
S
ự phát triển liên tục của tôn giáo trên toàn thế giới không thể lọt qua mắt của những người vô thần có thế lực. Một số những người không có đức tin này, hầu hết theo thuyết Darwin , thẳng thắn bày tỏ sự kinh ngạc trước sự tồn tại mạnh mẽ của tôn giáo. Những người theo thuyết Darwin tin rằng phải có những giải thích có tính cách sinh vật học về lý do tại sao trong mọi nền văn hóa kể từ khi bắt đầu có lịch sử, người ta đã tìm thấy và tiếp tục tìm thấy sự khuây khỏa nơi tôn giáo. Nhà sinh vật học Richard Dawkins thú nhận rằng tôn giáo đề ra "vấn đề nan giải lớn lao cho bất cứ ai suy nghĩ theo đường lối của Darwin ."
Theo cái nhìn tiến hóa, đây là nan đề. Các học giả như nhà nhân loại học Scott Atran cho rằng niềm tin tôn giáo thì không gì khác hơn là ảo giác. Artran quả quyết rằng niềm tin tôn giáo đòi hỏi phải chấp nhận "những gì sai lạc về vật chất sẽ trở nên đúng" và "những gì đúng về vật chất sẽ trở nên sai lạc." Atran và những người khác tin rằng tôn giáo đòi hỏi một sự ủy thác vào "những thế giới không thể đúng như sự thật." Vậy, câu hỏi được đặt ra là tại sao loài người lại tiến hóa theo một phương cách nào đó để rồi họ tin vào những gì không hiện hữu.
Triết gia Daniel Dennett phát biểu vấn đề một cách rõ ràng: "Nền tảng để đo lường giá trị tiến hóa là sự phù hợp--khả năng sinh sôi nảy nở thành công hơn đối phương." Nhưng xét theo bề ngoài, tôn giáo dường như vô dụng theo quan điểm tiến hóa này. Nó mất thời giờ và tiền bạc, và nó xui giục các tín đồ hãy hy sinh sự thịnh vượng của mình cho những ích lợi của tha nhân, là những người nhiều khi hoàn toàn xa lạ.
Các tín đồ xây thánh đường và kim tự tháp mà các cơ sở ấy không được dùng trong công việc gì khác hơn là thờ phượng và chôn cất. Đạo Do Thái xưa sát tế những con bê béo để dâng lên Giavê, và ngày nay họ còn giết cả chiên và gà trên bàn thờ. Các tín đồ đôi khi còn kiêng cữ một vài thức ăn nào đó—đối với người Ấn Giáo con bò thì linh thiêng, và con heo thì xấu xa đối với người Hồi Giáo. Kitô Hữu đóng góp và tặng tiền bạc cho giáo hội. Người Do Thái tuân giữ ngày Sabát, như tín hữu Kitô giữ ngày Chúa Nhật. Tín đồ đọc kinh và đi hành hương. Một số trở thành nhà truyền giáo hoặc hy sinh cuộc đời để phục vụ người khác. Một số sẵn sàng hy sinh tính mạng vì niềm tin tôn giáo.
Nhà sinh vật học theo thuyết tiến hóa bị lúng túng: tại sao các tạo vật tiến hóa như con người, có khuynh hướng tồn tại và sinh sản, lại thi hành những điều dường như không có liên can và ngay cả độc hại đối với đối tượng? Đây là một câu hỏi hóc búa, không chỉ vì tôn giáo đưa ra một nan đề có tính cách trí thức cho giới Darwin, nhưng cũng vì giới Darwin hy vọng rằng khi giải thích được sự hiện hữu của tôn giáo họ có thể phô bầy các nguồn gốc tự nhiên của tôn giáo và sự hiểu biết về quyền lực siêu nhiên của tôn giáo. Nhà sinh vật học E.O. Wilson viết "chúng ta đi đến một giai đoạn chủ yếu trong lịch sử sinh vật học khi chính tôn giáo phải chịu sự giải thích của các khoa học tự nhiên." Ông bày tỏ sự hy vọng rằng một ngày nào đó không lâu "khía cạnh quyết liệt sau cùng sẽ đến khi ngành khoa học tự nhiên sẽ giải thích được tôn giáo truyền thống, địch thủ chính yếu của nó, như là một hiện tượng hoàn toàn vật chất."
Cho đến bây giờ, các thuyết tiến hóa này đã có tiến bộ nào khi giải thích về sự thành công của tôn giáo chưa? Dawkins viết, "Nguyên do gần đúng của tôn giáo có thể là tính hiếu động trong một giao điểm đặc biệt nào đó của não bộ." Ông cũng suy đoán rằng "ý tưởng bất tử được tồn tại và lan tràn vì nó nuôi dưỡng mơ tưởng." Nhưng nó không tạo ra ý thức tiến hóa để trí óc phát triển thành những điều tin tưởng khuây khỏa mà hiển nhiên là sai lầm. Tâm lý gia về nhận thức là Steven Pinker giải thích, "Một người đang chết cóng thì không thấy khuây khỏa khi tin rằng mình đang ấm áp. Một người đang đối diện với sư tử thì không an tâm khi tin rằng mình là một con thỏ." Mơ tưởng theo kiểu này sẽ tan biến mau chóng khi chủ thể bị chết cóng và bị ăn thịt.
Tuy nhiên, giải pháp của chính Pinker thì cũng không khá hơn của Dawkins. Ông đưa ra giả thuyết rằng có lẽ trong não bộ có một "yếu tố Thiên Chúa" khiến người ta tin vào Đấng Toàn Năng. Pinker viết, yếu tố đó có thể không nhằm mục đích sinh tồn nhưng có thể biến hóa thành một phó sản phẩm của các yếu tố khác với giá trị tiến hóa. 8 Kiểu nói này không khác gì thú nhận rằng không thể giải thích theo kiểu Darwin . Nói cho cùng, nếu một "yếu tố Thiên Chúa" tạo ra niềm tin nơi Thiên Chúa, thì "yếu tố Darwin " tạo ra niềm tin nơi sự tiến hóa?
Tuy vậy, vấn đề được nêu lên bởi giới Darwin thì không phải là điên rồ. Các nhà sinh vật học như Dawkins và Wilson nói rằng tuyệt đối phải có sự giải thích có tính cách tiến hóa và tự nhiên về tính phổ quát và kiên trì của niềm tin tôn giáo, và họ rất đúng. Có sự giải thích như vậy, và tôi rất vui để cung cấp một sự giải thích trong chương này. Mục Sư Randy Alcorn, người sáng lập phái Eternal Perspective Ministries ở Oregon, nhiều khi trình bầy cho khán giả hai câu chuyện tạo dựng và ông hỏi họ vấn đề sự thật của câu chuyện có quan trọng không. Trong câu chuyện thế tục, "Quý vị là hậu duệ của một tế bào nhỏ xíu của một nguyên sinh chất thời xa xưa bị trôi dạt vào một bờ biển trống vắng cách đây ba tỉ rưỡi năm. Quý vị là sản phẩm bất chợt và tùy tiện của thời gian, cơ hội, và các động lực tự nhiên. Quý vị chỉ là một mớ phân tử, một chất kết hợp di truyền. Qúy vị hiện hữu trong một tinh cầu li ti trong một thái dương hệ nhỏ xíu ở một góc vô nghĩa của vũ trụ. Qúy vị thuần tuý chỉ là một thực thể sinh vật học, chỉ khác biệt ở mức độ nhưng thể loại thì không khác gì vi trùng, vi khuẩn. Ngoài thể xác quý vị không có thực chất, và khi chết qúy vị sẽ tuyệt đối ngừng hiện hữu. Nói tóm lại, qúy vị đến từ hư không và không biết sẽ đi về đâu."
Ngược lại, theo quan điểm Kitô Giáo, "Quý vị là tạo vật đặc biệt của một Thiên Chúa nhân lành và toàn năng. Qúy vị được dựng nên theo hình ảnh của Người, với khả năng suy nghĩ, cảm nhận, và thờ phượng mà nhờ đó cao hơn tất cả các hình thức sự sống khác. Qúy vị khác với loài vật không chỉ ở mức độ nhưng còn ở bản tính. Bản tính của qúy vị không chỉ độc đáo, nhưng chính qúy vị còn độc đáo giữa dòng giống. Đấng Tạo Hóa rất yêu thương qúy vị và rất muốn được bầu bạn với qúy vị và muốn dành được thiện cảm qúy vị đến độ Người đã hoạch định một chương trình tuyệt hảo cho cuộc đời qúy vị. Ngoài ra, Thiên Chúa đã hy sinh mạng sống đứa con duy nhất của Người để quý vị có thể sống vĩnh viễn với Người. Nếu quý vị muốn đón nhận món quà cứu độ, quý vị có thể trở nên con cái Thiên Chúa."
Bây giờ hãy tưởng tượng ra hai nhóm người—hãy gọi đó bộ lạc thế tục và bộ lạc tôn giáo—với hai quan điểm nói trên. Nhóm nào có vẻ muốn sinh tồn, phát triển và sinh sản? Bộ lạc tôn giáo được hình thành bởi những người có ý thức mạnh mẽ về mục đích. Bộ lạc thế tục gồm những người không biết chắc tại sao họ lại hiện hữu. Bộ lạc tôn giáo bao gồm những người lưu tâm đến từng ý nghĩ và hành động như hậu quả đương nhiên. Bộ lạc thế tục được hợp thành bởi những thể chất mà không thể giải thích được tại sao nó có thể suy nghĩ.
Các chuyên gia thuyết tiến hóa như Dennett, Dawkins, Pinker, và Wilson liệu có ngạc nhiên khi thấy các bộ lạc tôn giáo phát triển không? Trên toàn thế giới, các nhóm tôn giáo thu hút rất đông tín đồ và người có tôn giáo cho thấy họ rất tin tưởng vào đường lối sinh hoạt của đời sống họ và tin tưởng vào tương lai khi họ sinh sản. Trái lại, các nghị hội người vô thần chỉ thu hút một số ít các linh hồn cay đắng. Một trong những tổ chức vô thần lớn nhất là American Atheists có khoảng 2,500 thành viên. Bạn ném một viên đá vào bãi đậu xe của một đại học ưu tú ở Hoa Kỳ hay Âu Châu, có lẽ hòn đá ấy sẽ trúng được một người vô thần. Nhưng ném viên đá ấy ở bất cứ chỗ nào khác, bạn phải nhắm cho kỹ.
Điểm quan trọng thì không chỉ là chủ nghĩa vô thần không thể cạnh tranh với tôn giáo trong sự thu hút tín đồ, nhưng còn là lối sống thực tế của người vô thần dường như tạo ra các bộ lạc lờ phờ mà chính họ cũng không muốn sinh sản. Nhà xã hội học Pippa Norris và Ron Inglehart nhận xét rằng nhiều quốc gia giầu có, tục hóa "chỉ sinh sản khoảng một nửa số trẻ em cần thiết để thay thế cho số dân lớn tuổi" trong khi các quốc gia nghèo hơn, ngoan đạo hơn thì "sinh sản gấp đôi hay gấp ba số trẻ em cần thiết để thay thế số dân lớn tuổi." Hậu quả, quá dễ tiên đoán đến độ hầu như người ta gọi đó là quy luật, là "dân có tôn giáo thì gia tăng nhanh, trong khi dân thế tục thì lại thu hẹp."
Nga là một trong những quốc gia vô thần nhất thế giới, và sự phá thai vượt quá sự sinh sản với tỉ lệ sinh một thì chết hai. Sinh xuất của Nga xuống thấp đến độ quốc gia này đang mất khoảng 700,000 người hàng năm. Nhật Bản, có lẽ là quốc gia trần tục nhất Á Châu, có số dân đang thu hẹp: 130 triệu hiện nay sẽ rút xuống còn 100 triệu trong vài thập niên tới. Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, và Tân Tây Lan cũng thấy mình trong tình trạng khó khăn tương tự.
Và rồi đó là Âu Châu. Lục địa trần tục nhất của địa cầu thì suy đồi theo nghĩa đen khi dân số của nó đang thu hẹp cách nhanh chóng. Sinh xuất vô cùng thấp ở Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Cộng Hòa Tiệp, và Thụy Điển. Các quốc gia Tây Âu ngày nay cho thấy mức sinh xuất xuống thấp đến độ kỷ lục, và sinh xuất của Đông Âu thấp tương đương. Các sử gia nhận xét rằng Âu Châu đang đau khổ vì sự sút giảm dân số kể từ khi có trận dịch hạch trong thế kỷ mười bốn, cứ ba người thì một người chết vì bệnh dịch. Thiếu căn tính tôn giáo mạnh mẽ mà trước đây từng được coi là quốc gia Kitô Giáo, Âu Châu vô thần dường như chỉ còn là một nền văn minh dẫy chết. Nietzsche tiên đoán rằng sự suy thoái của Âu Châu sẽ tạo ra một "con người sau cùng" khốn khổ không còn bất cứ mục đích gì khác ngoài việc sống thoải mái và cung cấp sự gian dâm thường xuyên. Vậy thì "con người sau cùng" của Nietzsche đã có đây, và tên của hắn là Sven.
Erich Kaufman từng nhận xét rằng ở Hoa Kỳ, là nơi mức độ di dân cao đã giúp bù đắp cho sự sa sút của sinh xuất, sinh xuất trong những người có tôn giáo thì hầu như cao gấp đôi so với người thế tục. Chiều hướng này cũng được nhận thấy ở Âu Châu. Điều này có nghĩa là, bởi sự chọn lựa tự nhiên, Tây Phương dường như đang tiến về chiều hướng đạo đức hơn. Chiều hướng này sẽ gia tăng nếu các xã hội Tây Phương tiếp tục du nhập người di dân từ các xã hội đạo đức hơn, dù là tín hữu Kitô Giáo hay Hồi Giáo. Như thế chúng ta có thể mong chờ rằng ngay cả các vùng trần tục nhất của thế giới sẽ trở nên ít trần tục hơn qua thời gian, hoàn toàn nhờ vào sự hợp lý của nhân khẩu học.
Trong các thập niên trước đây, các học giả cố gắng dùng kinh tế thuần túy để giải thích cho chiều hướng di dân. Ý tưởng chung cho rằng dân số là một yếu tố định đoạt sự sung túc. Các nhà xã hội học nhận xét rằng khi người dân và quốc gia ngày càng giầu hơn, họ có ít con hơn. Có lẽ xã hội sơ khai cần con cái để giúp việc đồng áng, và xã hội giầu sang hơn thì không cần. Người nghèo còn được nghĩ rằng họ có nhiều con hơn vì sinh hoạt tình dục là một trong những phương tiện giải trí duy nhất. Hơn thế nữa, người nghèo thường dốt nát về ngừa thai hay không có phương tiện. Từ quan điểm này, gia đình đông thường được giải thích là một hiện tượng của sự nghèo khổ và dốt nát.
Sự giải thích có tính cách kinh tế này chỉ đúng một phần, nhưng nó không thấy được toàn cảnh. Nhiều người nghèo có gia đình đông dù họ có thể ngừa thai và phương tiện giải trí; hoá ra họ thường muốn có đông con. Chắc chắn họ trông nhờ vào con cái về phương diện kinh tế, nhưng đàng khác, khi giầu hơn người ta thường có điều kiện để có thêm con cái. Người giầu ở Hoa Kỳ ngày nay có khuynh hướng chỉ có một con hay không có đứa nào, nhưng các gia đình giầu thời xưa thường có ba con hay hơn. Sự khác biệt thực sự không chỉ ở mức độ lợi tức—nhưng chính là vì thời xưa con cái được quý trọng như các quà tặng của Thiên Chúa, và các văn hóa truyền thống vẫn còn coi như vậy.
Các quốc gia theo Hồi Giáo, với lợi nhuận của dầu hỏa, thì không cách chi được coi là nghèo nhất thế giới, tuy vậy họ có sinh xuất thuộc những quốc gia cao nhất. Những tín hữu đạo đức trong Công Giáo, Do Thái chính thống, Mormon, và Tin Lành thì không phải là những nhóm nghèo nhất ở Hoa Kỳ, tuy vậy họ có gia đình đông. Hiển nhiên yếu tố tôn giáo có vai trò ở đây. Sự sút giảm sinh xuất ở Tây Phương, một cách tổng quát, đáng lưu ý nhất là vì phong trào tục hóa. Động lực tôn giáo để sinh con đã bị giảm bớt rất nhiều, và ngày nay con cái được nhiều người coi là các phương tiện để tự ban thưởng. Nguyên tắc xưa trong Kinh Thánh là "Hãy sinh sôi nẩy nở." Nguyên tắc mới là "có đông con càng nâng cao nếp sống."
Các nhà tiên đoán kinh tế về sự biến dạng của tôn giáo đã tự minh chứng họ là các tiên tri giả. Tôn giáo không chỉ thịnh vượng, nhưng nó còn phát triển vì giúp người ta thích ứng và tồn tại trong thế giới. Trong cuốn Darwin's Cathedral, tác giả là nhà sinh vật học tiến hóa David Sloan Wilson lý luận rằng tôn giáo cung ứng điều gì đó mà xã hội trần tục không có: một cái nhìn về mục đích siêu việt. Hậu quả là người có tôn giáo vui thích với đời sống, trong một ý nghĩa, trái tự nhiên. Họ cho thấy sự hy vọng về tương lai mà nó vượt quá những điều được cảnh cáo về chiều hướng thế giới. Và họ rèn đúc các quy tắc luân lý và bác ái chỉ để liên kết với nhau hơn, thích ứng hơn, và thành công hơn các nhóm mà phần tử của nó thiếu động lực ràng buộc và phấn khởi.
Tôi kết luận rằng không phải tôn giáo nhưng chủ thuyết vô thần cần được giải thích theo thuyết của Darwin . Thuyết vô thần thì hơi giống đồng tính luyến ái: người ta không biết nó thích hợp ở chỗ nào trong thuyết lựa chọn tự nhiên. Tại sao thiên nhiên lại chọn những người mà họ luyến ái với người đồng tính, một tiến trình không mang lại ích lợi sản xuất chút nào? Dường như cũng phức tạp tương tự tại sao thiên nhiên lại phát sinh ra một nhóm người mà họ không thấy mục đích cao cả hơn đối với đời sống và với vũ trụ. Đây là chỗ các chuyên gia sinh vật học như Dawkins, Pinker, và Wilson có thể chứng tỏ sự sáng chói. Có lẽ họ có thể xoay ống kính Darwin về chính họ và giúp chúng ta hiểu làm thế nào mà chủ thuyết vô thần lại tồn tại như một vật còn sót lại của thuyết tiến hóa sau thời nguyên thủy xa xưa của loài người.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks