LUẬN VIỆC TU HÀNH

Tu hành dương-thế cậy đồng tiền,
Phật-Giáo vì tiền phải ngửa-nghiêng.
Bát-nhã chẳng đưa người tội ác,
Thuyền-từ nào rước lại Tây-Thiên.
Trần-gian đầy-dẫy người làm dối,
Đạo cả nào trông đến cảnh thiền.
Đoái thấy người đời lòng bắt chán,
Dương-trần lầm lạc đáng ưu-phiền.

Muốn đặng về Thần với Thánh-Tiên,
Kỹ xem cõi thế thấy kia liền.
Cư trần bất nhiễm là người Thánh,
Lẫn tục đừng mê chứng bực hiền.
Phú quí tạo đời thêm mệt xác,
Tham danh phế đạo chí đâu yên.
Sao bằng cửa Phật vui thanh-tịnh,
Lánh cõi trần mê giải nghiệp duyên.

Tiếc vì không đức, tiếc chi tiền,
Phật Thánh xưa kia sách vẫn biên.
Bác-ái xả thân tầm đạo chánh,
Độ người lao khổ dạ không phiền.
Mình vàng Thái-Tử ngôi còn bỏ,
Vóc ngọc Đông-cung tước phế liền.
Xem đó hỡi người mau lập chí,
Tu hành khá nhớ giữ cho nguyên.

Muốn đặng thành Thần với Phật Tiên,
Rán tu ân đức chớ tu tiền.
Lợi danh chớp nháng như luồng gió,
Thấy đó rồi đâu bỗng mất liền.
Sớm thức tỉnh tâm tầm đạo chánh,
Sau nầy về Phật với ngôi Tiên.
Lập thân giúp thế nên công-quả,
Muôn kiếp danh hiền sách vẫn biên.

H.H. năm Kỷ-Mão

LỤY TAM CHÂU

Tam châu hữu ngạn lụy nhỏ sa,
Thập bát chư bang động can qua.
Dương-gian mãnh thú trừ tàn-ác,
Lê-thứ hậu lai khổ thiết-tha.
Tần bang hậu hận tiên diêu-động,
Nam-quốc lương dân kiến linh-xa.
Phồn hoa đô hội lưu giang huyết,
Dư đảng dọc ngang cấp ma-ha.

H.H. tháng 8 năm Kỷ-Mão.


VÉN MÀN BÍ MẬT

Giục thúc đạo đồng kiến thúy quyên,
Chư bang điềm tĩnh sĩ danh hiền.
Sa-vi đông-hải tri thiều nhạc,
Nam-đỉnh ngọc đài lộ kỷ tiên.
Đởm lực hà quê trung trực thử,
Hùng ca báo quốc nghĩa đào thiên.
Sơn ly Phật-cảnh hồi Nam-việt,
Diện khổ sanh kỳ vị trưởng miên.

BỬU-ngọc trường quan ẩn tích kỳ,
SƠN-đài lộ vẻ liễu huyền-vi.
KỲ thâm tá giả thi thành thủy,
HƯƠNG-vị âm thầm mộc túy vi.
NĂM năm lục ngoạt cơ hàn thử,
NON lịch đài mây rạng tu mi.
BẢY niên hòa địa nhơn hiền thủ,
NÚI ngự hoàng san tự Đỉnh-chi.

Hòa bình thế-giái kiến Tiên-bang,
Ngô giả tùng nhung khí đởm gian.
Hồ thiên tiểu ẩn quân tu ký,
Lương thứ dương-trần đạo dĩ an.

Đào nguyên di khả tứ hồ-văn,
Khảo đảo tâm trung mãi vạn năng.
Thì lai đãi ảnh chơn thiên xuất,
Vận thới thô trình trực bỉnh thăng.
Hòa-Hảo, lối tháng 9 năm Kỷ-Mão.

THẦY BA ĐẠO ở Hòa-Hảo hỏi thuốc

Nghe tiếng ơn trên dốc cứu đời,
Dám xin khép nép ngỏ đôi lời.
Nhơn dân sắp đến vương bịnh khổ,
Tiên dược phương nào được thảnh-thơi.

ĐỨC THẦY đáp họa
Mượn xác ra cơ dốc dẫn đời,
Bày tỏ cùng ai ngỏ mấy lời.
Lục châu xao-xiếng nhơn dân khổ,
Phật-Giáo khẩn cầu đặng thảnh-thơi.

THẦY BA ĐẠO hỏi

Thảnh-thơi dầu đặng phước tại trời,
Đau ốm qua rồi trẻ ăn chơi.
Cho thuốc chỉ đường nhờ phương-phép,
Ngàn năm ơn đức nguyện y lời.

ĐỨC THẦY đáp họa


Thành tâm khẩn Phật với lạy Trời,
Muốn khỏi hội nầy trẻ ăn chơi.
Lục tự trì tâm là phương-phép,
Nhắn nhủ cùng ai có mấy lời.

THẦY BA ĐẠO hỏi


Y lời dám hỏi lén một câu,
Tiên-Phật rộng xa rất nhiệm mầu.
Đạo đời bốn chữ đâu là gốc,
Tà chánh xin nhờ tiếng ngọc-châu.

ĐỨC THẦY đáp

Trả lời ý-kiến đó một câu,
Ẩn xác phàm phu chửa nhiệm-mầu.
Đạo đời mấy chữ đây là gốc,
Tà chánh tâm trì rõ ngọc châu.
Muốn đó gần đây giải mộng sầu,
Bốn chữ xuống phàm chớ ở đâu.
Khuyến-khích cùng ai mau tỉnh ngộ,
Lai vãng gần ta rõ Đạo mầu.
Văn-sĩ nhắn-nhen có mấy lời,
Đó muốn tỏ tình có mấy hơi.
Ra ngõ lên xe chừng một lát (1),
Sáng ngày tiếp kiến chuyện trò chơi.
H.H. năm Kỷ-Mão.

(1) Đức Thầy mời thầy ba Đạo sang chơi vì thầy ấy ở nhà và 3 bài thi gởi Đức Thầy do một em học trò đem đến.

BÁT NHẪN

Nhẫn năng xử thế thị nhơn hiền,
Nhẫn giái kỳ tâm thận thủ tiên.
Nhẫn giả hương lân hòa ý hỉ,
Nhẫn hòa phu phụ thuận tình duyên.
Nhẫn tâm nhựt nhựt thường an lạc,
Nhẫn tánh niên niên đắc bảo truyền.
Nhẫn đức bình an tiêu vạn sự,
Nhẫn thành phú quới vĩnh miên miên.

H.H. năm Kỷ-Mão.
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật