"HỐ HÒ KHOAN" (2)
Huỳnh long lộ vĩ ; Bạch-sĩ tiên sanh,
Nam-quốc công khanh ; Ra đời cứu tế;
Hò xang xự xế; Mắc kế Trương-Lương,
Tự giác thôn-hương; Qua dương cơ-khí.
Lập chí hiền nhơn; Nên mới có cơn,
Thất-Sơn tiếng nổ; Qui cổ diệt kim.
Cửu cửu y nhiên; Tình riêng tham báu,
Đổ máu tuôn rơi; Khùng mới nói chơi,
hư bang hàng phục.
Anh hố hò khoan; Tình lang xự xế,
Bỏ phế hương thôn; Ác đức vô môn.
Rồng-Mây hội yến; Ra đời bất chiến,
Nổi tiếng từ-bi; Lời lẽ rán ghi.
Thành công êm thấm; có lắm người yêu.
Hòa-Hảo, lối tháng 8 năm Kỷ-Mão.
(2) Phần nhiều bài của Đức Thầy không có đề tựa. Muốn cho tiện việc sắp-đặt trong quyển sách nầy, chúng tôi tùy theo ý nghĩa của mỗi bài mà đề một cái tựa. Những bài nào có tựa mà chúng tôi chắc rằng do Đức Thầy đặt thì chúng tôi đề vào dấu móc (đôi “”).
NHỨC ĐẦU
Nhức đầu rang óc bởi vì đâu,
Nhức mỏi lòng trông dạ hết sầu.
Nhứt dạ chờ ngày Trời trả phúc,
Nhức gân, nhức cốt cả trời Âu.
Nhức đầu bị tiếng nổ đâu đâu,
Nhứt quyết làm cho chúng thoát sầu.
Nhứt thống dân sanh gầy hạnh-phúc,
Nhứt tràng lê-thứ khỏi lo âu.
H.H. năm Kỷ-Mão.
KHUYÊN BỎ DỊ-ĐOAN
Thiện-tín tới đây chớ ngã lòng,
Xác trần mê mệt nỗi long-đong.
Cậu, cô, chú, bác đừng coi bói,
Theo lối dị đoan mất bạc đồng.
Bạc đồng chẳng dụng, dụng chơn không,
Quyết chí nâng-niu giống Lạc-Hồng.
Tìm tõi Đạo mầu trong Phật-Pháp,
Cho đời hiễu rõ lý chơn không.
H.H. năm Kỷ-Mão.
(Đức Thầy viết bài nầy vì lúc đó có nhiều người đến nhờ Ngài đoán giùm vận mạng hoặc việc gia đình).
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks