kết quả từ 1 tới 8 trên 8

Ðề tài: Bước vào sơ thiền-Phần chưa có bình luận.

Threaded View

Previous Post Previous Post   Next Post Next Post
  1. #4

    Mặc định


    Delightdhamma
    :

    Sự nhầm lẫn tai hại: Nimita thành đề mục thiền.

    Sắc (rupa) mà chúng ta đang thấy được quan sát bằng Danh (nama) hay còn gọi là Tâm. Khi Sắc được quan sát bởi Tâm Dục Giới (chi phối bởi 5 triền cái: tham, sân, hôn trầm-thụy miên, trạo cử-hối quá, nghi ngờ) thì Sắc được thấy dưới dạng Thô tướng, tức là nhìn bằng con mắt thông thường chúng ta đang thấy.

    Khi Sắc được quan sát bởi Tâm Sắc Giới (chi phối bởi năm chi thiền sắc giới: tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm) thì Sắc được thấy dưới dạng Tợ tướng (ở cận định) và Quang tướng(ở an chỉ định), lúc này cái nhìn không ở mắt chúng ta nữa mà cái nhìn bằng tâm thiền (khi 5 thiền chi có mặt). Tợ tướng và Quang tướng được gọi là Nimita, cách gọi khác là ấn chứng của thiền định.

    Trong cuốn THE JHANA (Thiền Định) sư Bhikkhu Brahmavamso đã viết: ''Vì thế tôi muốn nói, rằng Nimittas không phải là những đối tượng được nhìn thấy, có nghĩa là chúng không được nhìn thấy bằng thị giác. Ở giai đoạn này của Thiền, thị giác không hoạt động. Các Nimittas đơn thuần chỉ là các đối tượng của tâm trí, được nhận biết bởi tâm trí. Tuy nhiên, chúng thường được nhận thức (perceived) như là những ánh sáng''.

    Như vậy việc Nimita xuất hiện ở cận định (tợ tướng) và an chỉ định (quang tướng) là do tâm của hành giả lúc này đang chuyển từ tâm Dục Giới sang tâm Sắc giới và khi hành giả nhập định hoàn toàn vững chắc (an chỉ định) thì hình ảnh của Sắc (rupa) lúc này là quang tướng (tướng có sự phát sáng hay còn gọi là ánh sáng của thiền định). Hành giả duy trì ánh sáng này (nimita an chỉ định -quang tướng) để vượt qua và loại bỏ các chi thiền thô làm tâm dao động như Tầm, Tứ để vào Nhị Thiền. Tiếp theo loại bỏ Hỷ trên thân vào Tam Thiền. Loại bỏ Lạc trên tâm vào Tứ Thiền (xả Lạc trú Nhất Tâm).

    Có nhiều cách gọi tên khác nhau và phân loại nimita ra 2, 3 hay 4 loại:

    Sơ tướng (parikamma nimitta): khi hơi thở có màu khói xám
    Học tướng (uggaha nimitta): sơ tướng trở thành màu trắng như một nhúm bông gòn
    Tợ tướng (patibhaga nimitta): chuyển từ màu trắng đục bông gòn sang một màu phát sáng.
    Định tướng của hơi thở (anapana nimitta): ánh sáng trắng

    Với cách phân ra 4 loại nimita nêu trên thì 3 loại đầu thực chất làm rõ tiến trình cho đến cận định, còn loại cuối là an chỉ định. Theo quan điểm của tôi thì chỉ đưa ra phân loại nimita ra 2 loại là Tợ tướng dành cho cận định và Quang tướng hay Định tướng dành cho an chỉ định.

    Như vậy mỗi bậc thiền định sẽ có 2 loại nimita của cận định và an chỉ định. Chỉ riêng nimita cận định (tợ tướng) của Sơ thiền là mờ đục vì còn bị dao động manh bởi hai chi thiền thô Tầm và Tứ (ranh giới giữa tâm Dục giới và tâm Sắc giới). Còn các niminta cận định ở các bậc thiền từ Nhị thiền trở lên đều sáng (phát quang, ko bị mờ đục) vì đều ở trong Tâm Sắc Giới. Có lẽ vì cái nhìn chỉ thuần ánh sáng (quang tướng) của Tâm thiền này nên mới gọi là Tâm Sắc hay Tâm của Sắc Giới. Trong các bài kinh khi nói đến chư Thiên Sắc Giới xuống hỏi đạo với Đức Phật đều ghi là ''vị thiên với ánh sáng rực rỡ đi đến bên Đức Phật....''. Ánh sáng rực rỡ này chỉ có những vị sư tăng đã đắc thiền định mới nhìn thấy.

    Khi lướt trên web, tôi thấy có những trang web nổi tiếng về Phật đạo và các tác giả cũng rất nổi tiếng mà có sự nhầm lẫn về NIMITA khi viết hay giảng về thiền định. Việc nhầm lẫn ở chỗ khi cho rằng Nimita là đối tượng của Tầm và Tứ. Tức là Nimita bị nhầm thành đối tượng của Thiền. Tôi gọi đây là sự nhầm lẫn tai hại vì làm cho pháp hành trở nên khó khăn và sai lạc vì đề mục thiền định bị nhầm sang Nimita. Xin trích dẫn:

    1) Tầm (vitakka): Sự hướng tâm đến quang tướng khi quang tướng vừa xuất hiện đến.
    2) Tứ (vicara): Sự đặt tâm và duy trì được tâm trên đối tượng quang tướng.
    3) Hỷ (pīti): Sự thỏa thích khi chú tâm nhìn trên quang tướng.
    4) Lạc (sukha): Sự cảm thọ an lạc (sukha), hạnh phúc trong quá trình kinh nghiệm quang tướng.
    5) Nhất tâm (ekaggatā): Sự nhất tâm (ekag-gatā) trên quang tướng, tâm an trụ thanh tịnh trên quang tướng
    .


    Trong 5 khái niệm về Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc và Nhất Tâm trích dẫn nêu trên thì đến 4 chi thiền là Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc đều lấy tợ tướng hay quang tướng làm đối tượng thiền. Điều này là sự nhầm lẫn tai hại. Tôi cũng đã đi thăm vài trường thiền theo quan điểm tu đắc thiền Định trước rồi mới vào thiền Tuệ (Định trước Tuệ sau). Khi thực hành phương pháp để tìm kiếm Nimita và bám vào Nimita gọi là Tầm và Tứ là không thể. Vì với đề mục hơi thở. Thì tâm phải bám vào hơi thở tức là Tầm và Tứ với hơi thở. Nhớ đó các triền cái bị đè xuống, tâm Dục Giới chuyển thành tâm Sắc giới và Nimita bắt đầu được nhìn thấy. Bắt đầu hành thiền, nếu thiền sinh vừa bám hơi thở, vừa để tâm quan sát xem Nimita có hiện ra không thì đã bị hỏng vì tâm không thể đồng thời quan sát cả 2 đối tượng một lúc. Trong kinh Quán Niệm Hơi Thở hay Tứ Niệm Xứ, Đức Phật không dạy chú tâm trên Nimita mà chỉ chú tâm trên hơi thở.

    Đoạn trích in nghiêng có chữ màu xanh trên đây các bạn có thể dùng Google để search ra các trang web Phật giáo nói về thiền định đều đang hiểu như vậy.

    Sự nhầm lẫn ở đây có 2 phần:

    1. Nhầm Nimita là đề mục thiền: Có 40 đề mục thiền định thì Nimita không có trong 40 đề mục này. Đề mục chính là đối tượng để chú Tâm lên đề mục(Tầm) và bám sát đề mục (Tứ). Ví dụ như đề mục hơi thở thì Tầm là chú tâm lên hơi thở và Tứ là chà xát và bám vào hơi thở cho đến khi Hỷ (trên thân) và Lạc (trên tâm) xuất hiện kèm theo tợ tướng hay quang tướng là dấu hiệu hành giả đã vào cận định hay an chỉ định của Sơ thiền.

    2. Khi vào Nhị Thiền cần phải loại trừ Tầm và Tứ, tức là loại trừ sự bám sát của Tâm và đối tượng hay đề mục. Vậy nếu Nimmita là đề mục thì Nimita sẽ bị loại bỏ khi vào Nhị Thiền. Trong khi Nimita là ấn chứng của thiền định từ Sơ thiền đến Tứ Thiền, tức là không thể loại bỏ được.Đức Phật đã nói để vào được Nhị thiền thì hành giả phải loại trừ hai chi thiền thô là Tầm và Tứ hay làm cho tâm luôn dao động vì phải bám sát vào đề mục thiền (ví dụ đề mục là hơi thở. Trong khi Nimita phải luôn có mặt từ Sơ thiền đến Tứ thiền vì Nimita thực chất chính là ''sắc'' của tâm sắc giới (tâm đã vào từ cận sơ thiền đến tứ thiền).

    Trong Trung Bộ Kinh, kinh nghiệm Đức Phật đã nói ần phải loại trừ 2 chi thiền thô ở Sơ thiền là Tầm và Tứ mới vào được Nhị thiền:

    ''Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần. ''

    Vào Nhị Thiền, hành giả loại bỏ Tầm, Tứ và vẫn duy trì các chi còn lại là Hỷ, Lạc, Nhất Tâm. Thực chất Nhất Tâm chính là duy trì cái nhìn thấy ''sắc'' Nimita bằng tâm thiền định (tâm sắc giới). Vào Tam Thiền loại bỏ Hỷ, vào Tứ Thiền loại bỏ Lạc và chỉ còn Nhất Tâm. Sự Nhất Tâm lúc này chính là cái nhìn trọn vẹn hoàn toàn chỉ có ''sắc'' Nimita của tâm Sắc giới mà không bị chi phối bởi các tâm cảm thọ thô là Hỷ và Lạc của thân và tâm Dục Giới. Cách giải thích này lô gíc, trọn vẹn từ đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối của pháp hành thiền định đi từ Sơ thiền đến Tứ thiền. Vì đến Tứ Thiền hơi thở của hành giả gần như biến mất (vô cùng vi tế), tức là đề mục không còn vì hơi thở là ''sắc thô'' của Thân Dục Giới lúc này chuyển sang thành sắc ánh sáng nimita dưới cái nhìn của tâm sắc giới. Tâm dục giới nhìn vật (sắc) tương ứng dưới dạng Sắc Dục Giới (sắc thô, hay thô tướng). Tâm sắc giới (tâm thiền định) nhìn vật (sắc) tương ưng dưới dạng Sắc của Sắc Giới là các loại ánh sáng.

    Như vậy để chính xác nên đính chính đoạn chữ in xanh lại như sau:

    1) Tầm (vitakka): Sự hướng tâm đến đề mục (ví dụ là đề mục là hơi thở).
    2) Tứ (vicara): Sự đặt tâm và duy trì được tâm trên đối tượng đề mục.
    3) Hỷ (pīti): Sự dễ chịu trên THÂN khi chú tâm trên đề mục.
    4) Lạc (sukha): Sự an lạc trên TÂM khi chú tâm trên đề mục.
    5) Nhất tâm (ekaggatā): Sự nhất tâm trên tợ tướng hay quang tướng, tâm an trụ không bị dao động trên quang tướng (ấn chứng của nhập định).

    Qua việc này, tôi mới nhận thấy việc đi sâu vào thiền định mà không có pháp học đúng và pháp học chỉ hiểu đúng khi người thực hành pháp có trải nghiệm đúng, quay trở ra đánh giá lại phần nào pháp học nói chưa rõ, phần nào người giải thích không có trải nghiệm nhưng biện giải theo sự suy đoán.

    Để kết thúc phần này, tôi xin trích lại điều Đức Phật đã nói trong bài kinh tên gọi là: ''Không Thể Nghĩ Được'' (Tăng Chi Bộ IV.77)

    -- Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỷ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn?

    1- Phật giới của các đức Phật, này các Tỷ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.

    2- Thiền giới của người khi nhập Thiền, này các Tỷ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.

    3- Quả dị thục của nghiệp, này các Tỷ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.

    4- Tâm tư thế giới, này các Tỷ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
    Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỷ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.

    -----------------

    Chào bạn QUANG COM, câu hỏi của bạn có CÔNG ĐỨC rất lớn vì giúp cho nhiều người đang mắc kẹt hoặc chưa thấy con đường thiền định và thiền tuệ được rõ ràng. Cảm ơn bạn.

    Đức Phật đã kể lại theo THỨ TỰ với chúng ta toàn bộ hành trình tìm giác ngộ của ngài trong đại kinh Saccaka (kinh 36, Trung Bộ Kinh). Các bạn đọc kỹ lại. Ở đây , tôi xin tóm tắt 6 giai đoạn hành trình lần lượt chính của Đức Phật kể lại thứ tự trong cùng một bài kinh này để trả lời câu hỏi của bạn QuangCom.

    1. Ngài đến vị thầy thứ nhất chứng đạt Vô Sở Hữu Xứ:

    Như vậy, này Aggivessana, Alara Kalama là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này Aggivessana, rồi Ta tự suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ". Như vậy, này Aggivessana, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.

    2. Ngài đến vị thầy thứ hai chứng đạt Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ:

    Như vậy, này Aggivessana, Uddaka Ramaputta là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ". Như vậy, này Aggivessana, Ta không tôn kính pháp ấy và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.

    3. Sự tuyệt vọng đến cùng tột của ngài khi chưa tìm ra đạo lộ:

    Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Thuở xưa có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng, không thể có gì hơn nữa. Về tương lai, có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng không thể có gì hơn nữa. Trong hiện tại, có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng, không thể có gì hơn nữa. Nhưng Ta, với sự khổ hạnh khốc liệt như thế này, vẫn không chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Hay là có đạo lộ nào khác đưa đến giác ngộ?"

    4. Ngài nhớ lại cảm giác chứng Sơ thiền khi ngồi gốc cây trong lễ hạ điền của cha:

    Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta biết, trong khi phụ thân Ta, thuộc giòng Sakka (Thích-ca) đang cày và Ta đang ngồi dưới bóng mát cây diêm-phù-đề (jambu), Ta ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ". Khi an trú như vậy, Ta nghĩ: "Ðạo lộ này có thể đưa đến giác ngộ chăng?" Và này Aggivessana, tiếp theo ý niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta: "Ðây là đạo lộ đưa đến giác ngộ".

    5. Ngài hoàn tất các thiền Hữu Sắc (nhị thiền đến tứ thiền hữu sắc):

    Và này Aggivessana, sau khi ăn thô thực và được sức lực trở lại, Ta ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

    Diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

    Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

    Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Aggivessana, như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

    6. Ngài xả thiền Hữu sắc (xuất thiền Định) đi vào thiền Tuệ chứng Tam Minh:

    Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp.

    Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến; những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

    Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Ta biết như thật: "Ðây là Khổ", biết như thật: "Ðây là Nguyên nhân của khổ", biết như thật: "Ðây là sự Diệt khổ", biết như thật: "Ðây là Con đường đưa đến diệt khổ", biết như thật: "Ðây là những lậu hoặc", biết như thật: "Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc", biết như thật: "Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc", biết như thật: "Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc". Nhờ biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, Ta khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát." Ta đã biết: "Sanh đã diệt, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa". Này Aggivessana, đó là minh thứ ba mà Ta đã chứng được trong canh cuối, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

    Dưới đây là sơ đồ mô tả 6 giai đoạn hành trình trong 3 thiền (vô sắc, hữu sắc, tuệ quán) của Đức Phật đã đi qua.


    ----------------------

    Trả lời: Sơ thiền hồi bé của Đức Phật cũng chính là sơ thiền hữu sắc Đức Phật đã nhớ lại và đi qua.

    Tiện đây, tôi xin tóm tắt lại để các bạn ko bị nhầm lẫn:

    1. Thiền định là gì ? Sự định tâm trên đối tượng gọi là Thiền Định.

    2. Thiền hữu sắc: Sự định tâm trên đối tượng Hữu Sắc (có hình thể, màu sắc hoặc xúc chạm) là thiền Hữu Sắc. Thiền hơi thở là định tâm trên điểm xúc chạm của hơi thở với thân thể (dưới mũi). Tóm lại là sự định Tâm trên đối tượng Hữu Sắc gọi là thiền Hữu Sắc. Với thiền Hữu Sắc có 5 chi thiền ở sơ thiền, 3 chi thiền ở Nhị thiền (hỷ, lạc, nhất tâm), 2 chi thiền ở Tam thiền (lạc, nhất tâm) và 1 chi thiền (nhất tâm) ở Tứ thiền.

    3. Thiền vô sắc: Sự định tâm trên đối tượng Vô Sắc gọi là thiền Vô Sắc. Với thiền Vô Sắc chỉ có 1 chi thiền duy nhất và cũng là đối tượng thiền cho từng bậc thiền. Sơ thiền Vô sắc (không vô biên). Nhị thiền Vô sắc (thức vô biên), Tam thiền Vô sắc (vô sở hữu), Tứ thiền Vô sắc (phi tưởng phi phi tưởng xứ).

    4. Thiền Tuệ là gì ? Là sự định tâm trên đối tượng để thấy rõ thực tánh pháp (sinh diệt, bất toại nguyện, vô chủ). Đối tượng của thiền tuệ là (thân, thọ, tâm, pháp). Vì thế tâm thiền sắc giới hay vô sắc giới cũng trở thành đối tượng của thiền tuệ. Đây là điểm đặc biệt của thiền Tuệ do Đức Phật khám phá ra con đường cổ xưa, con đường mà chư Phật trong quá khứ, hiện tại và tương lai cũng sẽ đi qua.

    5. Thiền tông kiến tánh: Nhận ra thực tánh pháp (pháp chân đế) khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần nhờ không bám víu vào tâm sở (thọ, tưởng, hành, thức), lúc đó hành giả thấy được Tâm vương còn gọi là chủ nhân ông, chân tâm, phật tánh...Đến đây hành giả mới là giải ngộ, hành giả phải tiến hành Bảo Nhậm tức là ẩn cư hay độc cư thiền định bằng sự Thấy và Biết của tâm vương (pháp chân đế) để không bị các tâm sở (tham, sân, si) che khuất tâm vương.

    Có lẽ vì ở Tứ thiền Sắc giới có 1 chi thiền duy nhất là Nhất Tâm giống như các bậc thiền ở Vô Sắc nên gây hiểu lầm là thiền phải đi từ Hữu Sắc đến Vô Sắc. Từ nhiều chi thiền đến một chi thiền, từ thô (hữu sắc) đến vi tế (vô sắc).

    Trong các kinh Nguyên Thủy, Đức Phật thường khuyến tấn các đệ tử làm chủ thiền định bao gồm cả thiền sắc giới và vô sắc giới nên ngài thường trình bảy một mạch từ thiền hữu sắc đế vô sắc rồi đến diệt thọ tưởng định. Điều này gây hiểu lầm cho nhiều ngừoi là phi tưởng xứ là cao nhất hay thiền diệt thọ tưởng định là cao nhất. Mỗi loại thiền đều có đặc điểm riêng và tĩnh hữu dụng riêng. Một số vị còn nhầm lẫn đến tứ thiền rồi vào diệt thọ tưởng định được. Nếu để ý, các bạn sẽ thấy khi thuyết pháp, ngồi trước Đức Phật có đủ các tỳ kheo: chưa chứng thiền định, đã chứng thiền định sắc giới, vô sắc giới, chưa chứng đạo quả, đã chứng đạo quả,....Vì thế ngài nói rộng ra để ai chưa đạt được thiền nào thì thực hiện tiếp trong sự tu tập của đời phạm hạnh.

    Hết
    Last edited by DHC; 05-04-2012 at 02:21 PM.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. NIỆM PHẬT THẬP YẾU
    By vietnamese in forum Đạo Phật
    Trả lời: 15
    Bài mới gởi: 02-08-2016, 04:12 PM
  2. Xin được chia sẻ và học hỏi về Đạo và Đời - II
    By Richardhieu05 in forum Đạo Học - Học Đạo
    Trả lời: 1724
    Bài mới gởi: 21-04-2016, 09:53 AM
  3. Hành trình về phương Đông
    By Itdepx in forum Đạo Thiên Chúa
    Trả lời: 19
    Bài mới gởi: 16-09-2013, 08:57 PM
  4. KHOA HỌC VÀ ĐỨC TIN
    By satyaa in forum Đạo Thiên Chúa
    Trả lời: 61
    Bài mới gởi: 01-04-2012, 09:35 PM
  5. kinh nói về tái sinh
    By joo_minh in forum Đạo Phật
    Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 10-03-2012, 07:56 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •