3. DƯỚI GÓC NHÌN SỬ CHÍNH TRỊ
Năm 1858, Pháp nổ phát súng đầu tiên bất đầu 1 giai đoạn lịch sử dân tộc Việt Nam. Sau hiệp ước Hác Măng và pa tơ nốt, Nhà Nguyễn đã chính thức công nhận miền nam là xứ thuộc địa.
Gọi là xứ thuộc địa nhưng miền Nam vẫn phát triển nhanh chóng nhờ cơ chế thị trường định hướng tư bản mưu toan của đế chế thực dân, tuy nhiên nó vẫn tạo điều kiện cho sự phát triển trình độ dân trí với một tầm mức nhất định. Có thể coi là tự do trong khuôn phép hà khắc.
Các tôn giáo ồ ạt truyền và du nhập vào Việt Nam nhưng không tôn giáo nào nhận được một kết quả mỹ mãn.
Nhân dân chịu 2 vòng kiềm kẹp của thực dân Pháp và của chính sách địa tô hủ lậu của Nguyễn Triều, hận càng thêm hận, phẫn uất càng thêm phẫn uất. Họ bị áp bức bóc lột một cách tận mạng với đủ thứ sưu dịch và thuế khóa, nhân dân mất niềm tin vào cuộc sống, sự tự do cũng bị quản thúc, cấm hội họp… dẫn đến việc nhu cầu hội họp lại tăng cao, tôn giáo lại là một nhu cầu để thỏa mãn nhu cầu phủ lấp khoảng trống tâm linh.
Mặc dù như vậy nhưng không một tôn giáo nào lúc bấy giờ được người Nam Bộ tiếp thu tuyệt đối:
Pháp lấy ki tô giáo làm công cụ xâm lược, nhà Nguyễn ra sức cấm đạo giết đạo Ki tô nhưng dân vẫn theo, đến khi nhà nguyễn đầu hàng Pháp thì nhân dân lại bài xích Kito để thể hiện sự phẫn uất, hơn nữa, trước năm 1945, kito giáo không phù hợp với phong tục của dân tục lúc bấy giờ.
Nguyễn Đình Chiểu viết:
Thà đuôi mà giữ đạo nhà
Còn hơn có mắt, ông cha không thờ để phán ảnh việc Kito giáo lúc đó yêu cầu tin đồ đập phá bàn thờ ông bà tổ tông, bàn thờ phật để làm lễ vào đaoh Ki tô.
Phật giáo bị khủng hoảng trầm trọng mặc dù trước thời vua Minh Mạng, Phật Giáo được nhà Nguyễn coi sóc và hồi sinh phần nào, nhưng Nho giáo vẫn là công cụ của người cai trị. Hơn nữa, Phật Giáo Việt Nam phát triển trước thời Minh Mạng cũng chỉ là Phật Giáo tại Huế mà thôi, trong miền Nam này, Phật Giáo dường như càng ngày càng gặp khó khăn khi công giáo càng ngày càng ức hiếp đồng bào phật tử.
Tin Lành vào Việt Nam vào tháng 6 năm 1911. Bản thân giáo luật tin lành đã không phù hợp với nhân dân Việt Nam tại nam bộ lúc bấy giờm, huống chi nó còn nghiêm hơn cả giáo luật ki – tô trên 1 vài phương diện nào đó. Và nó lại bị sự bài xích từ Nhân dân, Ki tô giáo, và cả Phật Giáo, nên tin lành chưa thực sự phát triển
Truyền thống tổng hợp và trong âm tính của cư dân phương Đông gốc nông nghiệp đã tổng hợp 3 tôn giáo sớm du nhập vào Việt Nam đã có cơ hội phát triển nhiều hơn với sự ra đời của Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội và của Ngũ Chi Minh Đạo tại Việt Nam.
Truyền thống ấy tiếp tục đặt ra yêu cầu phải làm sao để vừa thỏa mãn nhu cầu tâm linh, vừa có thể hòa hiếu với nhau nhiều nhất để không gặp phải sự sứt mẻ tình cảm anh em mới giao hữu => sáng tạo 1 tôn giáo mới phải đảm bảo những yêu cầu đó và Cao Đài Giáo ra đời với tất cả những sự tổng hợp giữa:
1. Phật Giáo
2. Nho Giáo
3. Lão Giáo
4. Ki tô giáo
5. Tô tem giáo
6. Tê ran giáo
7. Bái vật Giáo
8. Tín ngưỡng thờ mẫu
9. Tín ngưỡng thờ thần
10. Và sự giao lưu qua lại đã đáp ứng được điều đó nên Đạo Cao Đài nhanh chóng được nhân dân chấp nhận