kết quả từ 1 tới 7 trên 7

Ðề tài: NGUYÊN NHÂN THÀNH CÔNG CỦA ĐẠO CAO ĐÀI

  1. #1

    Mặc định NGUYÊN NHÂN THÀNH CÔNG CỦA ĐẠO CAO ĐÀI

    1. NHÌN DƯỚI GÓC ĐỘ VĂN HÓA:
    Đạo Cao Đài, là một tôn giáo bản địa, ra đời vào những năm đầu thế kỷ XX. Đạo Cao Đài có tên đầy đủ là “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”. Tính đến nay, Đạo Cao Đài có hơn 80 năm hình thành và phát triển. Ngay từ những năm đầu thành lập, đạo Cao Đài đã thể hiện được bản lĩnh của mình. Đạo Cao Đài đã thu hút được đông đảo cư dân Nam Bộ, tín đồ các tôn giáo như Phật giáo, các chi Minh Đạo tin theo. Điều gì đã làm nên sự thành công to lớn của một tôn giáo mới mẻ như đạo Cao Đài ?
    Bên cạnh việc xây dựng nét đặc thù văn hóa của mình, đạo Cao Đài đã bảo lưu nhiều giá trị văn hóa truyền thống gốc nông nghiệp như: tục thờ Trời, thờ Mẫu, tục lên đồng, tư duy tổng hợp, biện chứng, tôn trọng phụ nữ, tôn trọng thiên nhiên, thích sống định cư,... Phải chăng nhờ bảo lưu được những giá trị văn hóa truyền thống là nguyên nhân dẫn đến sự thành công của đạo Cao Đài trong những năm đầu thành lập ?
    1.Đạo Cao Đài đã bảo lưu được tục thờ Trời trong dân gian. Tổ tiên ta từ ngàn xưa sống bằng nghề nông. Người làm nông nghiệp rất xem trọng môi trường thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên và sùng bái thiên nhiên. Nghề trồng lúa cần nước. Ngày xưa, khi trình độ khoa học chưa phát triển, người làm nông nghiệp cho rằng mưa là do các thần Mưa, thần Sấm, thần Chóp, thần Gió tạo ra mà cai quản các thần ấy là Trời. Từ đó đã hình thành tín ngưỡng thờ Trời trong tâm thức cư dân nông nghiệp. Trời trở thành đấng thần linh quyền uy có thể quan sát thường xuyên và cứu giúp dân lành. Vì thế mà trong dân gian mới có câu: “Trời cao có mắt”. Vì đức năng cứu giúp và gần gũi nên người làm nông nghiệp xem Trời như cha của mình vậy. Để tưởng nhớ công ơn của Trời, cư dân nông nghiệp chọn ngày mùng 9 tháng giêng làm lễ vía Trời. Đạo Cao Đài khi ra đời đã bảo lưu tín ngưỡng thờ Trời và nâng cấp tín ngưỡng thờ Trời lên thành một tôn giáo: tôn giáo Cao Đài. Giáo chủ của đạo Cao Đài là đức Ngọc Hoàng Thượng Đế tức là Trời. Giáo chủ của đạo Cao Đài rất gần gũi, hay cứu giúp tín đồ, được tín đồ sùng bái và gọi Ngài một cách thân thương là Thầy (tức là cha). Hàng năm đạo Cao Đài cũng chọn ngày mùng 9 tháng giêng làm lễ vía đấng giáo chủ của mình một cách trọng thể.
    2. Đạo Cao Đài đã thừa kế tinh thần dung hòa tổng hợp của cư dân gốc nông nghiệp. Khi mới thành lập, đạo Cao Đài đã đưa ra tôn chỉ: “Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhất”, xem “ Vạn giáo đồng nhất lý”. Tam giáo là: Nho giáo, Phật giáo, Tiên giáo (hay Nho, Thích, Đạo). Ngũ chi là: Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo. Với tôn chỉ này, đạo Cao Đài dễ dàng dung hòa tiếp nhận các tôn giáo khác để tạo ra một tôn giáo vừa mới lạ vừa bảo lưu những tín ngưỡng truyền thống. Về nghi thức thờ tự, ngoài thờ đức Chí Tôn (Ngọc Hoàng Thượng Đế) qua biểu tượng Thiên Nhãn, đạo Cao Đài thờ Giáo chủ Tam giáo như: Phật Thích Ca, Khổng Tử, Lão Tử. Ngoài ra, đạo Cao Đài còn thờ Quan Âm Bồ Tát, Lý Thái Bạch, Quan Thánh Đế Quân, Giê Su, Khương Tử Nha. Về hệ thống giáo lý, đạo Cao Đài tuyển chọn giáo lý Tam giáo để lập nên hệ thống giáo lý mới cho tôn giáo Cao Đài. Trong đó, giáo lý Nho giáo được xem là nền tảng. Chức sắc Cao Đài chia làm ba phái: Phái Ngọc (thuộc Thánh mặc áo đỏ), phái Thái (thuộc Phật mặc áo vàng), phái Thượng (thuộc Tiên mặc áo xanh).
    3. Tục thờ Mẫu và vai trò của nữ phái trong đạo Cao Đài
    4. Tính linh hoạt trong thực tiễn sống đạo của người tín đồ Cao Đài
    5. Tính cộng đồng
    6. Âm nhạc truyền thống
    “Đạo Cao Đài đã xây dựng trên tinh thần tổng hợp – dung hợp khá rộng rãi: Đó là sự tổng hợp các tôn giáo, từ Nho – Phật – Đạo đến cả các tôn giáo phương Tây; tổng hợp các truyền thống văn hóa dân tộc, từ việc cầu tiên giáng bút đến lối tư duy bằng các con số biểu trưng, hướng tới sự hài hòa âm dương...Chính nhờ sự tổng hợp tạo nên ấn tượng “vừa lạ vừa quen” ấy mà, vào thời điểm ra đời, đạo Cao Đài đã thu hút được khá nhiều người tin theo và nhanh chóng phát triển”1.
    "Đã để vào Tòa một sắc hoa/ Từ đây đàn nội tỷ như nhà/Trung thành một dạ thờ Cao Sắc/ Sống có Ta, thác cũng có Ta" :praying:2 Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Maha Tát :praying:2

  2. #2

    Mặc định

    2. NHÌN DƯỚI GÓC ĐỒ ĐỊA VĂN HÓA VÀ SỬ VĂN HÓA:
    a. Bối cảnh hình thành cồng đồng người tộc người tại Nam Bộ:
    Gần đây, các nhà khảo cổ còn tìm thấy ở An Sơn phía Đông Bắc tỉnh Long An các di chỉ hậu kỳ đồ đá mới cách nay 3.000 năm, và ở Rạch Núi phía Đông Nam tỉnh di chỉ đồ sắt cách nay 2.700 năm.
    Đôi ba thế kỷ trước và sau Công nguyên, người Indonesian mở rộng cuộc khai phá xuống vùng thấp, mở rộng giao lưu với các dân tộc ở Đông Dương và Đông Nam Á hải đảo và có thể với Ấn Độ. Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VIII, người Indonesian và nhiều lớp người ngoại nhập (Thiên Trúc, Nguyệt Thị, Nam Dương...) tạo lập nền văn hoá Óc Eo ở đồng bằng Nam Bộ và Đông Campuchia, dựng nên vương quốc Phù Nam hùng mạnh. Ngoài trung tâm Óc Eo, nhà nước Phù Nam còn có một trung tâm chính trị, văn hoá và tôn giáo nữa trên vùng đất Long An, nơi có tới 100 di tích văn hoá Óc Eo với 12.000 hiện vật, đặc biệt là quần thể di tích Bình Tả, gồm ba cụm di tích: Gò Xoài, Gò Đồnvà Gò Năm Tước, có niên đại từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII.
    Vào khoảng năm 550, vương quốc Chân Lạp tiêu diệt Phù Nam. Nền văn hoá Óc Eo vẫn còn tiếp diễn ở một số nơi trên đồng bằng sông Cửu Long nhưng đến cuối thế kỷ VIII thì tàn lụi hẳn, trùng hợp với các cuộc tấn công tàn phá của người Java. Mặc dù vào đầu thế kỷ VIII đã có chứng tích về sự hiện diện của người Chân Lạp trên đồng bằng Nam Bộ, nhưng tình trạng chung của toàn vùng kể từ thời điểm đó là hoang phế.
    Người Khmer chỉ thực thụ định cư ở Đồng bằng Sông Cửu Long từ đầu thế kỷ XVI, tức sau khi vương quốc Chân Lạp bị người Xiêm đánh bại, phải dời đô đến Phnom Penh ngày nay vào năm 1434, và chuyển trọng tâm đất nước từ Tây Bắc xuống Đông Nam Biển Hồ. Theo truyền thống, nơi họ chọn để định cư là các vùng đất cao ở Nam Bộ, tạo thành các khu vực cư trú tập trung ở Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang và rải rác ở các nơi khác. Bộ máy hành chánh được thiết lập đến cấp srok (xứ), và được nối dài với bộ máy tự quản ở cấp khum (xã), phum (buôn) và một mạng lưới chùa chiền dày đặc.
    Khoảng cuối thế kỷ XVI, đã có những người Việt đầu tiên vượt biển tới khai phá vùng đất này. Nhờ cuộc hôn nhân giữa công nữ Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta II từ năm 1620, mối quan hệ giữa Đàng Trong và Chân Lạp trở nên êm đẹp, dân cư hai nước có thể tự do qua lại sinh sống.
    Người Hoa bắt đầu di dân đến Nam Bộ từ năm 1679, khi chúa Nguyễn Phúc Tần cho các tướng "phản Thanh phục Minh" Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên và 3.000 người tuỳ tùng tớiMỹ Tho, Biên Hoà và Sài Gòn để khai khẩn, định cư. Năm 1680, Mạc Cửu và những người Hoa tuỳ tùng đến Chân Lạp, chiêu tập lưu dân lập ra 7 thôn xã từ Vũng Thơm đến Cà Mau, đến năm 1708 cũng xin thần phục chúa Nguyễn. Vào năm 1756, cả nước có khoảng 30.000 người Hoa. Từ giữa thế kỷ XIX, sau cuộc chiến tranh Nha phiến và cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên quốc, đông đảo người Hoa từ các địa phương Trung Quốc lại tiếp tục di dân đến Việt Nam.
    Người Chăm Nam Bộ nguyên là di dân người Chăm ở Chân Lạp, gọi là người Côn Man. Năm 1756, sau khi người Côn Man bị quân Chân Lạp đuổi đánh, Nguyễn Cư Trinh đã tâu xin chúa Nguyễn và đưa họ về định cư ở Châu Đốc, Tây Ninh. Về sau, người Chăm ở Châu Đốc (An Giang) tiếp tục di dân đến Kiên Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương...
    Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính vào kinh lý miền Nam. Trên cơ sở những lưu dân Việt đã tới khu vực Đồng Nai - Gia Định (Đông Nam Bộ), gồm khoảng 40.000 hộ với 200.000 khẩu, Nguyễn Hữu Kính cho lập phủ Gia Định, gồm hai dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, với hai huyện Phước Long, Tân Bình. Đến năm 1779 thì cương vực của phủ Gia Định đã bao trùm toàn vùng Nam Bộ hiện nay. Chỉ riêng Trà Vinh và Sóc Trăng có giao lại cho vua Chân Lạp cai quản một thời gian, nhưng đến năm 1835 cũng được sát nhập vĩnh viễn vào lãnh thổ Việt Nam. Kể từ đó đến nay, vùng đất này đã trải qua 8 lần thay đổi tên gọi cũng như vị trí của nó trong hệ thống hành chính: Gia Định Phủ (1698-1802), Gia Định Trấn (1802-1808), Gia Định Thành (1808-1832), Nam Kỳ (1832-1867), Cochinchine tức Nam Kỳ thuộc Pháp (1867-1945), Nam Phần (1945-1975), Nam Bộ (1945 đến nay).
    Tóm lại, vào đầu thế kỷ XVI, hầu hết đất đaiở Đồng bằng Sông cửu Long đều là hoang hoá. Kể từ thời điểm đó, các cộng đồng lưu dân người Khmer, người Việt, người Hoa, người Chăm mới nối tiếp nhau tiến vào khu vực này, chia nhau khai khẩn, đào kinh, canh tác, định cư, buôn bán, dần dần biến một vùng đất hoang vu rộng lớn thành những vùng nông nghiệp trù phú và những đô thị sầm uất. Nền văn hoá Miền Tây cũng từ đó đã hình thành như một kết quả dung hợp giữa cái nền là văn hoá Việt với những yếu tố tiếp biến từ văn hoá Chăm, Khmer, Hoa.... Gọi Miền Tây nói riêng và Nam Bộ nói chung là vùng đất mới, là theo nghĩa đó.
    1.3. Chủ thể văn hoá
    Hiện nay, Nam Bộ là nơi cư trú của người Việt và các tộc người thiểu số di dân: Khmer, Hoa, Chăm,
    Người Khmer cư trú ở Sóc Trăng (350.000 người, chiếm 28,9% dân số toàn tỉnh, 32,1% tổng số người Khmer cả nước), Trà Vinh (290.900 người, chiếm 30,1% dân số toàn tỉnh, 27,6% số người Khmer cả nước), An Giang, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Kiên Giang, Tây Ninh..., với dân số 1.055.174 người. Người Hoa cư trú ở thành phố Hồ Chí Minh (428.576 người), Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cần Thơ, Kiên Giang, Bạc Liêu..., với dân số 862.371 người, riêng Nam Bộ là khoảng 800 ngàn người. Người Chăm có dân số 132.873 người, cư trú chủ yếu Nam Trung Bộ, nhưng ở An Giang (12.435 người), thành phố Hồ Chí Minh (5.192 người), Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Phước, Kiên Giang, Bình Dương... thuộc địa bàn Nam Bộ cũng có 24.288 người Chăm.
    Các tộc người khác thì di dân vào Nam Bộ theo ba đợt chính: di dân có tổ chức vào các năm 1954, 1975, và di dân tự do ồ ạt từ năm 1994.
    Do vậy, Đồng bằng Sông Cửu Long cũng là một vùng đất đa tộc người. Tuy nhiên, chủ thể văn hoá chính của toàn vùng vẫn là người Việt, tộc người đa số mà dân số ở riêng Nam Bộ lên đến hơn 15 triệu người, chiếm 88% dân số của vùng, chủ thể văn hoá chính bên cạnh người Việt còn có người Khmer và người Hoa. Người Khmer là một tộc người thiểu số đông dân, xếp thứ 5 trong 54 tộc người ở Việt Nam, và có trình độ kinh tế - xã hội phát triển. Người Hoa cũng là một tộc người thiểu số đông dân, xếp thứ 6 trong 54 tộc người ở Việt Nam, và có trình độ kinh tế - xã hội phát triển. Do quê quán khác nhau và nhập cư vào những thời điểm khác nhau, nên người Hoa ở Việt Nam và Nam Bộ nói riêng là một tộc người không thuần nhất về nguồn gốc và ngôn ngữ. Những người Hoa đến Nam Bộ vào thế kỷ XVII-XVIII, gọi là người Minh Hương, thì phần nhiều con cháu đều đã trở thành người Việt, đóng góp vào văn hoá Việt nơi đây những yếu tố đặc thù của văn hoá người Hoa. Còn những người Hoa vẫn còn giữ nguyên ý thức tộc người mà trước đây gọi là người Đường, thì chủ yếu là con cháu của di dân người Hoa đến Nam Bộ vào thế kỷ XIX-XX. Ngoài ra, trong văn hoá Đồng bằng Sông Cửu Long còn có những yếu tố Chăm. Nhưng đó là do người Việt đã hấp thu từ văn hoá Chăm ở Nam Trung Bộ. Còn bản thân người Chăm Nam Bộ thì do dân số ít và sinh hoạt khép kín nên không tác động đáng kể vào văn hoá Việt trong vùng, không đóng vai trò chủ thể văn hoá chính nơi đây.
     Tiểu kết: Cộng đồng người ở Nam Bộ là một cộng đồng phức hợp gồm nhiều tộc người, và có một số lượng lớn là dân Nam Tiến và sống hòa hợp với người bản địa.
    Last edited by caodai; 05-03-2012 at 12:03 PM.
    "Đã để vào Tòa một sắc hoa/ Từ đây đàn nội tỷ như nhà/Trung thành một dạ thờ Cao Sắc/ Sống có Ta, thác cũng có Ta" :praying:2 Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Maha Tát :praying:2

  3. #3

    Mặc định

    Tính cách của người Nam Bộ khác người Trung Bộ và người Bắc Bộ:
    Người Bắc Bộ nổi tiếng là người có đầu óc làm chính trị, hơn nữa họ có một ý chí, quyết tâm cao vào việc mình đang làm, bao gồm lý tưởng, ước mơ và công việc, người Trung Bộ lại là người nổi tiếng cần cù chăm chỉ, đặc tính này của người miền Trung được quy định bởi thiên nhiên hà khắc với một năm có 90% số cơn bão đến Việt Nam là đỗ vào miền Trung, còn người Miền Nam được thiên nhiên ưu đãi nhiều thứ nên họ sống thoáng hơn và hòa đồng với nhau hơn. Người Nam Bộ bắt buộc phải hòa đồng với nhau vì các lý do:
    Tất cả người dân đến sau đều là người di cư, gốc gác của họ đều là những người phái bắc (cho nên miền Nam không có anh hay chị cả mà chỉ có anh hoặc chị 2, mà đối với miền Bắc, thứ 2 vẫn chưa lớn nhất, cả mới lớn nhất) và luôn có 1 hoài niệm về quê hương xứ sở nào đó xa vời, đó là cố hương, cho nên, dù trong cuộc nhậu của người Nam Bộ có vui cách mấy thì chỉ cần cất lên ngũ âm Cống hò, xề, liếu, xàng trong 1 bản đờn ca tài tử hay một đoạn cái lương nào đó thì ngay lập tức ta có cảm nhận như nó buồn một cách mênh mang đến lạ thường.
    Họ buồn, cho nên họ cần kết bạn và có bạn, muốn kết bạn và có bạn. bắt buộc người Nam Bộ phải biết tôn trọng lẫn nhau.
    Ví dụ: có 6 người: A,B,C,D,E,F.
    A theo Phật Giáo
    B theo Thiên Chúa Giáo
    C theo Hồi Giáo
    D tín ngưỡng dân gian
    E theo tô tem giáo
    F theo tin thần Lão Nho…
    Bắt buộc họ phải tôn trọng nhau và liên kết chia sẽ cùng nhau nếu họ không muốn quá trình phân ấp, lập làng đánh bật họ ra theo định luật chọn lọc tự nhiên, do vậy, họ thoải mái trong chuyện đức tin và có thể chia sẻ với nhau nhiều thứ
    Đó là tính mở và tính liên kết tăng cường của văn hóa Nam Bộ.
    Thế hệ thứ 2 và 3 sau F là thế hệ biến tiếp biến và giao lưu qua lại với nhau. Cơm no áo ấm hiển nhiên họ sẽ có thời gian để chia sẻ và tìm kiếm niềm tin siêu hình của mình. Cũng đây là lý do tại sao tôn giáo Nội địa Việt Nam đều ra đời tại Miền Nam (Cao Đài, Hòa Hảo, Đạo Dừa, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Bửu Sơn Kỳ Hương) và đều mang tính cách tân mạnh mẻ đôi khi vượt qua cả các khuôn phép của tôn giáo gốc.
    Tiểu kết:
    Vùng đất Nam Bộ là dân nhập cư biết liên kết và chia sẻ, tôn trọng và yêu thương
    Sự sung túc cho phép con người suy lý một vấn đề siêu hình (có thực mới vực được đạo) Trước năm 1975, Việt Nam tồn tại luồn tư tưởng như người theo tôn giáo là những người thất bại trong cuộc sống và mất đi niềm tin nên muốn mượn tôn giáo như một giá đỡ tinh thần nào đó, đây là nhận định hết sức sai lầm mà ngày nay nó đã giảm bớt.
    "Đã để vào Tòa một sắc hoa/ Từ đây đàn nội tỷ như nhà/Trung thành một dạ thờ Cao Sắc/ Sống có Ta, thác cũng có Ta" :praying:2 Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Maha Tát :praying:2

  4. #4

    Mặc định

    3. DƯỚI GÓC NHÌN SỬ CHÍNH TRỊ
    Năm 1858, Pháp nổ phát súng đầu tiên bất đầu 1 giai đoạn lịch sử dân tộc Việt Nam. Sau hiệp ước Hác Măng và pa tơ nốt, Nhà Nguyễn đã chính thức công nhận miền nam là xứ thuộc địa.
    Gọi là xứ thuộc địa nhưng miền Nam vẫn phát triển nhanh chóng nhờ cơ chế thị trường định hướng tư bản mưu toan của đế chế thực dân, tuy nhiên nó vẫn tạo điều kiện cho sự phát triển trình độ dân trí với một tầm mức nhất định. Có thể coi là tự do trong khuôn phép hà khắc.
    Các tôn giáo ồ ạt truyền và du nhập vào Việt Nam nhưng không tôn giáo nào nhận được một kết quả mỹ mãn.
    Nhân dân chịu 2 vòng kiềm kẹp của thực dân Pháp và của chính sách địa tô hủ lậu của Nguyễn Triều, hận càng thêm hận, phẫn uất càng thêm phẫn uất. Họ bị áp bức bóc lột một cách tận mạng với đủ thứ sưu dịch và thuế khóa, nhân dân mất niềm tin vào cuộc sống, sự tự do cũng bị quản thúc, cấm hội họp… dẫn đến việc nhu cầu hội họp lại tăng cao, tôn giáo lại là một nhu cầu để thỏa mãn nhu cầu phủ lấp khoảng trống tâm linh.
    Mặc dù như vậy nhưng không một tôn giáo nào lúc bấy giờ được người Nam Bộ tiếp thu tuyệt đối:
    Pháp lấy ki tô giáo làm công cụ xâm lược, nhà Nguyễn ra sức cấm đạo giết đạo Ki tô nhưng dân vẫn theo, đến khi nhà nguyễn đầu hàng Pháp thì nhân dân lại bài xích Kito để thể hiện sự phẫn uất, hơn nữa, trước năm 1945, kito giáo không phù hợp với phong tục của dân tục lúc bấy giờ.
    Nguyễn Đình Chiểu viết:
    Thà đuôi mà giữ đạo nhà
    Còn hơn có mắt, ông cha không thờ để phán ảnh việc Kito giáo lúc đó yêu cầu tin đồ đập phá bàn thờ ông bà tổ tông, bàn thờ phật để làm lễ vào đaoh Ki tô.
    Phật giáo bị khủng hoảng trầm trọng mặc dù trước thời vua Minh Mạng, Phật Giáo được nhà Nguyễn coi sóc và hồi sinh phần nào, nhưng Nho giáo vẫn là công cụ của người cai trị. Hơn nữa, Phật Giáo Việt Nam phát triển trước thời Minh Mạng cũng chỉ là Phật Giáo tại Huế mà thôi, trong miền Nam này, Phật Giáo dường như càng ngày càng gặp khó khăn khi công giáo càng ngày càng ức hiếp đồng bào phật tử.
    Tin Lành vào Việt Nam vào tháng 6 năm 1911. Bản thân giáo luật tin lành đã không phù hợp với nhân dân Việt Nam tại nam bộ lúc bấy giờm, huống chi nó còn nghiêm hơn cả giáo luật ki – tô trên 1 vài phương diện nào đó. Và nó lại bị sự bài xích từ Nhân dân, Ki tô giáo, và cả Phật Giáo, nên tin lành chưa thực sự phát triển
    Truyền thống tổng hợp và trong âm tính của cư dân phương Đông gốc nông nghiệp đã tổng hợp 3 tôn giáo sớm du nhập vào Việt Nam đã có cơ hội phát triển nhiều hơn với sự ra đời của Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội và của Ngũ Chi Minh Đạo tại Việt Nam.
    Truyền thống ấy tiếp tục đặt ra yêu cầu phải làm sao để vừa thỏa mãn nhu cầu tâm linh, vừa có thể hòa hiếu với nhau nhiều nhất để không gặp phải sự sứt mẻ tình cảm anh em mới giao hữu => sáng tạo 1 tôn giáo mới phải đảm bảo những yêu cầu đó và Cao Đài Giáo ra đời với tất cả những sự tổng hợp giữa:
    1. Phật Giáo
    2. Nho Giáo
    3. Lão Giáo
    4. Ki tô giáo
    5. Tô tem giáo
    6. Tê ran giáo
    7. Bái vật Giáo
    8. Tín ngưỡng thờ mẫu
    9. Tín ngưỡng thờ thần
    10. Và sự giao lưu qua lại đã đáp ứng được điều đó nên Đạo Cao Đài nhanh chóng được nhân dân chấp nhận
    "Đã để vào Tòa một sắc hoa/ Từ đây đàn nội tỷ như nhà/Trung thành một dạ thờ Cao Sắc/ Sống có Ta, thác cũng có Ta" :praying:2 Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Maha Tát :praying:2

  5. #5

    Mặc định

    4. DƯỚI GÓC NHÌN CỦA XÃ HỘI HỌC PHÂN LẬP NHÂN SỰ:
    Với điều kiện tự nhiên như trên, cộng thêm tính cách con người Nam Bộ đặc trưng như đã nêu, tôn giáo tổng hợp ra đời tại miền Nam là một điều tất yếu, tuy nhiên, một tôn giáo ra đời không đồng nghĩa với sự thành công của nó, tiêu biểu như đạo Dừa đến nay không còn bao nhiêu tín đồ nữa. Có thể nói 1 trong những nguyên nhân dẫn đến sự thành công của Đạo Cao Đài phải kể đến đội ngũ nhân sự truyền giáo đáng nể của tôn giáo này:
    a. Thừa lọc những chức việc yêu nước từ chính phủ Langsa:
    Tất cả những người được Cao Đài Tiên Ông chọn đều là những người có học thức, làm việc và phục vụ cho chính phủ langsa nhưng có tinh thần yêu nước cao thượng và thiêng liêng, có người là Bắc Đẩu Bộ Tinh, có người là Đốc Phủ như ông Chiêu chẳng hạn, những người này mặc dù làm việc cho chính quyền đô hộ nhưng họ biết yêu thương và bảo vệ quyền lợi của nhân dân mình.
    Họ có một nền tảng kiến thức tây học tương đối vững vàng như lại có một cố lõi trong kiến thức văn hóa phương đông, lời ăn tiếng nói có lễ nghi, triều tiết và tài hùng biện thuyết phục cao. Một trong nhưng người này có thể kể đầu tiên phải là các ông Phạm Công Tắc, Lê Văn Trung, Nguyễn Ngọc Tương, Ngô Minh Chiêu, Nguyễn Văn Ca…
    Họ trở thành những nhân viên truyền giáo chuyên nghiệp mặt dù tôn giáo này chưa hình thành trọn vẹn.
    b. Sự liên kết mạnh của đội ngủ nhân sự truyền giảng
    Có thể nói, đầu những năm 30 của thế kỷ 20, Đạo Cao Đài phát triển nhanh đến mức chính phủ lang sa đã phải nhiều lần nhòm ngó, nhưng họ vẫn phát triển nhanh chóng cũng là nhờ nội bộ đang là 1 khối thống nhất, chưa có sự chia rẽ nội bộ, chưa có sự phân lập quyền lực vì phẩm cấp đều được ban công bằng trên năng lực và tổ chức giáo triều vẫn còn chưa hoàn thiện.
    Họ ra sức truyền giảng vì 1 mục đích chung là truyền bá nhanh chóng tân tôn giáo này, cho nên, đoàn kết là sức mạnh để tôn giáo này nhanh chóng xen sâu vào trong từ thôn ấp…. Về sau, khi bắc đầu có sự phân chia, vô tình, sự phân chia này làm cho sự phát triển càng trở nên đa dạng sắc màu hơn nữa, vô hình chung đã tạo điều kiện cho Cao Đài Giáo phát triển đến tận cơ sở, đơn vị hành chính nhỏ nhất.
    Đến những năm 1930, khi sự phát triển đã lên đến cao trào thì theo sơ đồ phát triển hình sin của vận động, tôn giáo này đi vào giai đoạn gian truân.
    Giáo phẩm đã được ổn định, và việc xây dựng giáo luật, giáo chức đã hình thành nên 1 tổ chức phải nói là vô cùng chặc chẽ với đầy đủ tam quyền phân lập, và biết tập trung quyền lực, cho nên, có thể nói tổ chức bộ máy của đạo Cao Đài trước 1930 là một bộ máy nhà nước chặt chẽ với 2 mặt tương tác chặc chẽ là nhà nước phong kiến trung ương tập quyền và nhà nước dân chủ tư bản tây phương với tam quyền phân lập rõ ràng, chính tổ chức quá chặt và đoàn kết này đã là cho thực dân nghi ngại. Thêm vào đó, sự tập trung quyền lực dẫn đến tính tất yếu là tranh giành, tương tác với những yêu tố lịch sử và tâm linh khác mà tôn giáo này thoái trào dần dần.
    Tuy nhiên, khi khai đạo vào năm 1926, đến năm 1930 chỉ có 5 năm nhưng đã có đến hàng chục vạn tín đồ thì có thể xem đây là một bước nhảy vọt và thành công to lớn của một tân tôn giáo nội địa như Cao Đài
    Sự Thành công của Đạo Cao Đài là sự thành công tổng hợp từ nhiều yếu tố mà chính những yếu tố đó đã thành công to lớn khi tự nó biết cách kế thừa, phát huy và liên kết.
    "Đã để vào Tòa một sắc hoa/ Từ đây đàn nội tỷ như nhà/Trung thành một dạ thờ Cao Sắc/ Sống có Ta, thác cũng có Ta" :praying:2 Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Maha Tát :praying:2

  6. #6

    Mặc định

    Trên đây là toàn bộ bài tham luận của tệ đệ về Nguyên nhân thành công của bản giáo dưới góc độ một công trình khoa học, bước đầu đi vào nghiên cứu bản giáo còn nhiều sơ sót kính mong chư huynh tỷ đệ muội có thể bỏ qua.
    Nguồn bài viết:
    Bài nghiên cứu khoa học "Nguyên nhân thành công của Đạo Cao Đài"
    Người viết: Đoàn Vũ Thanh Hoàng
    Đơn Vị: DVI109, Việt Nam Học, Văn hóa - Du lịch, Đại học Sài Gòn.
    Điện thoại: 094.777.1746.
    email: hoangdvi109@gmail.com
    Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để chúng ta cùng nhau nhìn nhận vấn đề 1 cách rõ ràng và đúng đắn hơn nữa,
    Mong rằng Đại Đạo sẽ hoằng khai ba giới.
    Tệ đệ cuối xin Đức Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Maha Tát cùng chư vị tiên bang ban rưới hồng ân cho toàn bổn giáo được vạn phước khang ninh, thế giới hòa bình, muôn dân thường lạc.
    "Đã để vào Tòa một sắc hoa/ Từ đây đàn nội tỷ như nhà/Trung thành một dạ thờ Cao Sắc/ Sống có Ta, thác cũng có Ta" :praying:2 Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Maha Tát :praying:2

  7. #7

    Mặc định

    TỆ ĐỆ CẢM ƠN ANH VŨ KINH DOANH HOA TƯƠI TẠI CỔNG SỐ 2 TÒA THÁNH TÂY NINH THUỘC CAO ĐÀI TÒA THÁNH TÂY NINH ĐÃ CÓ NHIỀU Ý KIẾN HẾT SỨC SÂU SẮC, THỂ HIỆN TẦM NHÌN BAO QUÁT VÀ KHÔN KHÉO CỦA NGƯỜI TÍN ĐỒ CAO ĐÀI HIỆN ĐẠI, TỆ ĐỆ XIN TIẾP THU NHỮNG Ý KIẾN CỦA ANH VÀ SẼ CỐ GẮNG HOÀN THIỆN NHIỀU NHẤT CÓ THỂ ĐỂ ĐÁP LẠI TẤM THỊNH TÌNH, TÂM ĐẠO VÀ LÒNG NHIỆT HUYẾT CỦA ANH.
    CẦU CHO THIÊN ÂN THƯỢNG ĐẾ BAN ÂN LÀNH ĐẾN ANH, GIA QUYẾN, QUÍ TIỀN BỐI, HUYNH ĐỆ, TỶ MUỘI THUỘC CAO ĐÀI TÒA THÁNH TÂY NINH VÀ TOÀN BỔN GIÁO.
    NAM MÔ CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
    Last edited by caodai; 13-03-2012 at 07:50 PM.
    "Đã để vào Tòa một sắc hoa/ Từ đây đàn nội tỷ như nhà/Trung thành một dạ thờ Cao Sắc/ Sống có Ta, thác cũng có Ta" :praying:2 Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Maha Tát :praying:2

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Cuốn: NHỮNG BÍ ẨN CUỘC ĐỜI
    By chiencsb in forum Tâm linh – Tín ngưỡng – Siêu hình học – Ngoại cảm
    Trả lời: 12
    Bài mới gởi: 08-06-2015, 10:42 PM
  2. Trả lời: 22
    Bài mới gởi: 01-06-2012, 11:51 AM
  3. Trả lời: 12
    Bài mới gởi: 20-04-2012, 09:16 AM
  4. TÂM VŨ TRỤ
    By doxuantho in forum Đạo Việt Nam
    Trả lời: 242
    Bài mới gởi: 26-03-2012, 02:27 PM
  5. Tìm hiểu về TĐGCL
    By tinhkhithan in forum Đạo Việt Nam
    Trả lời: 33
    Bài mới gởi: 28-06-2011, 05:51 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •