Niệm Phật thì trong tâm phải có Phật (tâm này chính là tâm Bồ Đề, là chân tâm), trong nguyện phải có Phật, trong giải phải có Phật, trong hành phải có Phật. Một tiếng A Di Đà Phật này đã đầy đủ cả Tâm-Nguyện-Giải-Hành. Nghe như vậy thì chúng ta liền hiểu rõ tại vì sao rất nhiều người niệm Phật không có lực, vì họ miệng niệm A Di Đà Phật nhưng trong tâm-nguyện-giải-hành đều không có Phật, tức là không có tâm Bồ Đề, không có 48 nguyện, không hiểu rõ đối với chân tướng sự thật, không có hành trì như Phật, Bồ Tát đã hành trì. Miệng tuy là niệm Phật nhưng thiếu đi thực chất, không có tín tâm.
Trên Kinh Bát Nhã nói, phải luôn luôn rõ ràng, luôn phải tường tận thực tướng các pháp, thì sau đó mới biết tự tôn trọng mình. Ta phải tôn trọng chính mình, tôn trọng tánh đức của chính mình, phải tôn trọng người khác, tôn trọng tánh đức của người khác, vì tánh đức của người khác cùng tánh đức của ta là như nhau, tánh đức của chúng ta cùng tánh đức của Như Lai cũng là như nhau. Con người hiểu được tự tôn trọng mình, tự yêu thương chính mình, thì sau đó mới có thể yêu thương, kính trọng người khác. Đó gọi là đại từ đại bi.
Cho nên đại sư Ngẫu Ích vừa mở đầu Kinh A Di Đà Yếu Giải, đã đem những thứ này nói được rõ ràng tường tận, nói thông suốt thấu đáo. Chúng ta nghe rồi nếu chân thật là đã nắm được cương lĩnh Phật pháp, thì đời này có lý nào mà không thành tựu! Tôi ngay đời này được pháp hỷ sung mãn là tôi rất cảm kích lão sư Phương, thầy đã đem Phật pháp giới thiệu cho tôi, thầy nói: “Học Phật là hưởng thụ cao nhất của nhân sanh”. Nay tôi đạt được rồi. Trong giảng đường của chúng ta, di ảnh của lão sư thảy đều đặt trước mặt tôi, khi tôi đọc sách đối diện với thầy, khi tôi giảng kinh dạy học cũng đối diện với thầy, mỗi niệm đều không quên ân đức của thầy.
Nếu không có chỉ dẫn của thầy, không có giáo huấn của thầy thì cả đời này của tôi sẽ khổ không nói ra lời, làm gì được an vui như thế này, làm gì có thể có pháp hỉ xung mãn, thường sanh tâm hoan hỉ. Nhờ thầy dạy bảo, cho nên tôi sâu sắc thể hội được hai câu danh ngôn của cổ thánh tiên hiền Trung Quốc: “tu thân vi bổn, giáo học vi tiên”. Tức là, đối với chính mình tu thân làm gốc, đối với bên ngoài thì trước tiên là dạy học. Dạy học chính là bố thí, là pháp bố thí thù thắng nhất. Chỗ này mọi người đều xem thấy ở trong kinh giáo, Phật tán thán đối với pháp bố thí là “bố thí bảy báu bằng đại thiên thế giới đều không thể sánh được công đức đem bốn câu kệ trên kinh Phật nói cho người khác nghe”. Lời nói này là thật, không hề hư dối. Dù bạn có được bảy báu trong đại thiên thế giới, nhưng chưa chắc gì thật an vui. Thế nhưng trong bốn câu kệ này mà khai ngộ thì cái an vui đó, bảy báu đại thiên thế giới quyết không thể so sánh được. Bởi vì sau khi bạn có được bảy báu trong đại thiên thế giới rồi, bạn vẫn không thể thoát khỏi sáu cõi luân hồi, thời gian bạn hưởng thụ có hạn, sau khi hưởng thụ xong, bạn vẫn phải chịu khổ chịu nạn; còn nếu đã ngộ bốn câu kệ của Phật pháp rồi thì một ngộ tất cả ngộ, sẽ triệt ngộ cứu cánh viên mãn, vậy bảy báu làm sao có thể so sánh, không chỉ sáu cõi ba đường không có mà mười pháp giới cũng không có, chân thật là được đại tự tại.
Cho nên đại sư Ngẫu Ích dạy chúng ta, dạy người tu pháp môn Tịnh Độ phải nên chấp trì danh hiệu làm chánh hạnh, không cần tu thêm quán tưởng và tham cứu. Quán tưởng và tham cứu đều thuộc về Tánh tông và Thiền tông, nên không cần phải học những thứ này. Đẳng hạnh, đẳng là đẳng giáo. Quán tưởng, tham cứu, v.v… rất nhiều phương pháp tu hành khác không cần đến, vì trong câu Phật hiệu này đã bao hàm hết tám vạn bốn ngàn pháp môn. Có cần phải học thêm những thứ khác hay không, có cần phải xem thêm hay không? Không cần thiết. Cho nên nói, pháp môn niệm Phật là đơn giản nhất, thẳng tắt nhất, đơn giản dễ dàng đến tột điểm, thẳng tắt nhanh gọn đến tột cùng.
Niệm Phật thì trong tâm phải có Phật (tâm này chính là tâm Bồ Đề, là chân tâm), trong nguyện phải có Phật, trong giải phải có Phật, trong hành phải có Phật. Một tiếng A Di Đà Phật này đã đầy đủ cả Tâm-Nguyện-Giải-Hành. Nghe như vậy thì chúng ta liền hiểu rõ tại vì sao rất nhiều người niệm Phật không có lực, vì họ miệng niệm A Di Đà Phật nhưng trong tâm-nguyện-giải-hành đều không có Phật, tức là không có tâm Bồ Đề, không có 48 nguyện, không hiểu rõ đối với chân tướng sự thật, không có hành trì như Phật, Bồ Tát đã hành trì. Miệng tuy là niệm Phật nhưng thiếu đi thực chất, không có tín tâm. Phải có tâm, tức Tâm-Nguyện-Giải-Hành, tâm miệng phải tương ưng.
Cho nên nói: một niệm tương ưng một niệm Phật, niệm niệm tương ưng niệm niệm Phật, thì đó thật là biết niệm, cảm ứng sẽ không thể nghĩ bàn. Miệng niệm ra tiếng là tự lợi lợi tha. Tự lợi thì không cần phải nói nhưng lợi tha ở chỗ nào? Là khi người khác nghe được, lợi ích thấp nhất là trong A Lại Da Thức của họ đã gieo được giống Phật. Chúng ta đã đem hạt giống A Di Đà Phật trồng xuống trong A Lai Da Thức của họ là nhờ miệng niệm. Nếu trong đời quá khứ của họ có thiện căn phước đức, thì khi gặp được cái nhân duyên này liền làm cho thiện căn phước đức của họ sống dậy. Cho nên niệm ra tiếng, niệm lớn tiếng là tự lợi lợi tha. Đạo lý này phải hiểu thì sau đó mới biết tu học như thế nào, niệm Phật như thế nào, sẽ niệm được đến pháp hỉ sung mãn.
Tịnh Không Pháp Sư
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks