Là người Kito hữu mà k dựa vào Chúa thì k còn là người Kito hữu nữa. (Nói như vầy k biết có ai bắt bẻ là: vậy nếu bị bệnh thì nằm nhà mà cầu xin Chúa đi, vậy k cần học, khi nào đi thi thì xin Chúa cho đậu đi, ... k ta?)
Đối với Ngài chúng tôi phải Tin Cậy Mến (Tin, Phó thác, Yêu mến).
ĐỨC CẬY
Nếu bạn hỏi một linh mục trẻ sau hai năm thực thi thừa tác vụ liệu ngài thích cử hành lễ rửa tội, hôn phối hay là an táng hơn, thì tôi chắc chắn rằng ngài sẽ trả lời là lễ an táng. Trong các lễ hôn phối, sự chú ý của các tín hữu bị phân tán : có cô dâu, áo cưới, chú rễ, các cha mẹ, etc. Trong lễ rửa tội, có em bé, cha mẹ, vú bõ đỡ đầu được hỏi những gì phải làm, etc. Trong cả hai trường hợp, thì sự kích thích đến độ người ta khó tập trung.
Đối với lễ an táng thì hoàn toàn khác. Sự chú ý của những người tham dự bị sự phiền muộn thu hút. Việc cử hành lễ và nghĩa trang là kết quả của một sự liên tiếp những ngày dài trong đó những người đang ở đó đã chịu đau buồn. Cử tọa thì mệt lử. Vào ở giữa thì có chiếc hòm, dấu rõ ràng của sự đau buồn của mọi người. Có một nhu cầu thúc bách và hiển nhiên về sự nâng đỡ và an ủi. Nhưng những người để tang chỉ sẽ nhạy cảm như thế trong chừng mực vị linh mục chú ý đến tình cảm mất mác mà họ nghiệm thấy.
Khi tôi là học sinh trung học, tôi nhớ rằng có một người láng giềng độ ba mươi mấy tuổi đã tự vẫn. Bà quả phụ và con cái đến nhà chúng tôi đêm hôm đó và một linh mục trong giáo xứ đã có mặt để an ủi gia đình. Ngài thực sự đã mong muốn bảy tỏ sự nâng đỡ của mình ; ngài đã đến ngay lập tức sau khi cảnh sát gọi cho ngài. Nhưng ngài đã tỏ ra vui vẻ. Ngài đã quá vui vẻ. Ngài mỉm cười, cười, vui đùa. Ngài muốn mang đến niềm hy vọng, nhưng chỉ đi đến kết quả là bị từ chối.
HÃY ĐỂ CHỖ CHO SỰ PHIỀN MUỘN
Nhiều nhà phụng vụ đã hành động thiếu cân nhắc như nhau đối với các nhu cầu của những người có tang khi họ đã sửa đổi nghi thức thánh lễ an táng. Nói chung, họ đi từ thái cực này đến thái cực khác. Trước Công đồng, Giáo Hội tham dự bằng lời cầu nguyện vào thánh lễ cho người qua đời. Sau Công đồng, người ta bắt đầu cử hành thánh lễ phục sinh. Người ta đã hoàn toàn chuyển từ phiền muộn sang niềm vui, từ màu đen sang màu trắng. Các nhà phụng vụ có lý khi muốn đưa vào màu sắc của sự phục sinh, nhưng lẽ ra họ nên làm như thế mà vẫn lưu tâm đến kinh nghiệm của cử tọa vừa mất đi một người thân yêu. Lúc lễ an táng, cử tọa đang ở trong sự đau buồn sâu xa. Yêu cầu họ vui mừng về sự phục sinh không chỉ là phi thực tế, đó đúng là phi nhân.
Phụng vụ lễ an táng được tập trung vào niềm hy vọng, đó không phải là một cử hành niềm vui. Không phải ở cái chết của Chúa Giêsu mà Đức Maria và các môn đệ đã cảm thấy niềm vui, nhưng ở sự phục sinh của Ngài. Niềm vui, đó là những gì mà các bậc cha mẹ nghiệm thấy lúc con mình chao đời. Niềm vui, đó là những gì chúng ta cảm thấy khi chúng ta thực sự có điều gì đó. Niềm hy vọng là những gì mà chúng ta nghiệm thấy khi chúng ta không còn sở hữu gì nữa. Vào lúc diễn ra nghi thức an táng, theo cách tốt nhất là có niềm hy vọng.
Ở những lễ an táng, nhiều tín hữu trải qua một thời điểm khó khăn. Đối với những ai có đức tin cũng như đối với những ai không có, thì sự phiền muộn bao trùm. Nhưng những tín hữu có thể cảm thấy một cảm giác bối rối. Họ hẳn muốn biết tại sao họ không cảm thấy sự xác tín về sự phục sinh hơn. Họ ngạc nhiên rằng đức tin của họ yếu kém đến độ họ có thể cảm thấy mình bất hạnh như những người không tin.
Thường xảy ra là những người tin, bị đảo lộn bởi cái chết của người thân yêu, cảm nghiệm rằng đức tin của họ không nâng đỡ họ nhưng đúng hơn là đè nặng họ, khi họ dự một nghi thức an táng. Chính khi người ta tự vấn về sự yếu kém của đức tin của mình mà niềm hy vọng mang lấy tất cả ý nghĩa của nó. Vì đức cậy là sự sẵn lòng không từ bỏ đức tin vào lúc mà, có thể nói như thế, người ta không còn rút ra được bất kỳ sự an ủi nào từ đó nữa.
VÀ CÁI CHẾT ĐỐI VỚI MỘT TÍN HỮU ?
Bây giờ cần phải xem xét lời khẳng định nực cười này, theo đó, cái chết sẽ dễ dàng được chấp nhận bởi các tín hữu hơn là bởi những người vô thần và những người theo thuyết bất khả tri. Cái chết cướp đi mạng sống của một người thân yêu theo cùng một cách thức đối với mọi người, với cùng một sự hiển nhiên, thể lý và tinh thần. Đối với người vô thần và những người theo thuyết bất khả tri, cái chết là điểm sau cùng : cánh cửa sự sống khép lại. Ý nghĩa của cái chết là vô phương vãn hồi. Các tín hữu cũng cảm thấy cái chết như là kết thúc ; họ không cảm nghiệm về cái chết cách ít thảm thương hơn. Tuy nhiên, họ không sẵn sàng nuôi dưỡng cùng một xác tín như những người không tin về vấn đề sự chết. Bất chấp sự mất mác, bất chấp sự yếu kém của đức tin của mình, họ chọn để cho cánh cửa sự chết mở ra. Rất thường, đối với những ai khóc lóc, thì đức tin không phải là một sự an ủi, đúng hơn nó làm cho chưng hửng. Niềm hy vọng đích thực, đó là giữ gìn đức tin. Đối diện với cái chết, với tư cách là người tin, chúng ta quyết định đứng vững trước lời hứa phục sinh, cho dầu đầu gối của chúng ta run rẩy. Nơi đâu không có mối nghi ngờ nào, sự thiếu xác tín nào, sự bối rối nào, ước muốn nếm thử hơn ân ban đức tin nào, thì ít cần nhu cầu hy vọng ở đó. Nhưng chúng ta vẫn sống trong niềm hy vọng, niềm hy vọng về những gì mà chúng ta không sở hữu – tức là kinh nghiệm chắc chắn về sự phục sinh.
Mỏ neo được xem như là một hình ảnh về niềm hy vọng. Khi chúng ta cảm thấy bị lắc lư bởi những làn sóng, chúng ta đi lạc hướng, chúng ta bị mất phương hướng, thì chúng ta tìm thấy nơi đức cậy, cái mỏ neo mà cho phép chúng ta kiên vững trong đức tin. Chính khi chúng ta bị lay động bởi những cơn gió mà niềm hy vọng có thể giúp chúng ta. Như đức can đảm, đức cậy là nhân đức của sự kiên trì, của sự bền bỉ.
Quan niệm về niềm hy vọng này đã được khai triển trong Chrétiens, demain : Le visiteur[15], một cuốn tiểu thuyết hay được Brian Moore viết cách đây một thời gian. Vào một thời kỳ tương lai sau Công đồng Vatican III, có một sự bất bình nào đó dường như xảy ra trong một cộng đoàn đan tu. Vatican gởi một vị kinh lược đến điều tra. Trên đường đi, người ta biết rằng cha viện trưởng, con người tốt lành và lương thiện, không còn cầu nguyện được nữa từ nhiều năm nay. Khi ngài cố gắng, không có gì diễn ra. Sự gay go của những chiến đấu của ngài, mà ngài giải thích cho vị kinh lược, là rõ ràng trong suốt câu chuyện. Và ở đoạn kết, trong phiên bản quay phim, người ta thấy viện phụ đang kinh sợ, quỳ gối một mình trong đêm tối, thử phát âm những từ của Kinh Lạy Cha.
Cuốn tiểu thuyết này dẫn đến những lời nói của thánh Phaolô trong Thư gởi tín hữu Rôma của ngài. Ở chương VIII, một trong những đoạn về niềm hy vọng, ngài nhận xét rằng chúng ta hy vọng những gì chúng ta vẫn còn chưa thấy : nếu ta có thể thấy, thì đó sẽ không còn là hy vọng nữa. Ngài viết, niềm hy vọng giúp chúng ta chính khi chúng ta yếu đuối. Ngài nói thêm rằng sự yếu đuối của chúng ta có thể đến độ thấm chí đôi khi chúng ta không còn biết cầu nguyện như thế nào. Nhưng, ngài nói, chính vào lúc mà chúng ta muốn có thể cầu nguyện (hãy lưu ý kỹ : không phải là khi chúng ta cầu nguyện, nhưng là khi chúng ta muốn có thể cầu nguyện) mà Thánh Thần nói với Chúa Cha xuyên qua những tiếng rên siết của chúng ta. Trong sự bất khả cầu nguyện của chúng ta, chính Thánh Thần cầu nguyện cho chúng ta, nhưng bằng cách thông qua chúng ta.
Trong những tiếng rên siết của chúng ta, chúng ta hy vọng. Vì rên siết tự nó là một ước muốn, một niềm hy vọng. Tiếp tục cuộc đối thoại ngay cả khi chúng ta đối diện với những sợ hãi dữ dội nhất của chúng ta là một hành vi hy vọng. Đức cậy hệ tại ở chỗ vẫn tiếp tục đối thoại, ngay cả khi chúng ta không nói được lời nào nhưng ước muốn phát âm chúng vẫn hãy còn. Như viện phụ quý gối, bị đè nặng bởi nổi kinh sợ, chúng ta cũng hy vọng khi không còn gì khác phải làm hơn là bày tỏ ước muốn tin của chúng ta. Chính ước muốn này rất thường cư ngụ nơi tâm hồn của những ai khóc than một người thân yêu.
ĐỨC CẬY NHƯ LÀ ÂN BAN
Chính ở đây mà chúng ta phải xem đức cậy như là một ân ban của Thiên Chúa. Vì nếu chúng ta nghĩ rằng những người có tang mà bám lấy lời cầu nguyện trong một lễ an táng, hay cha tu viện trưởng của Brian Moore, hay những độc giả của Thư gởi tín hữu Rôma, chỉ hy vọng vào những sức lực riêng của mình, thì chúng ta bị nhầm lẫn về những gì là đức cậy. Như đức tin và đức ái, hai nhân đức đối thần khác, đức cậy không phải là điều gì đó mà ta có thể thủ đắc hay làm cho lớn lên bằng chính bản thân của ta. Đức cậy, cũng như đức tin và đức ái là những ân ban, những ân ban thuần túy, là chính biểu lộ của ân sủng.
Đức cậy, đó là Thánh Thần mà, khi trở về trong con người mệt mỏi, kiệt sức, sợ hãi của chúng ta, đang ban cho chúng ta phương tiện tiếp tục cuộc đối thoại, đứng vững trước nhan Thiên Chúa hằng sống. Tất cả những gì cho phép chúng ta tiếp tục tin tưởng trước cái chết, sự nghi ngờ, sự thiếu xác tín hay sự sợ hãi đều thuộc về đức cậy. Khả năng đứng vững không nao núng, mỏ neo mà củng cố chúng ta khi chúng ta bị đánh bởi những cơn gió, làm chứng cho sự hiện diện của Thiên Chúa trong chúng ta.
Nếu chúng ta xem đức cậy như là một ân ban, thì chúng ta thấy nó như là một biểu hiện cụ thể của mối quan tâm mà Thiên Chúa mang đến cho chúng ta. Nhưng chính ở chỗ trống rỗng cực độ của sự yếu đuối của chúng ta mà mối quan tâm này trở nên có thể nhận thấy được. Khi chúng ta là những người dễ bị tổn thương nhất, thì Thiên Chúa ban cho chúng ta Thánh Thần hy vọng. Đức cậy thực sự là ân ban của Thiên Chúa cho sự tổn thương của chúng ta. Chính khi chúng ta bị kiệt sức, câm lặng, bất lực, nói cách khác là đối diện với sự tổn thương của chúng ta, trong bóng tối của cuộc đời chúng ta, mà Thiên Chúa đến trong chúng ta để ban lại cho chúng ta sức mạnh.
Nhưng sự hiện diện của niềm hy vọng không phải là căng thẳng, tàn nhẫn, cũng không ầm ĩ. Nó không đột nhiên biến bóng tối thành ánh sáng, thinh lặng thành hùng hồn. Đức cậy nhẹ nhàng như cơn gió nhẹ. Nó tôn trọng sự tự do của chúng ta, trí tuệ của chúng ta, các cảm xúc của chúng ta. Đức cậy không tước mất chúng ta khỏi óc phê bình, khỏi những kinh nghiệm sa mạc của chúng ta, khỏi những sợ hãi sâu xa của chúng ta. Nó thâm nhập nhẹ nhàng, bảo đảm cho chúng ta sự hiện diện của Thánh Thần ngay giữa lòng đau buồn. Sự hiện diện êm dịu này lại đầy sức mạnh, không phải bằng cường độ nhưng bằng chiều sâu. Chính hơi thở của Chúa Thánh Thần đang đến khi chúng ta rên siết, đảm bảo cho chúng ta rằng khi chúng ta biết đến những giây phút yếu đuối lớn lao nhất, khi chúng ta kiệt sức, thì Thiên Chúa sẽ không bỏ rơi chúng ta.
***
[15] Brian Moore, Chrétiens, demain : Le visiteur, roman, Villeneuve d’Ascq, Université de Lille III, 1997, 85 p. Một cuốn phim đã được rút ra từ cuốn tiểu thuyết này
Tác giả Võ Xuân Tiến, Lm.
Trông cậy nơi Chúa k có nghĩa là phó mặc hết cho Ngài mà chúng tôi k cố gắng.
Đau bệnh chúng tôi xin Ngài cho gặp thầy gặp thuốc rồi đến bác sĩ, khám bệnh, uống thuốc, làm theo lời bác sĩ dặn, k chỉ riêng ng bệnh cầu nguyện mà cả gia đình, họ hàng, bạn bè và hàng xóm đều chung lời cầu nguyện (nếu là bệnh nặng) cho ng bệnh mau khỏi, chúng tôi cũng k quên xin nếu Ngài định cho chúng tôi ra đi thì xin cho chúng tôi được chết lành (được sạch tội trọng, được chịu các bí tích Hòa Giải, Thánh Thể và Xức Dầu)
Ai đi học thì phải lo học và xin ơn Chúa soi sáng cho mau thuộc, mau nhớ, mau hiểu. Đi lễ thì được cha dặn k được quay bài, vì quay bài cũng là 1 hình thức gian dối. (Nhưng hs CG có quay bài nhiều hay ít là chuyện khác, nhé)
Cháy nhà thì lo gọi cứu hỏa rùi bà con hàng xóm giúp nhau chạy đồ đạc ra, trong lúc đó cũng k quên xin Chúa gìn giữ chúng con bình an.
Ai cũng lo làm ăn trước hết để đủ ăn, sau mong có dư chút cho con cái ăn học, chữa bệnh khi cần thiết. Và cầu nguyện hằng ngày "Lạy Cha chúng con...xin Cha cho chúng con lương thực hàng ngày..."
Đây là tâm tình ở xứ đạo của mình. Mình nghĩ các xứ đạo khác cũng thế thôi. Nhưng những xứ mà người CG ở lẫn và chiếm tỷ lệ dân số ít hơn thì có lẽ sẽ hay có chuyện đua theo xem bói, thậm chí cầu bùa ngải. Có thể là do họ không biết là có 1 số LM có thể trừ quỷ. (Ở xứ mình và các xứ khác vùng Lâm Đồng thì sẽ đến cha Hoàng ở xứ Thanh Bình (Đức Trọng) và cha Truyền xứ Tân Hóa (Bảo Lộc) để nhờ trừ ma quỷ ám hoặc quấy phá. Các LM có năng quyền trừ quỷ như xưa Chúa Jesus đã trừ quỷ, nhưng k phải ai cũng trừ được, vì còn phụ thuộc vào sự thánh thiện, sự luyện tập nữa. Xem thêm Nhà trừ quỷ kể truyện http://www.google.com.vn/url?sa=t&rc...7PZyQ2NUSslLPA)
nhưng chẳng thấy chúa nói gì bao giờ
Chúa nói với chúng tôi qua kinh thánh Cựu Ước và Tân Ước đó. Nhất là Tân Ước, có rất nhiều câu nói của Chúa Jesus, ai tin vaò lời Ngài và sống giới răn yêu thương của Ngài thì sẽ chẳng hư mất bao giờ.
À, nhắc đến đây mới nhớ, bạn nói rằng kinh thánh là do Vatian tự biên tự chế phải k nhỉ? Mình đã trả lời bạn rồi nhé. kèm theo mấy đường link nữa đó
Bạn thấy mình hay trích dẫn lời Chúa và các bài chia sẻ hay sách của các LM chứ? Mình đang dựa vào các ngài đấy, chứ sức mình làm được gì.
Bề trên, linh mục, cha xứ, cha phó, giám mục, giáo hoàng k phải tự nhiên mà có. Chúa Jesus đã lập bí tích truyền chức thánh trong bữa Tiệc Ly, bữa ăn cuối cùng với các tông đồ trước khi Ngài bước vào cuộc Tử Nạn và Phục Sinh.
Do đó, chức LM là chức thánh (vì do Chúa thiết lập, để các ngài thay Chúa ở trần gian để chăm sóc đàn chiên Chúa trao phó cho các ngài là chúng tôi đây, các ngài sẽ là thầy dạy đức tin cho chúng tôi, chứ k phải có chức thánh thì các ngài sẽ làm thánh sống. Chúng tôi tôn trọng các ngài vì chức thánh đó, chứ các ngài cũng là con người, cũng yếu đuối mỏng giòn như tất cả chúng tôi, các ngài cũng phải đi xưng tội. Còn khi chúng tôi xưng tội thì k phải các ngài tha tội mà là Chúa tha tội, các ngài chỉ là thừa tác viên của Chúa, tội lỗi chúng tôi xưng được giữ bí mật, k được tiết lộ cho bất cứ ai, dù có bị kề dao vào cổ thì các ngài cũng k đc nói cho ng ta biết.
Dù là giáo hoàng, hồng y, hay giám mục thì trên hết các ngài phải là linh mục, là linh mục chính là mục tử thay Chúa Jesus là Mục Tử Tốt Lành để chăm sóc đoàn chiên.
Mình nhớ có bạn nào đó ở box này đã nói đại ý là sao chúng tôi làm người k muốn mà lại muốn làm vật cho ng khác chăn dắt?
Là ng CG thì ai cũng nhận mình là con chiên của Chúa, còn các LM chỉ là ng thay Chúa chăm sóc tâm linh cho đoàn chiên mà thôi, chính các LM,GM và GH cũng là con chiên của Chúa
Và chính Chúa Jesus, Ngài là Chiên Thiên Chúa, Đấng Gánh Tội trần gian
ĐÂY CHIÊN THIÊN CHÚA!
ĐÂY ĐẤNG XOÁ BỎ TỘI TRẦN GIAN!
(Ga 1,29-34)
Tuần trước với lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, ta đã được nghe Chúa Cha giới thiệu Đức Giêsu: "Đây là Con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về Con".
Chủ nhật hôm nay, ta lại được nghe thánh Gioan Tẩy Giả giới thiệu Đức Giêsu: "Đây là Chiên Thiên Chúa! Đây Đấng xoá tội trần gian."
Lời giới thiệu của Gioan làm cho người Dothái nói riêng và cho người Kitô hữu nói chung hiểu rằng:
Như máu con chiên bôi lên cửa nhà vào đêm Vượt qua cứu dân Israel khỏi chết như thế nào, thì máu thánh Đức Giêsu đổ ra trên thập giá cũng cứu nhân loại khỏi chết như vậy.
Như con chiên vô tội gánh lấy tội lỗi của dân Dothái trong ngày lễ Xá Tội hàng năm như thế nào, thì Đức Giêsu là Đấng vô tội chịu thương khó cũng gánh lấy tội lỗi nhân loại như vậy.
Như con chiên hiền hành vô tội bị dẫn đến lò sát sinh mà không hề mở miệng kêu ca như thế nào, thì Đức Giêsu vô tội cũng vui lòng chịu đóng đinh và chịu chết trên cây thập giá như vậy.
Như Con Chiên đã bị giết, nhưng đã chiến thắng khải hoàn như thế nào, thì Đức Giêsu chịu nạn chịu chết cũng Phục sinh sáng láng như vậy.
Nhìn vào cuộc đời Đức Giêsu, ta thấy: Người quả thật là Đấng gánh tội trần gian và xoá tội trần gian.
Người gánh tội trần gian khi Người nhập vào dòng người tội lỗi đến xin Gioan làm phép rửa. Người xoá tội trần gian khi Người tuyên bố: "Tôi đến không phải để kết tội, nhưng là để cứu độ."
Người gánh tội trần gian khi Người giao du, ăn uống với những người tội lỗi đĩ điếm. Người xoá tội trần gian khi Người nói với chị phụ nữ ngoại tình: "Ta không kết tội chị đâu. Chị hãy về bình an và từ nay đừng phạm tội nữa."
Người gánh lấy tội trần gian khi Người chịu đóng đanh và chịu chết cùng với hai tên trôm cướp trên thập giá. Người xoá tội trần gian khi Người cầu nguyện trên thập giá: "Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết."
Tóm lại, từ Belem cho đến Calvario, Đức Giêsu đã luôn luôn gánh tội trần gian và xoá tội trần gian.
Ngày hôm nay và cho đến mãi tận thế, Đức Giêsu vẫn luôn luôn gánh tội và xoá tội trần gian.
Người gánh tội trần gian và xoá tội trần gian khi Người yêu thương và tha thứ cho tôi, cho Giáo Hội và cho từng người một trong chúng ta.
Người gánh tội trần gian và xoá tội trần gian khi tôi và hết thảy mọi người chúng ta biết yêu thương và tha thứ những lỗi lầm cho anh chị em minh.
Người gánh tội trần gian và xoá tội trần gian khi Giáo Hội cử hành các bí tích.
Nơi bí tích rửa tội, thụ nhân được tha tội tổ tông và tội riêng.
Nơi bí tích Hoà giải, hối nhân gặp được tình thương và sự tha thứ của Thiên Chúa.
Nơi bí tích Xức Dầu, bệnh nhân được Thiên Chúa nâng đỡ và ủi an.
Nơi bí tích Thánh Thể, ta được nghe lời linh mục giới thiệu giống như lời Gioan Tẩy Giả giới thiệu: Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian! Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa.
Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian, xin thương xót chúng con. Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian, xin ban bình an cho chúng con. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Văn Hữu
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)




Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks