QUANG MINH TU ĐỨC NHẬT TỤNG YẾU LƯỢC
TUÂN LỆNH:
Cha Hiền, Mẹ Báu và đức Thượng Phật Cửu Tằng ban truyền sắc lệnh cho các thiện tín phải nguyện cầu mỗi ngày bốn buổi:
TÝ – NGỌ – MÃO – DẬU
Theo những bài sau này:
BUỔI SÁNG: MÃO
Bài cầu Cha Hiền
(Chân quỳ tay chắp, ngoảnh mặt về phương Đông cầu bài này):
Lậy đức Thượng Đế,
Quyền phép vô biên,
Lập địa khai thiên,
Hóa sinh muôn giống,
Chúng con xa đắm,
Lòng dạ tối tăm.
Đọa vòng gian truân,
Mắc vòng tội lỗi,
Ngày giờ sám hối,
Giây phút ăn năn,
Cho lòng con trong,
Dạ con sạch sáng,
Phá chất si ám,
Khai trí tuệ căn,
Khẩu ý thân tâm,
Nguyện rèn uốn nắn,
Ma tà xa lánh,
Quỷ mị bất xâm,
Sạch rũ bụi trần,
Nghiệp căn đoạn tuyệt,
Cho lòng kiên quyết,
Niệm niệm chú văn,
Đội đức từ nhân,
Vô cùng vô cực,
Tiên hương sực nức,
Truyền cảm cửu thiên,
Chí tín tận thiền,
Đức Cha chứng giám.
Làm phép:
NHẬT NGUYỆT QUANG MINH TÂM
[COLOR="rgb(139, 0, 0)"]Bài cầu Mẹ Báu[/COLOR]
(Chân quỳ tay chắp, ngoảnh mặt phương Tây đọc tám câu này):
Lậy đức Di Đà cõi Lạc Bang,
Sót thương kẻ thế khác chi con.
Đôi hàng lệ ngọc cùng tuôn nhỏ,
Một lá gan vàng lại héo hon.
Công đức che chùm trong vũ trụ,
Từ bi cứu độ khắp càn khôn.
Muôn loài muôn giống đồng xưng niệm:
“Phật Tổ Di Đà Mẹ Báu tôn”.
(Đọc bài này xong rồi lễ 3 lễ, rồi chắp tay vào ngực mà niệm Phật):
Na mô A Di Đà Phật (10 lần)
Na mô Quán Thế Âm bồ tát (10 lần)
Na mô Đại thế Chí bồ tát (10 lần)
Na mô Thanh tịnh đại hải chúng bồ tát (10 lần)
Niệm Phật xong, cầu tiếp đến bài này:
Khấu đầu tây hướng lậy quỳ,
Bái triều Mẹ Báu A Di chứng lòng:
Chúng con mê muội ngu đần,
Xa vòng tội lỗi, đọa vòng gian truân.
Đội ơn Đức Mẹ từ nhân,
Ra tay vớt kẻ trầm luân, lạcloài.
Thương con giọt lệ tuôn rơi,
Muốn cho khắp hết ai ai đến bờ.
Cho nên Mẹ nặng lời thề:
“Chúng sinh con muốn sinh về nước ta”
“Mười câu niệm Phật Di Đà,”
“Không sinh ta nguyện đọa xa bực hèn”
Một lời Mẹ đã phát nguyền,
Khuôn vàng đúc ngọc như in rõ ràng.
Con nay một tấm lòng vàng,
Vun giồng cây đức sửa sang nền từ.
Nguyện sinh Tịnh Độ Liên trì,
Hồng danh sáu chữ A Di chuyên cần,
Bao nhiêu thánh trí mở lòng,
Ma quân bặt dấu, nợ nần rũ thanh.
Mây tan tỏ ánh quang minh,
Hết cơn giông tố biển bình sóng yên.
Một tòa Cửu phẩm Kim liên,
Mẹ nâng Mẹ dắt con lên Bảo Đài.
Làm phép:
NHẬT NGUYỆT QUANG MINH TÂM
(Đọc xong bài cầu nguyện Cha Hiền, Mẹ Báu rồi lại đọc bài tự quy này):
Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sinh, thể giải đại đạo, phát vô lượng tâm.
Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải.
Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại, HÒA NAM THÁNH CHÚNG.
Nguyện dĩ thử công đức
Phổ cập ư nhất thiết,
Ngã đẳng dữ chúng sinh,
Giai cộng THÀNH PHẬT ĐẠO.
Bài Bảo Hiệu
(Chân quỳ tay chắp, ngoảnh mặt vào bàn thờ hay bất cứ phương nào, cầu bài này):
Bảo Hiệu linh linh chí riệu huyền,
Quang Minh biến chiếu tận tam thiên.
Phụng tôn sắc lệnh thiên thần giáng,
Phúc lượng vô cùng phúc quả viên.
Chúng con kính tôn,
Chắp tay quỳ gối:
Phật là Mẹ Báu,
Giời chính Cha Hiền,
Lòng con đảo điên,
Dạ con đen tối,
Vấn vương chỉ rối,
Tội chất non kiêu,
Khấu đầu bái triều,
Con xin quy sám.
Linh quang ứng giáng,
Soi dạ con nay,
Nguyện xin từ đây,
Ăn năn hối tội,
Đeo tấm Bảo Hiệu,
Sét tính soi lòng,
Cha Mẹ thương cùng,
Đàn con ngu dại,
Xá con vạn tội,
Đoạn lũy kiếp oan,
Kìa bốn chữ vàng:
“QUANG MINH NHẬT NGUYỆT”
Đôi bên rõ rệt,
Chữ VẠN chữ TÂM,
Soi khắp Tây Đông,
Hai ngọn đèn tỏ,
Thờ một chúa tể,
Chính thực Tâm ta,
Trục khu nội tà,
Đẹp trừ ngoại quỷ,
Rất tôn rất quý
Tối hiển tối linh,
Chẳng nhờn chẳng khinh,
Tự răn tự tỉnh,
Đeo hiệu Minh Kính,
Cẩn cẩn phòng phòng,
Dẫu hủy hoại thân,
Chẳng hề phạm tội,
Lòng như sắt nguội,
Trí tựa thép gang,
Thấy vàng chẳng tham,
Ngó sắc không động,
Chê thì không giận,
Khen cũng chẳng mừng,
Bỏ tính kiêu căng,
Bỏ lòng ác độc,
Đánh mắng chẳng bực,
Khinh ghét không hờn,
Chẳng câu gian ngoan,
Không nhời xiểm nịnh,
Ý thân thanh tịnh,
Miệng lưỡi giữ gìn,
Gặp biến chẳng chồn,
Lâm nguy vẫn vững,
Đừng mê đừng lẫn,
Chớ hãi chớ kinh,
Tâm phải thinh thinh,
An nhàn tự tại,
Không ngăn không ngại,
Mặc ý tung hoành,
Hết sóng biển bình,
Rõ bày muôn tượng
Đèn trong tỏ rạng,
Tuyết sạch trăng in,
Tắt sạch cảnh duyên,
Dứt đường tình vọng.
Tính tướng bình đẳng,
Thể tựa hư không,
Còn chi quả nhân,
Còn chi dấu vết,
QUANG MINH NHẬT NGUYỆT,
Chiếu riệu muôn trùng,
Nọ nọ vừng Hồng,
Non Đông đã hé,
Ham chi cõi uế,
Kíp vượt sang bờ,
Kìa thuyền đón chờ,
Mẹ Cha trông đợi,
Mau mau bước tới,
Kẻo muộn kẻo trưa,
Nhuần thấm móc mưa,
Mẹ Cha rẩy tưới,
Tòa vàng choi chói,
Mẹ dắt con lên.
Làm phép:
NHẬT NGUYỆT QUANG MINH TÂM
BUỔI TRƯA: NGỌ
Bài Luyện Tâm
(Ngồi kim cương, tay cầm ấn kim cương, đọc bài này):
Thiên Đàng Địa Ngục tại Tâm ta,
Tu tỉnh Tâm kia chớ đắm xa!
Tâm sáng, sạch, trong Tâm tức Phật,
Tối, đen, gợn, đục biến vi tà.
Tâm tối quan hệ,
Tâm là chúa tể,
Tâm chính cỗi rễ,
Trong một thân ta.
Thiên Đàng, Địa Ngục,
Nào có đâu xa,
Tâm đục là tà,
Tâm trong tức Phật,
Cảm động Giời xanh,
Một tấm lòng thành,
Tâm là quý nhất,
Ta chớ coi khinh,
Bao quát càn khôn,
Vô lượng hư không,
Tâm tối linh thông,
Chí huyền chí riệu,
Tâm phải cho định,
Cho chính cho minh,
Thu nhiếp tâm linh,
Chuyên tâm bất dịch,
Chớ nghi chớ hoặc,
Chớ khá phân vân,
Tâm phải chí chân,
Tĩnh nhiên thủ nhất,
Cho khiết cho tịnh,
Tâm phải thinh thinh,
Đừng mê đừng loạn,
Chớ hãi chớ kinh,
Đừng nhiễm sa trần,
Chớ biến động Tâm,
Im lìm vắng lặng,
Dưỡng tính an thần,
Tâm phải luyện rèn,
Cho cần cho chuyên,
Tâm phải quyết kiên,
Cho vững cho bền,
Cám dỗ Tâm ta,
Quỷ, mị, ma, tà,
Tâm chớ đắm xa,
Việt siêu dũng mãnh,
Xui khiến Tâm ta,
Tật dục ngoại cảm,
Tâm chớ mờ ám,
Tinh tiến uy cường,
Tâm tối nan trị,
Ta chớ khinh khi,
Ngẫm nghĩ xét xuy,
Rũa mài nắn uốn,
Kiến tính minh tâm,
Phật hiện tại Tâm,
Minh Tâm kiến Phật,
Phật tức thị Tâm,
Tâm trong trí sáng,
Là thuốc trường sinh,
Tu Đức Quang Minh,
Tiên đan Phật dược,
Đan tại Tâm ta,
Há phải đâu xa,
Muốn được chân truyền,
Ngẫm nghĩ cho ra.
Làm phép:
NHẬT NGUYỆT QUANG MINH TÂM
Bài Rèn Tâm Nhẫn Nhục
(Ngồi kim cương, tay cầm ấn kim cương, đọc bài này):
“Nhẫn” kia quý hóa nhất đời,
Đạo cao vô lượng đức thời rộng to.
Quan sang nào dám đọ so?
Bảo châu khó sánh của kho khôn bì.
Này xem chữ “Nhẫn” tuyệt kỳ:
Trên hai dao cắt dưới thì chữ Tâm.
Đau như đứt ruột khôn cầm,
Mặt ngoài không đổi trong lòng trơ trơ.
Rỗng rang chẳng chút bụi nhơ,
Vắng lặng như tờ đâu khởi cảnh duyên.
Gặp người giận dữ ghét ghen,
Dèm phê phỉ báng tâm yên như tờ.
Gặp người riễu cợt nhạo cười,
Tâm kia chẳng chuyển dạ thời thinh thinh.
Gặp người ganh tỵ, tranh dành,
Rủa, nguyền, đánh, mắng, tâm tình chẳng lay.
Chẳng sinh hờn giận mảy may,
Tâm kia như sắt, dạ này quá gang.
Gặp người hết dạ yêu đương,
Ngợi khen, quý mến, kính tôn cúng dàng.
Không ưa ham, muốn, thích, mừng;
Tâm trong sáng tỏ tựa vừng trăng cao.
Gặp khi thời tiết đổi giao,
Nóng thiêu, rét buốt, mưa ào, gió lay.
Tâm ta cũng chẳng đổi thay,
Bền vững dạ này, chẳng oán trách chi.
Lâm cơn tai biến tối nguy,
Trái duyên, nghịch cảnh, tâm kia chẳng nhàm.
Có câu “chữ Nhẫn tương vàng”,
Chữ “Nhẫn” rõ ràng ấy thật bảo châm.
Lập thân lấy “Nhẫn” bản căn,
Suối tham, nguồn dục, lửa sân dẹp trừ.
Giới luật chẳng khuyết chẳng hư,
Tám vạn tế hạnh oai nghi ba ngàn.
“Nhẫn” kia linh diệu lạ nhường,
Tám gió chẳng chuyển, năm bùn không nhơ.
Đi về cảnh giới tam ma,
Đoạn hoặc diệt tà, kiến tính minh tâm.
Lục căn tức hóa lục thông,
Ngũ nhỡn, tứ trí, tam thân rõ ràng.
Nào ai muốn được hảo hoàn,
Lấy “Nhẫn” làm gốc mọi đàng ước nên.
Gia đình trong ấm ngoài êm,
Vợ chồng quý mến, anh em thuận hòa.
Muôn nước hợp lại một nhà,
Chẳng phân nòi giống, mầu da trắng vàng.
Ai ai giữ đức Nhịn nhường,
Sinh lòng nhân hậu, vuông tròn, kính yêu.
Chẳng khi, chẳng trá, chẳng kiêu,
Chẳng hề ganh tỵ, chẳng điều đua chen.
Muôn loài tựa thể anh em,
Tắt dập lửa phiền, cắt đứt giây oan.
Còn chi tranh chiến, lầm than,
Còn chi kiếp vận, tai nàn gớm ghê.
Huyết hồ chuyển hóa Liên trì,
Địa Ngục tức thì hóa cảnh Bồng Lai.
Ngọc Bảng kìa danh đã chép đề,
Mau mau chóng chóng luyện rèn đi,
Nhịn nhường báu ấy vàng khôn sánh,
Đức rộng, bao trùm khắp chở che.
Làm phép:
NHẬT NGUYỆT QUANG MINH TÂM
BUỔI TỐI: DẬU
Bài cầu Cha Hiền
(Chân quỳ tay chắp, ngoảnh mặt phương Đông cầu bài này):
Đội ơn Thượng Đế,
Thương xót muôn loài,
Đại đạo hoằng khai,
Vớt người chìm đắm,
Quang Minh yểm ánh,
Biến chiếu Tây Đông,
Sạch rửa mọi lòng,
Trục khu hắc khí,
Kiên tâm quyết chí,
Con nguyện quy y,
Lậy đức Từ Bi,
Xá con tội lội,
Hoàng hôn buổi tối,
Đông hướng quỳ tâu,
Tay chắp miệng cầu,
Chính tâm chính niệm,
Rèn rèn luyện luyện,
Bền dạ tu trì,
Xét xét suy suy,
Ra công luyện đạo,
Đoạn tuyệt oan báo,
Lũy kiếp tội khiên,
Bệnh tật triền miên,
Phi tai nghiệp chướng,
Giải trừ ác tướng,
Quái mộng bất tường,
Thủy hỏa đao thương,
Đạo tặc sâm nhiễu,
Cha ban sắc chiếu,
Bát bộ Long thần,
Thập đại Thiên quân,
Đồng lai ủng hộ,
Một lòng ngưỡng mộ,
Chuyển chú niệm kinh,
Thấu đạt Thiên Đình,
Cảm thông Tam giới,
Bảng vàng choi chói,
Bút ngọc châu phê,
Đội đức từ bi,
Vô biên vô lượng,
Lậy Đức Tối Thượng,
Chí cao chí tôn,
Chí đức chí nhân,
Linh quang ứng hiện,
Cho con sở nguyện,
Như ý tòng tâm,
Con đươc mong ân,
Viên hoàn Phúc quả.
Làm phép:
NHẬT NGUYỆT QUANG MINH TÂM
Bài cầu chung Cha Mẹ
(Chân quỳ tay chắp, ngoảnh mặt bàn thờ hay bất cứ phương nào, cầu bài này):
Chắp tay lậy đức Cha Hiền,
Quỳ gối đàn tiền lậy Mẹ chí tôn.
Thương con nước mắt rào tuôn,
Công ơn trời bể núi non khôn tầy.
Thương con u ám mê say,
Mắc vòng tội lỗi, đọa đầy trầm luân.
Vậy nên ức kiếp xả thân,
Giáng sinh xuống cõi hồng trần cứu con.
Tùy phương, tùy xứ, tùy căn,
Thuyết kinh, thuyết kệ, thuyết văn dậy đời.
Hiện thân khắp hết nơi nơi,
Khi giáng làm Chúa, khi thời Phật thân.
Khi thời chuyển hóa Thánh nhân,
Khi thời hiện Đại Chân Nhân rõ ràng.
Một thân biến hiện muôn vàn,
Thiên cơ huyền bí mơ màng ai hay.
Khấu đầu quỳ gối chắp tay,
Nguyện hết dạ này trọng Mẹ tôn Cha.
Nguyện xin bỏ nẻo ma tà,
Theo đường chân chính, Mẹ Cha chứng lòng.
Chẳng tham, chẳng nhiễm bụi hồng,
Vui miền nước Trí, non Nhân tháng ngày.
Gió từ mát mẻ hây hây,
Sen Vàng nay đã đến ngày khai hoa.
Đồng tâm trọng Mẹ, tôn Cha,
Bốn bể một nhà, biện cảnh Bồng Doanh.
Một giờ tắt lửa bất bình,
Yên cơn giông bão, sóng kềnh lặng ngay.
Thương đàn con dại đần ngây,
Đỏ hoe đôi mắt Mẹ nay mong chờ.
Mau mau con bước lên bờ,
Còn ngơ, còn ngẩn, còn ngờ chi con.
Vừng Hồng đã hé đầu non,
Con mau bừng mắt, tỉnh cơn mộng sầu.
Ngọc Văn thành khẩn ngưỡng cầu,
Cha thương, Mẹ quý phép mầu lại ban.
Tuy rằng cốt cách tục phàm,
Tức chuyển mình vàng, cốt cách Phật Tiên.
Thượng Đế Nguyên Dương,
Là Cha đại hiền,
Phật Tổ Tây thiên,
Chính thực Mẹ Báu.
Róc xương rỏ máu,
Cứu chuộc muôn loài,
Muốn cho ai ai,
Ăn năn hối ngộ,
Rưới rưới Cam lộ,
Cứu bệnh khổ nguy.
Rọi đuốc huyền vi,
Soi đêm đen tối,
Tanh hôi ao máu,
Chuyển hóa Sen Vàng,
Cốt cách tục phàm,
Chuyển thành tiên cách.
Nhất tâm tu đức,
Tâm Đạo quy y,
Mẹ Cha chứng chi,
Châu phê bút ngọc,
Non Tây đỏ rực,
Chín phẩm Kim Lien,
Cha dắt tay lên,
Mẹ nâng Mẹ đỡ.
Làm phép:
NHẬT NGUYỆT QUANG MINH TÂM
Bài cầu Mẹ Báu
(Chân quỳ tay chắp, ngoảnh mặt phương Tây đọc bài kinh này):
Bể khổ mông mênh sóng rập rờn,
Gió cuồng trăm trận bão nghìn cơn,
Chèo chèo xin quyết chèo qua bến,
Kẻo Mẹ mong chờ giọt lệ tuôn.
Chúng con rất kính rất tôn,
Khấu đầu lậy Mẹ sót thương con cùng.
Đêm này lo sợ hãi hùng,
Trí đen khói ám mà lòng gợn dơ.
Mẹ hằng thương lũ con thơ,
Đôi hàng nước mắt như mưa ướt đầm.
Thương con xa xuống hang hầm,
Như dao cắt lòng, chín khúc quặn đau.
Thần thông pháp lực nhiệm mầu,
Mẹ dắt con khỏi vực sâu hang hầm.
Từ bi, quảng đại, khoan hồng,
Muôn kiếp lỗi nhầm Mẹ xá cho con.
Công ơn Giời bể núi non,
Như nước trong nguồn lai láng chẩy ra.
Chắp tay lậy Mẹ trên tòa,
Đức Đại Di Đà giáo chủ Tây Phương.
Từ bi độ khắp nhân hoàn,
Bốn mươi tám nguyện mở đàng vãng sanh.
Con chuyên một niệm kính thành,
Mẹ hiện chân hình ứng giáng linh linh.
Khu tà, điền duyệt ma tinh,
Soi lòng sáng tỏ giăng thanh giữa giời.
Ví ham danh lợi chơi bời,
Càng xa bể khổ, càng vào sông mê.
Từ nay quyết chí tu trì,
Lục trần tam độc sân si tuyệt trừ.
Khấu đầu lậy Mẹ đại từ,
Nguyện diệt lòng tà, đoạn ác chủng căn.
Khấu đầu lậy Mẹ đại nhân,
Tam nghiệp khẩu, ý, thân tâm nguyện rèn.
Khấu đầu lậy Mẹ đại hiền,
Ngọc Văn sáng, tối, ngày, đêm nguyện cầu.
Quang Minh biến chiếu đâu đâu,
Bảo Hiệu nhiệm mầu, hiển hiển ứng linh.
Bốn chữ “NHẬT NGUYỆT QUANG MINH”
Đôi bên dành dành chữ Vạn chữ Tâm.
Nguyện rằng dẫu hủy hoại thân,
Chẳng hề phạm tội, ăn năn hãi hùng.
Chính tâm, diệt dục, thanh lòng,
Khoan dung, đại độ, công bằng, từ bi.
Bao chùm khắp hết chở che,
Hỷ xả, nhẫn nhục, đức kia hải hà.
Tịnh tâm, tâm tức Di Đà,
Cầu nguyện một giờ cảm ứng linh thay.
Di Đà Mẹ ngự phương Tây,
Sen vàng choi chói, hương bay ngạt ngạt.
Mong con lòng Mẹ khát khao,
Giọt lệ tuôn rào, đôi mắt đỏ hoe.
Con mau mau chóng tìm về,
Mẹ nâng, Mẹ đỡ, tiếp về Lạc Bang.
Vui nơi nhà ngọc, đất vàng,
Oai nghiêm tướng mạo, rỡ ràng kim thân.
Một tòa Sen Báu chín từng,
Thung dung Mẹ dắt con cùng bước lên.
Làm phép:
NHẬT NGUYỆT QUANG MINH TÂM
(Làm phép xong niệm bài này):
A Di Đà Phật thân kim sắc,
Tưởng hảo đoan nghiêm vô đẳng luân.
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di,
Hám mục chừng thanh tứ đại hải.
Quang trung hóa Phật vô số ức,
Hóa Bồ tát chúng riệc vô biên.
Tứ thập bát nguyện độ chúng sinh,
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI Đ5I TỪ ĐẠI BI TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT (Hai mươi chữ này đọc ba lần)
Nam mô A Di Đà Phật (108 lần)
Nam mô Quan thế Âm bồ tát (10 lần)
Nam mô Đại thế chí bồ tát (10 lần)
Nam mô Thanh tịnh đại hải chúng bồ tát (10 lần)
(Niệm Phật xong rồi lại đọc tiếp bài Tự quy này):
Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sinh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm.
Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như hải.
Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại, HÒA NAM THÁNH CHÚNG.
Nguyện dĩ thử công đức
Phổ cập ư nhất thiết,
Ngã đẳng dữ chúng sinh,
Giai cộng THÀNH PHẬT ĐẠO.
BAN ĐÊM: TÝ
Bài sám tạ Đức Cha Hiền
(ngoảnh hướng đông, quỳ gối, chắp tay, cúi đầu, đọc bài này):
Im liềm tịch mịch lúc đêm thinh,
Sám tạ Ba Tòa Thượng Thánh Minh.
Muôn kiếp lỗi nhầm, Cha đại xá,
Rửa lòng đục, vẩn, gợn, hôi, tanh.
Rửa lòng đục, vẩn, gợn, hôi, tanh,
Cha hiện thần thông ứng giáng linh,
Khu trục nội tà, trừ ngoại quỷ,
Cho con nan nợ rũ lầu thanh.
Cho con nan nợ rũ lầu thanh,
Chắp cánh tiên bay Thượng Từ Đình.
Bệ Ngọc, Tòa Vàng đời ngự tọa,
Thân Thiên, cốt Phật, ánh quang minh.
Lúc giờ Tý đêm khuya canh vắng,
Hướng đông phương tán thán ngợi khen,
Đức Cha lập địa, sinh thiên,
Sinh Phật, sinh Thánh, sinh Tiên, sinh Thần.
Phóng hào quang xa gần sáng tỏ,
Một bàn tay che chở nơi nơi,
Bao hàm, dưỡng dục muôn loài,
Xét soi thiện ác ty hào phân minh.
Nay con quyết đinh ninh một dạ,
Hết lòng thành cảm tạ thiên ân.
Cha ban áo mặc, cơm ăn;
Yêu thương, quý mến, đỡ đần, nưng niu.
Con tự xét tội nhiều, phúc ít,
Nghiệp chướng dầy, quả kiếp nặng nề.
Vô minh màng ấy phủ che,
Ngẩn ngơ giữa lúc đêm khuya, canh trường.
Tính nóng nẩy, cương cường, bạo ngược,
Lòng tham lam, uế trược, bùn nhơ.
Muôn đời, ngàn kiếp đến giờ,
Sông mê lặn ụp, nhấp nhô bể trầm.
Con bao xiết hãi hùng, bối rối,
Nguyện cầu xin sám hối từ nay.
Cha thương con dại đần ngây,
Xá nhầm, xá lỗi, cởi giây oan thù.
Trục nội tà, khu trừ ngoại quỷ,
Tấm lòng trong tựa thể trăng rằm.
Cốt phàm hóa cốt tiên thần,
Bao nhiêu nghiệp chướng, nợ nần rũ thanh.
Ghi sổ quế thánh minh bút tứ,
Trên ba tòa Thượng Đế ban ân,
Cho con bạch nhật thượng thăng,
Treo cao gương sáng khắp trong cõi đời.
Nguyện cha mẹ sống thời tăng thọ,
Khi lâm chung siêu độ Tây Thiên,
Cửa nhà nguyện được bình yên,
Vợ chồng quý mến, anh em thuận hòa.
Nguyện con cháu vinh hoa, phú quý,
Hiếu, trung, trinh, lễ, nghĩa, tín, nhân.
Nguyện xin thân thích xa gần,
Gội nhuần thánh trạch, thiên ân rồi rào,
Nguyện bốn phương bích, đào, lan, cúc,
Nguyện ba cõi phức ức xạ tiên,
Xinh tươi quả phúc, hoa duyên,
Muôn loài nguyện được ngự lên Liên Đài.
Làm phép:
NHẬT NGUYỆT QUANG MINH TÂM
Bài sám tạ Mẹ Báu
(Ngoảnh hướng tây, quỳ gối, chắp tay, cúi đầu, đọc bài này):
Tự xét mình con tội nặng nề;
Sáng ngày thức dậy đến đêm khuya,
Sáu căn ba nghiệp đen sì bụi,
Sám hối nay con cúi lậy quỳ.
Sám hối nay con cúi lậy quỳ,
Di Đà Mẹ Báu đại từ bi;
Xá nhầm, xá lỗi cho con trẻ,
Mẹ sót, Mẹ thương, Mẹ độ trì.
Mẹ sót, Mẹ thương, Mẹ độ trì,
Dắt con thoát khỏi vũng bùn mê,
Cho con quả phúc viên hoàn hảo,
Nhẹ bước thung dung tới Ngọc Trì.
Đêm khuya canh vắng,
Tây hướng lậy quỳ,
Triều đức A Di,
Cực lạc Giáo Chủ.
Chúng con là kẻ,
Mê muội lỗi nhầm,
Gợn đục, tối tăm,
Tanh hôi, u ám.
Lậy đức Mẹ Báu,
Giúp đỡ yêu thương,
Cho con biết đường,
Ăn năn, hối ngộ.
Sát sinh, hại vật,
Trộm cướp, gian tham,
Bạo ngịch, hung tàn,
Khấu đầu sám hối.
Đường ngang ngõ tối,
Sắc dục, dâm tà,
Bài bạc, rượu chè,
Khấu đầu sám hối.
Lời ăn, tiếng nói,
Ác độc, chua ngoa,
Nguyền rủa, hét la,
Khấu đầu sám hối.
Ăn không nói có,
Lừa dưới gạt trên,
Nói quàng nói xiên,
Khấu đầu sám hối.
Giầu sang tìm tới,
Ngèo khổ tránh xa,
Siểm nịnh a dua,
Khấu đầu sám hối.
Ăn nói hai lưỡi,
Trước mặt ngợi khen,
Sau lưng chê liền,
Khấu đầu sám hối.
Mắt hay ngắm sắc,
Ý nẩy dâm tà,
Tính quỷ, hồn ma,
Khấu đầu sám hối.
Tai nghe câu nói,
Nịnh hót, phỉnh phờ,
Tiếng dâm, tiếng tà,
Khấu đầu sám hối.
Mũi hay thích ngửi,
Những mùi ngát thơm,
Siêu động chân tâm,
Khấu đầu sám hối.
Lưỡi hay thèm nếm,
Ngon, ngọt, béo, bùi,
Hải vị sơn hào,
Khấu đầu sám hối.
Thân hay ưa muốn,
Ôm ấp, vuốt ve,
Gấm, vóc, nhung, tơ,
Khấu đầu sám hối.
Lòng hay loạn rối,
Mơ ước, thèm thuồng,
Nghĩ bậy, tưởng càn,
Khấu đầu sám hối.
Tội cao non núi,
Oan tựa bể sâu,
Chín khúc quặn đau,
Đôi hàng lệ nhỏ,
Con kinh, con sợ,
Con hãi, con hùng,
Phát nguyện một lòng,
Từ nay không phạm.
Cúi đầu bái sám,
Lạy Mẹ từ ân,
Muôn kiếp lỗi nhầm,
Mẹ thương Mẹ xá.
Lọc chong cặn bã,
Ngời tỏ tâm châu,
Phật pháp nhiệm mầu,
Vô biên vô lượng.
Bao nhiêu tội nặng,
Một phút tiêu tan,
Chín phẩm Sen Vàng,
Đời đời ngự tọa.
Nguyện khắp thiên hạ,
Ca dao thái bình,
Muôn loài hữu tình,
Nguyện THÀNH PHẬT ĐẠO.
Làm phép:
NHẬT NGUYỆT QUANG MINH TÂM
Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sinh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm.
Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như hải.
Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại. HÒA NAM THÁNH CHÚNG.
Nguyện dĩ thử công đức,
Phổ cập ư nhất thiết,
Ngã đẳng dữ chúng sinh,
Giai cộng THÀNH PHẬT ĐẠO.
Bài niệm thực
(Nhời dặn: Khi ta ăn cơm, uống nước, ăn trầu, và các phẩm thực khác, hay lúc ốm đau phải uống thuốc, hoặc lúc mặc quần áo mới thì phải đọc như sau này):
Ăn cơm đọc là phẩm thực.
Ăn quả đọc là quả thực.
Uống thuốc đọc là dược thực.
Uống nước trà đọc là trà thực.
Mặc quần áo mới đọc là y phục.
Bài niệm
(Khi niệm phải chắp tay cung kính mà niệm bài này):
Một lòng tưởng niệm,
Niệm tạ Từ ân,
Chí thành chí chân,
Đức Cha chứng giám.
Một lòng tưởng cảm,
Chuyển đạt thượng chân,
Đức Cha ban ân,
Chúng con đội đức.
Cha ban ngũ cốc,
Nuôi dưỡng muôn dân,
Chúng con mông ân,
Vô cùng vô cực.
Cha ban phẩm thực (hoặc quả thực, hoặc trà thực, hoặc dược thực, hoặc y phục)
Đội đức từ nhân,
Chúng con ân cần,
Cảm cầu tưởng niệm.
Cho con sở nguyện,
Lòng được ăn năn.
Cho con nghiệp căn,
Đoạn tiêu trừ duyệt.
Cảm thông thiên quyết,
Niệm niệm chú văn,
Ứng ứng linh thông,
Huyền huyền riệu riệu.
Làm phép:
NHẬT NGUYỆT QUANG MINH TÂM
Phụ bản
Tại sao mỗi ngày phải cầu đủ mười bài trong bốn giờ Tý Ngọ Mão Dậu?
Căn tính chúng sinh về đời mạt pháp, rất là hèn thấp. Bụi trần che lấp – Gương thiện ám mờ - Gợn đục bùn nhơ – Lòng châu đen tối – Tạo tội như non núi – Gây oan tựa bể sâu – Mà cái tội thông thường của chúng sinh hay mắc nhất là tội lười biếng – Từ người tại gia cho đến người xuất gia – đã mắc tội đó – thường bị hư hại hết mọi việc – Cái tội lười biếng – thường dắt theo con ma buồn ngủ - con ma mệt mỏi – con ma chán nản – khiến cho người cùng năm mãn tháng – cứ hết ăn rồi lại nằm – hết nằm rồi ngồi – hết ngồi rồi chơi – thiền không tham – Phật không niệm – kinh không tụng – giới không trì – mà quên hẳn cái bổn sự của mình – chẳng bao giờ quan sát tới cả - Bẩy vía say mê – ba hồn phảng phất – đến khi nhắm mắt bị đọa âm cung – lộn lộn lăn lăn – trong ba đường ác – này dẫu muôn kiếp khó được thân người – để văn kinh thính pháp – cái tội biếng nhác – nguy hiểm vô cùng.
Vì thế, trăm nghìn người tu, mà khó có một người được nên công quả.
Cha Hiền, Mẹ Báu xét rõ căn linh cho nên phải tùy phương ứng hiện thuyết pháp độ sinh, khai Bảo Hiệu, giáng Ngọc Văn. Vì Bảo Hiệu có một thần thông lực rất nên mầu nhiệm, an ủi lòng ta, hàn gắn các vết thương cho ta, ngoài hàng phục quỷ mị yêu ma, trong khu trục giun trùng, rắn rết, giải oan giải kết, giải muộn giải sầu, giải tật giải ách, giải nạn giải tai. Vì thế Ngài truyền cho chúng sinh phải đeo luôn ở người một đạo linh phù để hộ mệnh. Còn Ngọc Văn truyền học thuộc lòng để hàng ngày sáng, trưa, tối, đêm nghĩa là bốn giờ TÝ NGỌ MÃO DẬU phải cầu nguyện. Giờ TÝ bắt đầu từ mười hai giờ đêm, giờ đó khuya ít người cầu được, cho nên Ngài cũng tùy pháp phương tiện mà cho chúng sinh không thể cầu vào giờ đó thì cầu vào lúc chín giờ, mười giờ cũng được.
Sáng ngoảnh mặt hướng Đông cầu Cha, ngoảnh mặt hướng Tây cầu Mẹ xong hướng trung ương cầu Bảo Hiệu. Cầu xong ba bài ngồi kết dà hoặc kim cương tay cầm ấn Dược Sư niệm câu: NAM VÔ TIÊU TAI DUYÊN THỌ DƯỢC SƯ PHẬT. Nhiều ít tùy tâm. Rồi trông thẳng về phía mặt giời mọc lậy năm lậy, mỗi lậy đọc danh hiệu NAM VÔ THÁI DƯƠNG MINH MINH CHÂU QUANG PHẬT. Rồi luyện phép hô hấp nếu tụng thêm được cả kinh văn đức Thái Dương thì càng hay.
Trưa cầu bài luyện tâm và bài rèn tâm nhẫn nhục.
Tối ngoảnh mặt hướng Đông cầu Cha, hướng trung ương cầu chung Cha Mẹ, rồi ngoảnh mặt hướng Tây cầu Mẹ.
Đêm cầu bài sám tạ đức Cha Hiền và bài sám tạ đức Mẹ Báu.
Cầu các bài xong ngồi kết dà tay cầm ấn Cha Hiền, tâm niệm Mẹ Báu.
Xong cầm ấn Mẹ Báu để cầu Mẹ giáng. Các phép luyện nếu rỗi nhàn theo được càng hay, không cứ theo đủ mười bài NGỌC VĂN cũng được. Lại phải nhớ người theo đạo Quang Minh bao giờ cũng phải ngồi kết dà hay kim cương chứ không được ngồi kiểu khác.
Ngoài mười bài NGỌC VĂN hằng ngày cầu nguyện lại thêm BÀI NIỆM THỰC để ăn uống gì chúng sinh chắp tay tạ ơn đức Cha Hiền. Kẻ bận rộn có thể đi cầu, đứng cầu. Kẻ yếu đau có thể ngồi cầu, nằm cầu. Nói rút lại từ người tại gia đến người xuất gia ăn chay hoặc ăn mặn có vợ chồng hay chưa, người sạch sẽ hay uế nhơ (thí dụ đàn bà khi sinh nở và kỳ nguyệt lệ), người giầu sang hay nghèo khó, ai ai cũng có thể cầu được, ai ai cũng có thể tu được. NGỌC VĂN lý rất huyền diệu lại rõ ràng, nghĩa thật cao sâu mà cảm động, khiến từ kẻ thượng trí đến người hạ căn ai ai cũng có thể hiểu được mà có hiểu mới có cảm, có cảm mới hay sám hối. Miệng tụng tâm suy, miệng cầu tâm sám. Sáng sám, trưa sám, tối sám, đêm sám, ngồi sám, nằm sám, đi sám, đứng sám, sáng nguyện, trưa nguyện, tối nguyện, đêm nguyện, ngồi nguyện, nằm nguyện, đi nguyện, đứng nguyện, chẳng lúc nào mà chẳng sám ở lòng, chẳng lúc nào mà chẳng nguyện ở Tâm. Vậy Phật có lúc nào mà chẳng ở Tâm. Tâm có lúc nào mà chẳng phải Phật. Còn có phiền não nào mà chẳng lìa xa. Còn có tà ma nào mà dám quấy nhiễu. Huống hồ lại nhờ được ánh linh quang Cha Hiền Mẹ Báu lúc nào cũng soi sáng lòng ta khác chi trèo một quả núi mà đằng trước có người dắt, đằng sau lại có người đẩy, có lẽ nào mà chẳng thành công? Dễ biết dễ hiểu, dễ học, dễ tu, rất thiết, rất cần, thật tôn, thật quý, công trình rất ít mà kết quả cực to. Chúng ta thử xét lại muốn làm ông nghè ở cõi nhân gian cũng phải học tập siêng năng, lao tâm khổ tứ, mà cho dẫu có thành công đi nữa cũng chỉ sung sướng một trăm năm là cùng. Huống hồ làm ông Tiên ông Phật ở cõi Cực Lạc hưởng phúc vô cùng. Hai đàng so sánh thật khác nhau một giời một vực.
Chúng ta há có phụ lòng đại từ đại bi của Cha Hiền, Mẹ Báu đã quá thương yêu nhân loại, khai Bảo Hiệu, giáng Ngọc Văn, thu ngắn tấc gang con đường vạn dặm mà cố sức ra công sáng tối chuyện cần ngày đêm rèn luyện cho thành đạo Chính chân Chính giác ư?
Vậy có thơ rằng:
Thương đàn con trẻ dại ngu đần,
Mẹ Báu, Cha Hiền giáng hiện thân.
Thuyết kệ thuyết kinh khai Bảo Hiệu,
Muôn năm mừng gặp hội Long Vân.
NA MÔ A DI ĐÀ PHẬT.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks