Mông Cổ du ký (3)
Chủ nhật, 16 Tháng chín 2007, 14:37 GMT+7
Chiếc ô tô tám chỗ ngồi tay lái nghịch đưa đoàn nhà văn lên thảo nguyên tây bắc. Anh lái xe nói tiếng Nga thành thạo, từng học tại Học viện Gorki, Liên Xô, nay bỏ nghề, lập Cty du lịch lữ hành.
Tác giả và kỵ sỹ 2 lần đoạt HCV Mông Cổ Ảnh: Thúy Toàn
Trên xe có thêm hai phụ nữ người bản địa. Ôrianaa, cao một mét sáu lăm, nặng hơn sáu chục ký, hai năm trước từng học Khoa tiếng Việt trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, nay vừa tốt nghiệp Khoa Quốc tế trường Đại học Quốc gia Mông Cổ. Ôrianaa có tên Việt Nam là Hà, biệt danh Hà Tiểu Muội.
Thiếu phụ luôn luôn cặp kè với Viên Công Công là phu nhân mới của ông, có tên Sursit, đã đứng tuổi, nhưng có hai lúm đồng tiền, đôi mắt to đen láy, lúc nào cũng như cười nên trông trẻ hơn mọi cô gái. Viên Công Công đặt tên Việt cho chị là Hoa, chúng tôi thầm liếc nhìn ba vòng đo và thống nhất ngay tên gọi: Hoa Đại Tỷ.
Có thêm gái đẹp, chiếc xe như con tuấn mã biết nịnh đầm tung vó trên thảo nguyên. Xe tay lái nghịch tám chỗ, nhưng phải chứa thêm một hành khách, nên bốn khách ngồi ghế cuối bị hành... xác nhiều lúc đến khó thở.
Được hưởng trực tiếp cái thú đáo... mông là Tường Tiểu Tử và Nhương Tác Nghiệp. Ngồi bên Hà Tiểu Muội họ như bị tóp lại bởi cái mông quá cỡ của nàng, nhưng lại có những cảm giác trái ngược rất lạ: vừa muốn nàng bé nhỏ lại cho thoải mái, lại vừa muốn nàng cứ việc du... mông, choán hết cả chỗ của mình...
Bù lại, câu chuyện của Hà Tiểu Muội ba năm sống ở khu ký túc xá Thanh Xuân, Hà Nội, những chuyến đi Hạ Long, Đồ Sơn, Cửa Lò, những món phở, bún chả, riêu cua... của nàng, như kéo cả làng quê Việt cùng về trên đồng cỏ.
Thú vị nhất là được ngắm đôi bàn tay búp măng, trắng mịn, thon dài, trái ngược hẳn với vóc dáng đồ sộ của Hà. Và nghe nàng hát. Hà có giọng hát thật mê hồn.
Trong vắt và vang ngân. Những bài du ca thấm đẫm giai điệu thảo nguyên, đến nỗi nhắm mắt lại, cứ tưởng chính tiếng hát của nàng chứ không phải chiếc xe con đen bóng đang đưa ta đi trên đồng cỏ.
Trên đồng cỏ Chiêu Kỳ Hiệp ngã ngựa
Giữa thảo nguyên quan huyện đón khách văn
Tiếng hát ấy, buổi tối, khi chủ tịch của năm huyện thuộc tỉnh Silinger tiếp chúng tôi ngủ lại trong khu lều trại giữa đồng, còn làm thất điên bát đảo bao nhiêu người.
Sẽ không bao giờ tôi quên, khi Hà nâng chén rượu Chinggis Khan cùng cạn và bảo: “Em với anh cùng song ca một bài tiếng Việt. Cao cao bên cửa sổ, có hai người yêu nhau”. Tôi chữa lại: “Nghiêng nghiêng bên đồng cỏ, có hai người yêu nhau...”.
Chúng tôi vừa nhìn vào mắt nhau vừa hát. Quên béng cả U60. Hát liền mấy bài Quan họ, Cây trúc xinh, Người ơi người ở đừng về... Và cuối cùng, tất cả tiệc rượu đều đứng cả dậy, vừa vỗ tay vừa giữ nhịp cho chúng tôi hát: “Việt Nam - Hồ Chí Minh”.
* * *
Lại nói về Chiêu Kỳ Hiệp. Sau món pótực đặc sản truyền thống của bạn buổi trưa, buổi tối ông quyết từ chối lời mời chiêu đãi tại nhà hàng Chinggis của Hội Nhà văn Mông Cổ.
Suốt bao nhiêu năm làm lính pháo ở chiến trường Quảng Trị khốc liệt, giấc mơ duy nhất của ông là mỗi bữa được hai chiếc bánh chưng cỡ đại và hai quả chuối.
Thời kỳ làm Chánh văn phòng Hội Nhà văn, ông vẫn giữ nguyên ước mơ ấy. Bây giờ sang nước bạn, cái dạ dày quá cỡ của ông vẫn không sực nổi những hải vị, sơn hào...
- Các vị cứ đi. Tôi ở nhà. Đã chuẩn bị sẵn bữa tối đây rồi...
Nhìn cái dáng cao lớn phương phi như một lý trưởng thường ngày, nay gầy tọp đi, thiểu não, lại thấy ông chìa ra mấy bánh lương khô và nửa va ly mì tôm, chúng tôi bảo nhau tức tốc phải họp đoàn.
Phải đưa ra kiến nghị với bạn. Cho chúng tôi xơi rau muống với cơm tẻ là đủ. Toàn Đại Nhân tôi có mang theo sấu của Hà Nội. Sấu dầm rau muống là tuyệt nhất. Cùng lắm, đoàn chúng tôi cử ra ba người xơi pótực, còn lại cho hai suất rau...
Phải thuyết phục mãi, Chiêu Kỳ Hiệp mới đến nhà hàng Chinggis. May mà bạn là những người rất dễ tính. Ông Chủ tịch Hội và ông Tổng biên tập báo Văn học đến trước và gọi món xơi trước. Khách đến sau, gọi gì tùy thích. Quán này đông nghịt khách Âu, Mỹ, Nhật Bản, lại có ca nhạc dân tộc, nên phần nào đã giúp Chiêu Kỳ Hiệp lấy lại tinh thần.
Tưởng mọi việc sẽ vui vẻ qua đi, nào ngờ buổi trưa, khi đoàn dừng lại ở huyện Barunkhara, cách thủ đô gần 200 cây số, và đến thăm một trại chăn thả thì lại nảy sinh vấn đề.
Số là, ông Chủ tịch, Khanja Đavakhu, một nhà văn, cùng bà Phó Chủ tịch huyện năm ngoái đều đã sang thăm và học tập kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của Việt Nam.
Biết khách Việt Nam đến thăm, cả huyện đã náo nức chờ đón cả tuần nay. Làm việc với huyện xong, lãnh đạo huyện liền dẫn khách xuyên đồng cỏ đến thăm một gia đình chăn nuôi giỏi nhất huyện.
Vừa nhìn thấy những đàn cừu đông đúc như những cục bông vón trên thảm xanh, những đàn ngựa đứng dầm chân dưới nước sông trong vắt, một lều bạt trắng xoá đang toả khói nghi ngút giữa buổi trưa hanh vàng như mật ong, Phục Bạch đầu đã nằm lăn giữa thảm cỏ, thốt ra những lời cảm thán tới trời xanh: “Các ông ơi, chết cũng đáng rồi. Làm sao mà có những ngày thần tiên đến thế này”.
Bà chủ nhà và mấy cô con gái, váy áo súng sính, má đỏ hây hây mời khách vào trong lều. Đó là một nhà tròn, khung gỗ có thể tháo dỡ dễ dàng, đường kính khoảng mười mét, lát sàn gỗ, xung quanh bao kín bởi một loại mền đặc biệt được ép từ lông cừu, dày như một tấm chăn chiên. Sống trong lều vải, mùa đông ấm, mùa hè mát như trong phòng máy lạnh.
Một vò sữa ngựa lớn đã đặt sẵn giữa nhà. Những chiếc bát bằng bạc nhiều cỡ được chạm trổ tinh vi, những thìa đũa cũng bằng bạc được mang ra mời khách.
Theo Viên Công Công, giá một chiếc chén bạc nhỏ không dưới 100 đôla, còn chiếc bát bạc lớn có chạm trổ tinh vi kia thì không thể dưới 300 đôla. Nhìn bộ đồ bạc tiếp khách, người ta biết ngay gia chủ là thuộc dạng trung lưu hay thượng lưu.
Viên Công Công còn cho biết, cho đến bây giờ người Mông Cổ vẫn không có thói quen khóa cửa khi ra khỏi lều. Từ xưa đã thế rồi. Mỗi khi ra khỏi lều để đi chăn thả gia súc, bao giờ chủ nhà cũng chuẩn bị sẵn nồi, bát đũa, sữa ngựa, pho mát, bánh mỳ, thức ăn và nước để cạnh bếp.
Để đề phòng những người từ xa tới. Họ có thể sa cơ lỡ bước, có thể đói khát hoặc bị săn đuổi. Những khi cơ nhỡ ấy, khách chỉ việc châm lửa nhóm bếp, thế là đã có một bữa ăn cầm hơi để rồi lại đi tiếp.
- Một mỹ tục đầy tính nhân văn - Nhương Tác Nghiệp vừa xuýt xoa vừa mở máy ghi âm tác nghiệp - Thế còn những đống đá bên đường?
Ở trên đỉnh đồi có tượng đài Hồng quân Liên Xô, ở sân chùa lớn Canđăng giữa Thủ đô Ulanbato và trên đường đi thỉnh thoảng vẫn gặp một đống đá to, chính giữa dựng một cây cột gỗ có treo rất nhiều khăn bằng lụa đủ các màu xanh, trắng, vàng, đỏ...
- Đấy là cây Ôbôn và khăn Khađắc, biểu trưng cho văn hóa tâm linh Mông Cổ. Do khí hậu khắc nghiệt, mùa đông dài, tuyết phủ trắng xóa mấy tháng liền, người dân quý màu xanh của cây, của trời vô cùng. Mỗi cây mọc bên đường đều được nâng niu chăm sóc.
Ai đi qua cũng tự tay lấy một hòn đất bỏ vào gốc cho cây sống tươi tốt. Lâu ngày tục lệ này biến thành tục trồng cây ô bôn. Người ta tạo ra những đống đá ven đường, thường là ở những nơi nhiều người lui tới. Ai qua cũng nhặt một hòn đá bỏ vào.
Giữa đống đá, người ta trồng một cọc gỗ cho mọi người buộc những khăn Khađắc, một chiếc khăn tượng trưng cho hạnh phúc, sự sinh sôi nảy nở. Khăn Khađắc ngày nay được trao tặng nhau như một kỷ vật của tình bạn, tình hữu nghị...
Bà chủ múc sữa ngựa ủ chua trắng sánh ra các bát, tự tay dâng đến từng người. Mùi sữa ngựa chua chua, hoi hoi, khó hợp khẩu vị với dân ăn rau muống. Tôi bỗng nhớ tới hương vị sầu riêng Nam Bộ. Sữa ngựa ủ chua của Mông Cổ cũng gây cho khách Việt cảm giác như người Tây thưởng thức trái sầu riêng vậy.
Khi ông chủ, một người có gương mặt và dáng vẻ đặc trưng cho xứ sở, bước vào lều thì không khí náo nức hẳn. Chủ tịch huyện giới thiệu:
- Đây là một anh hùng của huyện Barun Khara. Đã từng đoạt hai huy chương vàng toàn Mông Cổ về kỷ lục cưỡi ngựa bắn cung. Về chăn nuôi, là một đại kiện tướng. Nếu như toàn Mông Cổ có tới 34 triệu gia súc, bình quân 17 con một người, thì riêng gia đình ông Traragan này đã có hơn nghìn cừu, bò và ngựa.
Huyện chúng tôi hàng năm không nhận ngân sách mà vẫn đóng góp tới 4 tỷ tugrug (đơn vị tiền Mông Cổ, 1.100 Tg tương đương 1 USD) cho ngân sách nhà nước. Vì huyện chúng tôi có mỏ vàng, một năm thu 7 tấn vàng, bằng nửa số vàng cả nước. Vì huyện chúng tôi có những anh hùng lao động như ông Traragan đây...
Rượu Chinggis được rót đầy ra các bát. Một mâm đại thịt dê được bưng lên. Riêng đĩa tim gan dê đã đầy ngộn một khay to. Những chiếc sườn dê nóng hôi hổi được chuyền từ tay chủ tới tay khách. Trăm phần trăm. Ngôn ngữ của rượu không cần phiên dịch.
Chợt nghe huỵch một tiếng ngoài lều. Tôi vội nhoài khỏi mâm tiệc. Thì ra Chiêu Kỳ hiệp có lẽ vì quá sợ hãi bởi những mâm thịt dê, đã lén ra khỏi lều từ lúc nào, cũng có thể vì phải nhịn ăn mấy hôm nay nên thiếu dưỡng chất, nên vừa định cưỡi lên con ngựa cho Nhương Tác Nghiệp chụp ảnh, đã bị chú ngựa hất ngã huỵch trên đồng cỏ.
Quả thật là:
“Cưỡi chiến mã ăn rau sao cưỡi nổi
Đáo xứ Mông càng lắm chuyện nhớ đời”.
Bút ký của Hoàng Minh Tường
Việt Báo (Theo_Tien_Phong)
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)




Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks