TÌM HIỂU VỀ TÌNH ĐỜI NGHĨA ĐẠO
Trong Giai Tiết Vu Lan
Thế nhân thường chủ quan, nhưng Phật giáo chủ trương có nhân quả luân hồi, nên mới có câu: „Nhân nhân nhan đắc, Phật Pháp nan văn“ nghĩa là ai hân hạnh lắm mới có được thân người với lục căn đầy đủ, phước trí vẹn toàn, lại tinh thông Phậtg Pháp, am tường kinh sách, triết lý của thánh hiền là một việc khó.
Cổ nhân cũng đề cao con người là thiêng liêng nhất trong sinh linh vạn loại (thiên sinh vạn vật, nhân chi tối linh). Thật vậy, trên hành tinh của chúng ta ngày một tiến phát thăng hoa, phải nhờ bàn tay khối óc con người xây dựng và phát triển. Nhờ văn minh khoa học, con người có thể lên rừng, xuống biển khảo sát, tìm cách xử dụng thiên nhiên, họ thám hiểm cả đại lục, không gian để vén màn bí mật của tạo hóa.
Có tài trí, lại thêm đức hạnh vẹn toàn, con người sẽ thành hàng thánh thiện, hay trở nên hiền quân quân tử, nên tôn giáo và các học thuyết dần dần xuất hiện, ngõ hầu hướng đạo thế nhân khéo sử dụng phần tâm linh và thăng hoa tư tưởng, để phong phú hóa nếp sống vật chất và tinh thần. Tự cổ chí kim, từ đông sang tây, biết bao gương sáng về „Xử Kỷ Tiếp Vật, Tình Nghĩa Hiếu Trung“, nhân mùa Vu Lan chúng tôi xin mạn phép nhắc lại và tô điểm thêm những điều hiếu kính của người muôn nơi, kể các các đấng quân vương, hàng dân giả, cho đến những trẻ em năm ba tuổi, đã biết nhõng nhẽo làm vui cho cha mẹ.
* Kinh điển Phật giáo thường đề cao hiếu đạo: „Tâm hiếu là tâm Phật; hạnh hiếu là hạnh Phật“, hay lời Phật dạy: „Người quên ơn dù đứng bên cạnh ta, vẫn xem như cách ta nghìn dặm“. Phải chăng Phật giáo thường đặt nặng „Bốn Trọng Ân“ mà cha mẹ là hàng chính yếu.
* Các bậc cao niên Nho giáo đã nêu cao ân đức sinh thành: „Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã, ai tai phụ mẫu, sinh ngã cù lao, dục báo thâm ân, hiệu thiên vọng cực!“. Với đại ý: Cha sinh ta, mẹ dưỡng ta. Than ôi cha mẹ khó nhọc vì ta, muốn tìm hiểu để đền đáp thâm ân, như trông vời xa thẳm!“.
* Các thi văn khắp nơi đã đề cao ân đức sinh thành:
- “Trong vũ trụ có lắm kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt hảo vẫn là quả tim của người mẹ“ (Bersot).
- “Nơi ẩn náu vững chắc nhất, là cung lòng người mẹ“ (Floriand).
- “Trong đời con có những ngày buồn thảm, nhưng buồn thảm nhất là ngày con mất mẹ“ (Amicis).
* Nhà thơ Giác Trí trong bài Tâm Hiếu đã tha thiết nêu cao ơn cha nghĩa mẹ:
„Vu Lan tuyệt đẹp vô vàn
Ơn cha nghĩa mẹ ngút ngàn non cao
Trên trời có vạn vì sao
Xin đem dâng hết đón chào Vu Lan“.
* Đôi vợ chồng nghèo, nhất trí xây lăng một để phụng thờ Tứ Thân Phụ Mẫu:
„Công cha ba năm ân ưu dưỡng dục
Nghĩa mẹ chín tháng nặng nhọc cưu mang. Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,
Biết lấy chi đền nghĩa khó khăn?
Thôi thì đôi ta hãy lên non gánh đá, xây lăng phụng thờ“.
* Nhà thơ Mặc Giang luôn hồi tưởng bóng hình cha muôn thuở:
„Cha tôi đó, ôi tình cha muôn thuở,
Nhờ bóng hình cha, tôi mới có hôm nay. Dù cha tôi không niềm nở từng ngày,
Nhưng vẫn trơ gan cùng phong sương tuế nguyệt.
Bến bóng bụi mờ – Đêm dài nuối tiếc
Bên dòng lịch sử – Băng giá lên ngôi
Bên dòng sông xưa – nay lở mai bồi
Còn đó mãi – bóng hình cha muôn thuở!“.
* Mục sư Anna Yarvis vừa là một nữ giáo viên, vận dụng khả năng hiện hữu để tổ chức đại lễ truy niệm ngày mẹ qua đời. Khởi đầu chỉ thu gọn ở Philadelphia, nơi Anna Yarvis coi việc quản thủ sổ sách cho một hãng bảo hiểm. Mãi đến năm 1914 được Tổng Thống Woodrow Wilson chấp nhận thành lễ Mother's Day khắp toàn quốc Hoa Kỳ vào ngày Chủ Nhật thứ nhì của tháng May.
* Do đề xuất của bà John B. Dodd ở Spokane, Washington, từ năm 1910. Sau đó ngày lễ „Các Bậc Thân Sinh“ đã được vị Thị Trưởng Spokane chấp nhận. Năm 1924 được Tổng Thống Calvin Coolidge đồng ý hỗ trợ. Mãi đến năm 1966 lễ Father's Day được tổ chức hàng năm vào ngày Chủ Nhật thứ ba của tháng June trên lãnh thổ Hoa Kỳ, do Đạo Luật số
92-278 ngày 24 tháng 4 năm 1972.
* Bên Trung Hoa có vua Thuấn, thuở hàn vi đã cày ruộng ở Lịch Sơn để có chút vật chất cung phụng cha mẹ, sau khi mẹ mất, ông vẫn hiếu kính với mẹ kế và thương yêu các em dị bào.
* Hán Văn Đế con thứ ba Thượng Hoàng Cao Tổ, mẹ là Bạc Hậu, ngọa bệnh 3 năm, nhà Vua luôn hầu hạ, tự tay thuốc thang cung phụng mẹ hiền. Mẫu Hậu nhắc nhở gì về việc triều chính, Hán Văn Đế ghi lòng tạc dạ, giải quyết phân minh.
*Chu Văn Vương hàng ngày đến viếng Phụ Vương 3 bận, Người thăm hỏi sức khỏe, luôn theo dõi những thức ăn và công việc thường nhật của Thượng Hoàng, để nhắc nhở quân hầu tận tình phục vụ.
*Việt Nam có vua Trần Anh Tông được Thái Thượng Hoàng Nhân Tông truyền ngôi năm Quý Tỵ (1293). Thượng Hoàng về cung Thiên Trường (làng Tức Mạc, tỉnh Nam Định, Bắc Việt) hưu dưỡng, vừa chuẩn bị xuất gia cầu đạo, vừa cố vấn cho Ấu Chúa Anh Tông. Nhân gặp tiết Trùng Dương, Thượng Hoàng bất thần hồi cung thăm viếng, Vua Anh Tông lỡ uống rượu ngà ngà không dám nghênh tiếp và hầu ngọ trai. Thượng Hoàng buồn truyền xa giá trở về Thiên Trường, lập tức vua Anh Tông sai Đoàn Nhữ Hài thảo sớ văn, cùng một phái đoàn về Thiên Trường quỳ lạy trước cổng để tạ tội và tâu với Phụ Hoàng xin chừa rượu trước sự chứng kiến của quan quân!
* Vua Tự Đức (1848-1883) cũng lắm lúc sắc thuốc dâng lên Mẫu Hậu, có lần vua đi săn ở vùng sơn cước Quảng Trị, gặp bão tố không quay về được để chuẩn bị hầu kỵ Thượng Hoàng Thiệu Trị. Tại triều, Đức Từ Dũ lo lắng bất an, khi ngự đoàn hồi cung, Dực Tông Anh Hoàng Đế thấy Mẫu Hậu không vui nên đích thân quỳ lạy tạ tội và dâng cây roi để Đức Từ Dũ xử lý như buổi thiếu thời! Thứ dân chúng ta đã mấy ai làm được điều như các vị quân vương đời Trần, đời Nguyễn ?
* Trong Nhị Thập Tứ Hiếu có chuyện Chu Thọ Xương người Thiên Trường đời Tống, do đích mẫu không con nên cha cưới kế thất là Lưu Thị, sinh ra ông rồi nuôi dưỡng học hành chu đáo. Khi Thọ Xương lên 7 tuổi rất thông minh đĩnh ngộ, đích mẫu ghen ghét đuổi lưu Thị biệt xứ, mãi đến 50 năm sau, Chu Thọ Xương xuất chinh mới chu đáo hỏi tìm, nên hay biết mẹ lưu lạc tới Đồng Châu đất Tần! Ông xin từ quan tìm gặp mẹ, hiếu tâm của ông được truyền tụng, nên nhà Vua ban chiếu triệu về kinh cho tiếp tục công vụ.
*Qua tiểu truyện „Chơn Hà Tìm Mẹ“ do Ni Cô Thích Nữ Viên Hạnh biên soạn, xuất bản năm 2002 tại Utah, y hệt chuyện „Thọ Xương Tầm Mẫu“. Bà Lựu người Huế mồ côi cha mẹ ở với anh ruột là „ông Xã Bị“, Xã Trưởng Vạn Trường Xuân, Quảng Trị, bà có nhan sắc mỹ miều, sống trong thời chiến tranh khốc liệt triền miên 1945-1975. Sợ em gái bị hiếp đáp bởi quân viễn chinh đương thời, hay gái đẹp thường bị ép làm binh vận, ông Xã Bị gả cô Lựu làm bé quan Tuần Vũ kiêm Án Sát Quảng Trị, sinh ra Chơn Hà, Tạ Thị Hải. Cũng cảnh ngộ như mẹ Chu Thọ Xương, bà Lựu phải phiêu bạc theo thời gian, qua nhiều biến cố tại địa đầu giới tuyến „Cầu Hiền Lương“ - Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, bà Lựu chạy vào sinh sống ở Gò Nổi, Quảng Nam, trong khi Chơn Hà sống kín cổng cao tường, sang giàu nhung lụa với cha, với „Me“ quyền quý nghiêm khắc, cô xuất thân tại trường Đồng Khánh, Huế, có chồng sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Trước khi lâm chung, ba của Chơn Hà trăn trối:
„Con vừa có „Me“ thương yêu nuôi dạy, lại còn có „Mẹ“ là thân nhân với ông Xã Bị Trường Xuân!“. Do đó mà trước khi theo chồng định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O, Chơn Hà may mắn tìm được mẫu thân sau 50 năm lưu lạc. Giờ vợ chồng Chơn Hà bảo lãnh bà Lưu sang du lịch tại Denver, Colorado, đoàn tụ vui vầy.
* Cũng trong chuyện 24 người con hiếu thảo có Hán Lục Tích 6 tuổi, người Giang Nam, đời Tam Quốc, theo cha yết kiến Viên Thuật tại Cửu Giang, thấy Lục Tích xinh đẹp ngoan hiền, Viên Thuật xoa đầu ngợi khen, cho vào bàn dự tiệc với cha và các khách quý. Sau bữa tiệc có trái cây ngon, quít đỏ. Lục Tích giấu vài trái trong tay áo mang về dâng mẹ. Lúc theo cha cáo từ Viên Thuật. Lục Tích sơ ý để quít rơi xuống đất, chủ nhà cười nói xuề xòa: „Tân khách cũng theo thói quen của trẻ, mang quà về nhà nhỉ?“ (Sao khách hiền mang thói trẻ thơ?). Lục Tích thưa rằng: „Mẹ tôi ở nhà rất thích quít, món quít Ngài đãi khách vừa đẹp lại vừa ngon, tôi nghĩ mang quà này về biếu mẹ tôi, xem như cả nhà chúng tôi đều thọ ân của tướng quân đó“. Viên Thuật hết ca ngợi bé thông minh, hiếu hạnh nên khen thưởng bội phần.
* Hiện giờ chúng tôi cũng chứng kiến cháu Bảo Minh mới hơn 3 tuổi rưỡi, được ba cháu bảo lấy nước lọc và cái bánh ngọt cho daddy dùng nào? Bảo Minh mở tủ lạnh xách chai nước lọc và ly kem mang ra, ba cháu bảo lạnh không ăn được, cháu chau mày nhăn mặt khóng nhõng nhẽo thấy thương, ba cháu bế con hôn bù lại rồi ăn kem. Bảo Minh vui cười thỏa mãn. Tình cha con thể hiện rõ ràng qua cháu Bảo Minh còn măng sữa.
* Sách có ghi người dâu họ Trần ở Trần Châu đời Hán rất trinh thục, hiền hiếu. Gặp thời loạn lạc chồng nàng phải đi lính thú, trước lúc chia tay chàng rơi lệ nhỏ to với vợ rằng: „Chúng ta vì thời cuộc phải xa nhau, sa trường mờ mịt sống chết khó lường. Tôi ra đi mẹ già nhờ em phụng dưỡng thì công ơn xin mãi mãi nhớ ghi“. Vợ khóc mà thưa rằng: „Dâu cũng như con, chàng ra đi thiếp xin giữ niềm chung thủy, thì thở mẹ chồng cũng là phận sự“. Chàng ra đi, mẹ chồng nàng dâu thân thương trìu mến, bỗng đâu tin dữ đưa về, mẹ con nhìn nhau buồn tủi! Mấy năm sau thấy cô dâu lẻ bóng, nhà vắng trẻ thơ, mẹ chồng khuyên nên tái giá, nàng rơi lệ xin giữ lời hứa khi chia tay, để bạn tình được ngậm cuời nơi chín suối!
* Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc cũng có ghi:
„Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về phòng cũ chiếu chăn.
Đoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh“
Và nhiệm vụ của người chinh phụ đối với gia đình:
„Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,
Miệng hài nhi nhớ bữa mớm cơm.
Ngọt bùi thiếp đỡ hiếu nam,
Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân“.
Ôi tình mẫu tử, nghĩa phu thê, đạo lý con người tuyệt đẹp, vượt qua tâm sinh lý và thông lệ thế gian, đáng thán phục và vinh danh.
Sau khi tìm hiểu ý nghĩa về Giai Tiết Vu Lan và đi sâu vào hiếu tâm con người qua không gian và thời gian, chúng tôi muốn nói lên bổn phận thiêng liêng của tiền nhân đối với đàn hậu bối xuất xứ nơi nhiều sách báo trong và ngoài nước, hay những chuyện viết về loài vật nuôi con rất lý thú, nhưng bài viết khá dài nên xin dừng lại, bởi lẽ thiên chức đấng sinh thành đã được đề cao phần nào trong bài viết, vả lại công đức của ông bà cha mẹ đối với con cháu thật xa vời như trời cao lồng lộng, thăm thẳm như đất sâu nghìn trùng do đó chúng tôi xin viết lại đôi câu đối thờ cha mẹ bằng Hán văn và phỏng dịch ra Việt ngữ, cống hiến chư độc giả, đồng hương tham khảo và chiêm nghiệm nhân mùa Bông Hồng Cài Áo:
Phụ Đức Sanh Thành, San Nhạc Trọng
Mẫu Ân Cúc Dục, Hải Hà Thâm.
Với đại ý:
Công Cha Gầy Dựng Tợ Non Cao,
Ơn Mẹ Dạy Nuôi Như Biển Cả.
Trần Trọng Khoái
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks