Bài 12- Tarboche và thành Thiên Đế (tiếp theo)
Men theo bờ bên phải của con sông Lha-Chu, con sông phát nguyên từ Kailash, chúng tôi đến Tarboche. Đây là một thung lũng lớn rất đẹp xưa kia đức Thích Ca Mâu Ni Phật đã có lần đến đây thuyết pháp cho hơn 500 vị bồ tát và la hán. Có một cây cầu nhỏ bắc ngang qua sông Lha-chu dẫn đến tu viện Chuku nằm chênh vênh trên sườn một dãy núi đá cao ngất trời. Cửa chánh điện của tu viện hướng về Kailash đỉnh phủ đầy tuyết trắng toát. Tu viện thờ đức Diệu Quán Sát Trí Bảo Sanh Như Lai và Quân Trà Lợi Kim Cang.
Ngay lối vào thung lũng có một bảo tháp lớn, trên chăng đầy dây cát tường, cũng có nhiều sừng và đầu trâu bò trang trí bằng vải nhiều màu sắc sặc sỡ, ngổn ngang những phiến đá trên khắc đầy kinh tiếng Phạn, tiếng Tạng, tiếng Ấn Độ, nhiều dấu hiệu và linh phù của nhiều tôn giáo lớn trên thế giới, nó như một minh chứng rằng Sambala là cội nguồn của nhiều truyền thống tâm linh thế giới.
Chung quanh bảo tháp, người ta vất ngổn ngang, mũ, giày dép, quần áo cũ và nhiều vật dụng cá nhân khác... nó như dấu hiệu của một sự đoạn tuyệt với quá khứ vô minh, hồi quang phản chiếu, quay ngược tầm nhìn để nhìn lại chính mình trên con đường luân hồi lang thang đã từ vô lượng kiếp!
Phía bên phải bảo tháp, có một dãy núi đá màu vàng sậm, xếp thành nhiều lớp chồng lên nhau rất đẹp, mặt trên rất bằng phẳng, trông như một quảng trường vĩ đại. Đó là nghĩa địa nơi chôn cất thi hài của 84 vị đại Lạt Ma học trò xuất sắc của Tổ Sư Liên Hoa Sanh.
Tarboche còn là nơi Tổ Sư A Tỳ Sa đã đến cư ngụ và dạy đạo tại đây, trước khi được Tạng vương mời về kinh thành Lhasa để chấn hưng Phật đạo. Ngài là vị Tổ quan trọng thứ nhì sau Liên Hoa Sanh ở Tây Tạng. Bởi Liên Hoa sanh là người đã chiến thắng đạo Bon và đưa Phật giáo thành quốc giáo ở đất nước này. Thế nhưng theo thời gian, Phật đạo đã bị suy đồi. Đạo Bon lại có cơ hội phát triển khiến người tu lạc vào thần thông pháp thuật quên mất việc luyện tâm. Và Tổ Sư A Tỳ Sa là người được vua Guge, mời ra để chấn chỉnh và phục hưng Phật đạo. Từ đó Phật giáo lại trở thành quốc giáo và phát triển rực rỡ cho đến ngày nay....
Giữa thung lũng và ngay chỗ bước qua cầu để leo lên tu viện Chuku, có một cái quán của người Tạng phục vụ khách hành hương.
Quán người Tạng ở đây cái nào cũng là lều bằng vải bạt hay da. Ở giữa có lò đốt phân trâu yak để sưởi ấm và nấu trà. Chung quanh kê ghế cây lót đệm để khách có thể ngồi hoặc nằm nghỉ mệt. Chủ quán là 2 cô gái Tạng khá xinh, mặc y phục truyền thống, mang túi thêu. Lúc nào cũng cười rất tươi và sẵn sàng chụp hình chung với khách nếu có yêu cầu. Quán bán chủ yếu là mì gói và trà pha sữa trâu yak. Còn có cả Cocacola và bia Mỹ.
Phía trong góc quán một cô gái người Tạng đang trét phấn trắng lên mặt mình và cười như nắc nẻ với một người đàn ông Tạng da đen nhẻm, đang bôi keo lên mái tóc bờm xờm của mình.
Tôi giật mình, văn minh của loài người đã đến được cả nơi thâm sơn cùng cốc này sao? Và mọi thứ phải chăng đang từ từ biến đổi?!
Những người bạn thổ dân vứt balô trước cửa lều, bước vào trong uống trà sữa trâu, ăn mì, và trêu chọc cô chủ quán. Còn chúng tôi không nghỉ được lâu vì phải leo lên sườn núi khá cao để vào tu viện Chuku đảnh lễ đức Bảo Sanh Như Lai và Quân Trà Lợi kim Cang....
Sông Lha-chu ở thượng nguồn chỉ như con suối lớn, nước trào qua các viên đá bám đầy rêu tung bọt trắng xóa. Vừa bước qua chiếc cầu bắc qua sông. Già Năm vừa ôn tồn giải thích cho chư huynh:
- Này chư huynh, nếu chỉ đi một vòng các tu viện để lễ Phật rồi về, hoặc nếu xem các tu viện này như nhau, đến cái nào trước cũng được, là sai lầm về tâm linh. Thật sự các tu viện và các điểm tâm linh trên vòng Kora của Sambala này, chỉ được tuần tự đi theo chiều kim đồng hồ là chiều thuận với chiều của năng lượng giác ngộ. Nếu trên đường hành hương chư huynh thấy có người đi ngược lại, thì đó là người của đạo Bon. Vì đó là qui định của Tổ sư Milarepa.
Trên đường hành hương
Đến một nơi, phải thiền định trực ngộ yếu chỉ thiền của nơi đó với sự giúp đỡ của minh sư tại thế và ân điển thiêng liêng của Như Lai cùng chư Tổ nơi ấy. Đó là về “Lý”. Còn về “Sự”, thì phải thông công với vị Kim Cang trấn giữ nơi ấy, nhận ấn lệnh và linh phù qua vô vi, mới có thể đi đến điểm tiếp theo được. Cứ như vậy, nó như là một cuộc tu học và kiểm tra của tâm linh để thiêng liêng ấn chứng cho chư huynh, chứ không phải đi chơi ngắm cảnh rồi về.
Vòng Kora này có 3 phần:
Phần “Đời” là chúng ta, Phần “Đạo” hay vô vi là Ngũ Trí Như lai và Ngũ Vị Kim Cang, và phần “Trung gian giữa Đạo và Đời” là đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni. Gọi là trung gian, vì ngài có thể xác như mọi chúng sanh nhưng bên trong kết hợp với trí tuệ và năng lượng giác ngộ của vô vi. Nên ngài là cầu nối cho chúng sanh với Phật tánh. Bởi vậy, giáo lý của ngài nhằm qui định trạng thái tâm thức và phạm trù hoạt động của cơ thể, để ân điển thiêng liêng có thể biểu thị, thăng hoa và phát triển về hướng tối thượng. Bởi vậy nếu không tuân thủ lời dạy của Ngài, ân điển có thể phát triển sai đi. Còn nếu chỉ bắt chước các tướng của Ngài mà không thể nhập “Tánh” thì chỉ có cái vỏ mà không có cái hồn.
Bởi vậy trước khi chư huynh đảnh lễ đức Bảo Sanh Như Lai và Quân Trà Lợi Kim Cang là các đức Phật vô vi. Phải đảnh lễ đức phật hữu tướng là ngài Thích Ca Mâu Ni, ngồi thiền, kinh hành về các giáo lý: Tứ diệu đế, bát chánh đạo và thập nhị nhân duyên, cùng các giới luật cơ bản. Mô Phật, Chư huynh phải biết đây là khuôn mẫu tâm thức bắt buộc và phạm trù biểu thị bắt buộc của cơ thể trong suốt cuộc hành hương tu học này, nếu chư huynh muốn đợt tu học này có kết quả.
Nghe lời dạy của Già Năm, khi qua cầu xong. Chúng tôi quì trên thảo nguyên, nhận ân điển thiêng liêng, đảnh lễ đức Thích Ca Mâu Ni Phật, 500 vị bồ tát và la hán cùng 84 vị đại lạt ma.
Xong, chúng tôi ngồi thiền ngay trên cỏ, quán tưởng về các giáo lý: Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo và Thập Nhị Nhân Duyên. Phát nguyện trong suốt cuộc hành hương tu học này sẽ luôn giữ tâm thức và các hoạt động của cơ thể theo các phạm trù mà Như Lai đã qui định.
Gió thảo nguyên lồng lộng, có tiếng quạ kêu quàng quạc trên các khe đá hoang vu, dòng Lha-Chu chảy ào ào như mang theo nó biết bao ý nghĩ đời thường, bao tình cảm nghiệp duyên, bao cảnh đời lầm than, đau khổ... Tâm hồn chúng tôi như được gió thảo nguyên thổi tung đi mọi cát bụi tham dục, mọi sương mờ cảm thọ và mọi hí luận của nhị nguyên.
Ôi, giây phút này đây như dòng Yalung buông mình chảy về bình nguyên rồi ra biển lớn. Chúng tôi cũng buông hết, bỏ hết, xả hết, xuôi dòng ân điển thiêng liêng, từ núi cao ngã mạn, chảy về bình nguyên của chánh định để rồi rớt vào bể Toàn Diện của Phật Tánh mênh mông, trinh nguyên và hoang sơ.
Hắn ngồi phía sau nhất, tại một nơi khuất nhất, nấp vào sau một hòn đá khổng lồ bên trên có khắc thần chú Um mani Padme Hum. Người hắn yên lặng trong cơn thiền định, thỉnh thoảng cơ thể hắn lại rung rất nhẹ vì ân điển thiêng liêng. Mơ hồ hắn như thấy Như Lai đang ngồi đấy thuyết pháp cho hơn 500 vị bồ tát và la hán. Áo vàng bay phất phới, phạm âm như tiếng suối reo, hương trầm ngan ngát, tự nhiên hắn chứng về nhân duyên giả hợp.
Ôi! Trên thảo nguyên xanh màu cỏ. hắn như thấy Nhóc Con của mình đang nhoẻn miệng cười. Răng khểnh, má lúm đồng tiền, tóc mây bay theo gió. Dáng nàng mờ ảo như có như không. Nàng đáng yêu, thuần hậu và tinh khiết biết chừng nào!
Bỗng cơ thể nàng tự rời ra từng mảnh. Thịt da tan đi mất, chỉ còn lại xương trắng, dòi bọ lúc nhúc, hôi thối nồng nặc. Rồi xương cũng tan đi thành cát bụi theo gió thảo nguyên bay đi muôn nơi chẳng còn gì!
Lát sau vô vàn những hạt bụi của thảo nguyên mênh mông lồng lộng gió, tự nhiên quần tụ lại, đọng lại thành Nhóc Con của hắn, lại nhìn hắn và lại nhoẻn miệng cười tình!...
Ôi! Cứ thế, tụ rồi tan... tan rồi tụ... mơ hồ chẳng biết thực hay hư!
Hắn dụi mắt, nhưng rồi vẫn thấy thế. Hắn chánh định nhưng rồi vẫn thấy thế.
Hắn thở dài... hắn khóc trong lặng yên! Nhưng rồi cơ thể hắn bỗng hết trạo cử. Người hắn thiền định lặng yên như đá núi. Trên mặt hắn phảng phất nụ cười.
Bỗng hắn chấp tay, nương ân điển thiêng liêng đảnh lễ đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cùng chư vị bồ tát và la hán.
Khi hắn xả thiền mở choàng mắt ra. Chung quanh vắng lặng như tờ... Chư huynh đều đã lên núi... Chỉ còn Già Năm đang đứng đấy giám thiền cho hắn.
Cụ Già nhìn hắn mỉm cười: - Ta chúc mừng cho con. Nhờ anh linh của Như Lai và chư Thiên con đã chứng về lý và sự của pháp ”Nhân duyên giả hợp” không có tự tánh của Phật đạo. Mô Phật, ta nghĩ nhờ vậy kể từ nay con sẽ hết bị nghiệp duyên theo cản phá đường tu.
Hắn sụp xuống đảnh lễ cụ già. Khi hắn ngẩng lên thì cụ già đã đi rất xa. Trên lưng chừng núi, hắn thấy thấp thoáng bóng của chư huynh đang leo lên bậc thềm bằng đá của tu viện Chuku.
Lòng đầy phấn khích, quên mất lời dặn của Già Năm. Hắn hét lên một tiếng lớn vận công dùng hầu quyền chạy lên núi như một con khỉ lớn... Lũ quạ trên vách đá kinh ngạc quay đầu nhìn theo hắn, lũ chim ri trên đồng cỏ cũng thôi đùa bỡn, giương mắt tò mò nhìn theo hắn, mấy người Tạng hành hương cũng ngạc nhiên đưa tay chỉ chỏ về phía hắn.
Haha... ha!... Chỉ có dòng sông Lha-Chu chẳng ngạc nhiên vẫn ầm ào sùi bọt trắng, xuôi về phía chân trời xa. Và hình như gió núi cũng chẳng ngạc nhiên vẫn phần phật trên dây cát tường, ngả nghiêng đùa bỡn trên đầu ngọn cỏ đến tận tít cõi vô cùng.
Ồ! Chắc Như Lai, chư Thiên, Già Năm cùng chư huynh cũng chẳng ngạc nhiên đâu... Hắn biết chắc như vậy nên vừa chạy vừa mỉm cười.
Chẳng mong đến sớm... cũng chẳng sợ muộn! Làm gì có đến và đi! He he... Hắn biết, hắn tưởng vậy, chứ tánh vẫn như như chẳng bao giờ dời đổi.
(vemiendatphat.com)
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)




Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks