Nhật Ký Hành Trình. Ghi chép theo bước chân của đoàn hành hương Về Miền Đất Phật, từ ngày 16/04/2007.
Nhật Ký Hành Trình. Ghi chép theo bước chân của đoàn hành hương Về Miền Đất Phật, từ ngày 16/04/2007.
Bài 1: Con đường
Đang kháo nhau về chuyện già Năm sắp đi Tây Tạng lễ Phật thì cụ già đến. . . .
- Ai Tây Du thỉnh kinh thì đi nào?
Mọi người nhao nhao lên. . . Người xin đi. . . người than đang còn bận công tác. . v.v. . . .
- Giống như thầy trò Đường tăng đi thỉnh kinh trong Tây Du ký của Ngô Thừa Ân cụ nhỉ?
- Hề hề!. . . . Thế thì ai là Tam Tạng, còn Tề Thiên, Bát Giới và Sa Tăng là những ai?. . . . .
Mọi người lại nhao nhao lên:
- Tam Tạng nhất định phải là cụ rồi. . . .
Cụ già cười hóm hỉnh:
- Hề hề. . .Ta chỉ mong đóng tròn vai Bát Giới đã là khó rồi. . . .
- Cụ cứ nói thế. . . . Đợt này chúng con mong cụ thỉnh được tâm kinh về để chúng con được nhờ. . . .
- Mô Phật. . . . Xin các ông chớ nói chơi. . . .Ta và chư huynh cùng đi đợt này thật tình cũng phát đại nguyện như vậy. Nhưng chúng ta lại chẳng có cái bát vàng nào cả để đổi kinh có chữ. Nên nếu Như Lai cùng chư Tổ có hộ trì thì chắc cũng chỉ thỉnh được “kinh vô tự” mà thôi!. . . . .
Mấy ngày trước khi đoàn lên đường, liên tiếp có nhiều chuyện xảy ra. . . chắc ơn trên thử tâm già Năm và chư huynh. . .
Có mấy người học trò cũ, trước vốn là bệnh nhân, được cụ già cứu giúp, nay đã lành bệnh và đã tự xưng làm thầy.
Vì muốn tự đề cao mình, họ đã viết báo khiêu khích và nói xấu cụ tệ hại . .
Thế nhưng mải vui Phật sự cụ già lại chẳng hay biết gì. . . . .
Khi nghe tôi thuật lại chuyện này, già Năm cười nhân hậu:
- Hề hề. . . Vui thật!
. . . . .
Trước sau chỉ có thế!. . .
Cụ và chư huynh hình như chẳng quan tâm gì đến việc ấy!. . . . Lại tiếp tục viết văn, làm thơ, vẽ tranh, tạc tượng, dựng các tác phẩm sắp đặt.v .v . . . .Làm Phật sự. . . . sáng tác. . . . tu học. . . . . và cười!. . . .
Khu nhà Tổ Hải Dương như thay da đổi thịt từng ngày. . . . .
Trước hôm lên đường một ngày, cụ già và chư huynh về lại Xuân Mai. . . . .
Ngày hôm ấy có quá nhiều khách đến thăm, quá ồn ào huyên náo. . . .
Chúng tôi ai nấy đều thấy không thoải mái, bởi đã quen sống trong môi trường trang nghiêm và thanh tịnh. . . .
Còn cụ già thì chẳng thế. . . . cụ ngồi bệt trên bãi cỏ trước nhà Tổ.
Người hiếu kỳ bâu kín xung quanh. . . . cụ già vừa cười đùa vui vẻ với mọi người vừa thoăn thoắt ký họa bằng bút chì hay vẽ bằng than trên giấy dó. Rất nhiều người được cụ già tốt bụng tặng cho chân dung ký họa của chính mình. . . .
Gần tối cụ vẽ được một cái tranh bằng than rất đẹp tặng cho phòng khách nhà Tổ. . . Mọi người trân trọng treo lên vách. . . .
Bức tranh xuất thần, nét vẽ ngang tàng đầy ngẫu hứng. . . .
Tác phẩm có tên là "An trú", vẽ cảnh mưa gió cuồng loạn trên hồ sen. . . . Một con chim nhỏ xíu, rét mướt, núp dưới một lá sen lớn. . . . nhờ vậy mà nó không bị ướt. . . .
- Thưa cụ, có phải đây là lời cụ dạy, trước khi lên đường Tây Du thỉnh kinh. . . .
- Mô Phật. . . . Đây chỉ là kinh nghiệm của già. . . . Ta thấy mình cũng giống như con chim nhỏ này. . . . nhờ an trú trong giáo pháp của Như Lai mà thân tâm vẫn thường an lạc trong dâu bể cuộc đời. . . .Già nghĩ chẳng những chư huynh ở nhà mà ngay cả ta và chư huynh trên đường về đất Phật tu học cũng sẽ làm như vậy.
Gà gáy sáng, già Năm và chư huynh lễ Phật xong đang chuẩn bị từ giã mọi người để lên đường thì một vị huynh chấp tay thỉnh già Năm vào nhà khách để xem tác phẩm mới của mình vừa làm khi hôm. . . . .
Tôi theo chân mọi người và cụ già. . . .
Vừa bước vào phòng tôi giật nẩy người khi thấy bức tranh An Trú đã bị đục một lỗ hổng thật to, tròn vành vạnh như miệng cái lon sữa bò. . . . .
Sau một hồi choáng váng. . . . chúng tôi ai nấy đều lặng im nhưng rất bực!. . . .
Bởi muốn thể hiện cái biết của mình mà vị huynh ấy lại dám làm hư bức tranh rất đẹp như thế. . . . Mà nó lại là tranh của già Năm tặng cho nhà Tổ mới chết chứ!. . . .
Chẳng những tôi mà chắc là mọi người ai cũng nghĩ đó là hành động thiếu tỉnh giác và bất kính. . . .
Mọi người không nói gì nhưng ai cũng im lặng nhìn về phía già Năm và chờ đợi sự quở phạt của người. . . .
Còn già Năm thì lại cười hề hề:
- Rỗng và không nhưng tròn trịa nên đầy tâm trí. Nó là cái dụng công chứ không phải là vô tác. . . . .
Ông già vừa bỏ đi vừa gặm một trái táo đỏ tươi ra chiều thích thú. Vị huynh nọ vừa mỉm cười vừa chấp tay từ tốn đảnh lễ. . . . Còn chúng tôi ngơ ngác chẳng hiểu mô tê gì cả!. . . .
Xe ra khỏi nhà Tổ lúc 6 giờ. . . . phải vượt qua 180 km để đến cửa khẩu Hữu Nghị Quan ở Lạng Sơn.. . . .
Khoảng 5 giờ chiều già Năm và mọi người đặt bước chân đầu tiên lên đất bạn. . . .
Núi rừng mờ sương. . . . vách đá dựng đứng. . . . Đứng trên ban công Hữu Nghị Quan nhìn về tổ quốc, mọi người đều yên lặng. . . . Cái im lặng thiêng liêng không nói nên lời. . . .
Chợt cụ già hỏi một vị huynh, người lần đầu tiên ra khỏi biên giới quốc gia:
- Ra khỏi biên giới cảm giác ông thế nào?
- Thưa cụ. . . . Con đang nhận biết mình vừa ra khỏi biên giới. . . .
Cụ già cười ha hả rồi bỏ đi. . . .
Tôi hiếu kỳ liền hỏi vị huynh ấy:
- Sao ông trả lời như vậy. . . .Tôi thấy nó có vẻ kỳ kỳ làm sao ấy?
- Cụ nói “Ra khỏi biên giới” ngụ ý nói “Ra khỏi tâm trí” đó là thiền ngữ. Do vậy mình trả lời đang nhận biết việc ấy. . . . . Nghĩa là cái biết tự nhiên là cái thuộc về bản thể dù ra khỏi tâm trí. . . . Còn nếu phan duyên theo các cảm thọ, thì có nghĩa là còn trong tâm trí và đang bị lôi bởi việc ấy!. . . .
Cụ già nói với một vị huynh đang quay camera cảnh mọi người đang đi vào đất bạn:
- Này!. . . . Sao ông không hướng ống kính về phía nước mình quay một đoạn để về ghép vào phim?
- Mô Phật!. . . . Bồ Tát là người thiện thệ độ sanh.
Cụ già lại cười lớn. . . . rồi bỏ đi. . . .
Lấy làm lạ, tôi hỏi vị huynh ấy:
- Này !. . . Sao ông lại trả lời như vậy. . . . Tôi thấy nó chẳng ăn nhập gì với câu hỏi của cụ?
- Cụ bảo “hướng ống kính về nước mình sau khi đã ra khỏi biên giới” ngụ ý bảo người hành Bồ Tát Đạo khác với chư vị A La Hán, phải theo gương chư Bồ Tát nguyện thiện thệ độ sanh chứ không an vị nơi niết bàn. . . . Đây là thiền ngữ. . . . Hề hề!. . . Cụ muốn kiểm tra độ tỉnh giác của tụi mình trước cuộc hành trình về miền đất Phật!. . . .
Trời mưa lâm râm. . . . Núi đá vôi sừng sững ẩn hiện. . . .
Đường cao tốc đưa chúng tôi về Bằng Tường. . . . Một thành phố nhỏ mà đẹp. . . .
Món ăn ngon nhưng quá nhiều dầu mỡ. . . . một số vị huynh ăn chay. . . . một số vị huynh ăn mặn. . . . còn tôi thì thuận đâu xâu đấy. . . .
Nói chung thì mọi thứ đều hoàn hảo. . . . trừ việc toilette thì không được sạch mấy!. . .
Chúng tôi gặp Tiêu ở đây. Anh là hướng dẫn viên cho suốt cuộc hành trình 21 ngày với trên 20.000km trên đất Trung Quốc và Tây Tạng. . . .
Tiêu là người đẹp trai, vui tính, ăn nói dễ thương, kiến thức tổng quát rộng, luôn chu đáo với mọi người. . . . chỉ phải tội hơi nói nhiều một tí!. . .
Từ Bằng Tường đi Quảng Tây chúng tôi dùng xe hơi có giường nằm, một kiểu xe khách rất hiện đại giống như xe Hoàng Long ở Việt Nam. . . .
Tại Quảng Châu rời xe hơi, chúng tôi đáp tàu hỏa du lịch để vượt hàng nghìn cây số, qua rất nhiều tỉnh thành của Trung Quốc trước khi vượt cao nguyên Thanh Hải tiến vào Tây Tạng với độ cao trên 4.000m so với mặt nước biển. . . .
Cả đoàn tranh thủ ăn sáng tại cửa hàng ăn tự chọn tại ga. . . .
Tôi ăn cháo thịt, trứng muối và bánh bao. . . Những người khác tự chọn tùy ý. . . . Già Năm ăn uống và sinh hoạt chẳng khác gì các thành viên khác trong đoàn. . . . Cụ già luôn vui vẻ và hài hước khiến cả đoàn vui theo. . . . .
Nói chung cho đến bây giờ, mọi sự rất hiện đại, thuận lợi và lịch sự. . . .
Chúng tôi gặp Ngọc Anh tại đây
Cô là thông dịch viên tiếng Trung cho cả đoàn. . . . Ngọc Anh xinh gái, lịch thiệp, chu đáo, ân cần, . . . chỉ tội tiếng Anh rất kém!. . . . Nhưng không sao. . . . trong đoàn rất nhiều vị huynh giỏi tiếng Anh!. . . .
Tàu hỏa du lịch Tây Tạng rất hiện đại, được thiết kế chẳng khác gì khoang máy bay: có điều hòa nhiệt độ và áp suất không khí, có cả bình oxy dành cho người nào không chịu được không khí loãng khi đi vào cao nguyên Tây Tạng. . . .
Món ăn trên tàu khá ngon tuy có hơi nhiều dầu mỡ, tôi thích nhất là món ớt xào, nó rất thơm ngon và thú vị. . . . .
Mọi người được khuyên là nên ăn nhiều rau và cá, bởi vì đến Tây Tạng thì chỉ có thịt. . . phổ biến là thịt trâu yak, thịt bò, thịt dê. . . . chẳng có thịt lợn, còn rau thì rất hiếm. . . . Do môi trường sống trên cao chưa quen nên du khách thường sẽ ăn ít, thêm vào đấy mùi vị thức ăn của người Tạng rất hôi nếu như không quen. . . . Chúng tôi được khuyên là nên uống món trà pha sữa trâu yak của người Tạng, tuy nó khó uống nhưng rất lợi cho sức khỏe. . . .
Nhân viên trên tàu rất lịch sự, cảnh trí hai bên đường đi vô cùng kỳ thú. . . .
Chúng tôi tranh thủ tắm trên tàu, bởi phải đi suốt 3 ngay 3 đêm mới đến được Lasha thủ đô của Tây Tạng. . . .
Tàu hỏa qua nhiều thành phố hiện đại. Nhà cửa cao vút nhiều tầng. Cầu vượt, đường cao tốc đan xen . . . . xe hơi, xe đạp và người đi bộ. . . . rất hiếm khi thấy xe gắn máy chạy trên phố.
- Này Tiêu chỗ kia làm gì mà đông vui thế?
- À, đó là quảng trường nơi người ta nhảy múa với nhau để kết bạn. . . Có rất nhiều cặp đã nên vợ nên chồng nhờ như vậy. . . .
Nói chung thành phố ở Trung Quốc đẹp, hiện đại, giao thông tốt, qui hoạch thiết kế hợp lý, thuận lợi, đời sống có vẻ sung túc, phồn thịnh. . . . . .
Thế nhưng vùng nông thôn khi tàu đi qua thì không được vậy. . . .
Sắp tới cao nguyên Thanh Hải rồi. . . . .
Nhà cửa thấp bé, mái lợp ngói xam xám. . . . thường chỉ một mái
- Này Tiêu sao nhà ở đây thường chỉ một mái như vậy?
- À. . . để tuyết khỏi bám trên mái đấy mà. . . .
- Còn cây gì nở đầy hoa tim tím, và chẳng có một cái lá nào thế?
- Ầ. . . Cây ngô đồng đấy. . . . Cây này chỉ có ở những vùng có tuyết. . . . Khi mùa xuân về, tuyết tan, cây mới bắt đầu ra lộc non và trổ hoa như vậy. . . . Cây này ra hoa rất đẹp và chỉ dùng để lấy gỗ. . . .
Dọc đường chúng tôi qua, vách núi dựng đứng, . . . . .chẳng thấy một cái cây nào mọc trên núi. . . . Cảnh quang khô cằn và buồn bã. . . .
Dưới chân những núi đất cao ngất. . . . có rất nhiều cửa hang. . . . Có cái còn có cửa đóng lại. . . . có cái không có. . . .
Tôi hỏi thì Tiêu bảo:
- À. . . Trước kia người ta hay ngụ trong những cái hang tự đào này để tránh bão cát và tuyết. . . . Bây giờ đời sống khá hơn. . . . người ta ngụ trong nhà, còn những cái hang này để chôn những cái quách bên trong có xương người. . . .
Nhà cửa ở đây thường làm bằng đất hay xây bằng đá núi. . . chen lẫn trong đám cây ngô đồng hay bạch dương và thường quây quần bên nhau thành những thái ấp, chung quanh có tường đất bảo vệ. . . .
Dê trèo trên vách đá dựng đứng. . . . Còn nông dân thì cặm cụi làm việc trên những cánh đồng hoa cải nở một màu vàng rực. . . .
- À. . . hạt cải dùng để ép dầu. . . . Còn những mảng xanh kia là hẹ và lúa mạch. . . .
Theo tay Tiêu chỉ, tôi thấy khắp nơi đều có hoa cải nở vàng rực trên nền đất đá khô cằn. . . Trên những vách núi đất cheo leo. . . . cũng thấy những mảng màu vàng rực rỡ của hoa cải. . . . tạo nên một cảnh quang hùng vĩ kỳ thú và lạ mắt. . .
Rất hiếm khi thấy sông hay suối. . . . . chả thấy một cái giếng nào. . . . màu xanh của cây cỏ cũng rất ít so với hoang mạc, đụn cát, núi đất khô cằn và nền trời màu chì xam xám. . . . Quang cảnh gợi chúng tôi nhớ về cây đa, giếng nước, sân đình. . . nhớ những con sông trườn mình giữa hai hàng tre xanh ngăn ngắt ở quê nhà . . . .
Hôm nay thì tàu chỉ phục vụ thức ăn làm sẵn và mì gói. . . . Bởi ở độ cao trên 4.000m này thì nấu cơm không chín được vì không khí loãng. . . .
Chúng tôi được Ngọc Anh dặn dò là khi có nhân viên y tế đến hỏi về sức khỏe thì ai nấy đều phải nói là rất tốt chẳng có việc chi, chứ nếu họ phát hiện có dấu hiệu cơ thể không chịu đựng được với môi trường này thì sẽ bị mời xuống tàu và không được đi tiếp nữa. . . .
- Nầy. . . . Tuyết Sơn đấy. . . . .
Theo tay Tiêu chỉ chúng tôi thấy Himalaya trắng toát ẩn hiện ở xa phía sau các rặng núi mù đen. . . .
Tôi cũng như một số vị huynh trong đoàn lần đầu tiên được tận mắt thấy Tuyết Sơn, dãy núi nổi tiếng thế giới với đầy huyền thoại về tâm linh. . . .
Bắt đầu từ đây, trên đỉnh các ngọn núi, của cao nguyên Thanh Tạng tuyết còn phủ trắng xóa và đang chảy xuống các thung lũng theo các khe hẹp trắng toát. . . .
Cảnh quan làm tôi liên tưởng tới một câu thư pháp già Năm đã từng viết:
“Xuân thủy mãn tứ trạch” Nghĩa là “Nước xuân tràn bốn phương”. . . . Ý nói về mùa xuân khí hậu ấm áp, tuyết tan chảy đầy hồ ao nên tràn ra bốn phương. . . . Đó là cảnh của thảo nguyên lúc này. . . . Tuyết đang tan. . . . chảy tràn . . . . đọng lại thành từng vũng nhỏ. . . . Và trên nền cỏ cháy xám của mùa đông, mầm xanh đang trỗi dậy. . . . Tiêu bảo cho đến đầu tháng 5 thì thảo nguyên này sẽ mặc áo xanh. . . .
Hề hề!. . . . Đúng là khi tuyết tan cỏ mùa xuân tự mọc. . . .
Bò, dê. . . gặm cỏ khô trên thảo nguyên. . . . diều hâu và quạ đen bay đầy trên nền trời màu chì xam xám. . . .
Tiêu bảo: - Các con chim này ăn xác người đấy. . . .
Thì ra ở cao nguyên Thanh Hải và Tây Tạng còn tồn tại tục “thiên táng” để cho chim trời ăn xác người chết. . . Sau đấy còn xương mới hỏa thiêu. . . .
Bây giờ thì bên ngoài trời rất lạnh. . . . nhiệt độ là 0 độ C. . . . Nhưng trên tàu rất ấm vì có lò sưởi. . . .
Con tàu cao tốc chạy chậm hẳn lại. . . . chắc là đang leo dốc. Từ 106 km/h lúc ở Quảng Châu, Hồ Nam. . . . bây giờ tốc độ chỉ còn 64km/h khi qua Tây Ninh, Thanh Hải . . . . . để vào Tây Tạng. . . .
Trên thảo nguyên bao la, dưới bầu trời lồng lộng. . . . . tầm mắt xa ngút ngàn không giới hạn. . . tâm hồn con người bỗng như được rộng mở. . . . chân thật. . . . hồn nhiên. . . . và trong trẻo như tuyết băng. . . .. .
Ngọc Anh mở cho chúng tôi nghe một bài hát của người Tạng. . . .
Đây là một bài hát rất nổi tiếng, do một gia đình gồm bố mẹ và cô con gái mới 12 tuổi biểu diển. . . . Giọng hát trong trẻo ngây thơ của cô bé giữa cái lồng lộng của đất trời làm chúng tôi xúc động và thấy yêu mến miền đất Phật, nơi mái nhà của thế giới, nơi mà thế giới tâm linh và cuộc sống như quyện chặt hợp nhất làm một cho dù đã xảy ra biết bao biến động của cuộc đời! . . .
Mời chư huynh kích chuột vào cái nút dưới đây để nghe bài hát này. . . . để đồng cảm và để cùng chúng tôi yên lặng ngắm cao nguyên Thanh Hải hùng vĩ bao la bát ngát. . . . nơi đất trời con người và thần linh đang hợp nhất!. . . .
Con tàu đã đến Lasha thủ đô Tây Tạng lúc 19 giờ 30 giờ Trung Quốc (giờ Trung Quốc nhanh hơn 1 tiếng so với giờ Việt Nam). . . . .
Cảm tạ ơn trên đã gia hộ độ trì, Già Năm và chúng tôi đã đặt những bước chân đầu tiên trên miền đất Phật đầy huyền thoại. . . .
(vemiendatphat.com)
Bài 2: Con Thỏ Đen
Tây Tạng đang xuân nên tiết trời ấm áp. Hai bên đường phố, cây thanh liu ra lộc non xanh rờn, . . . . hoa lê trắng toát. . . . hoa mai màu hồng nhạt. . . . và những vạt rừng thưa bạch dương trụi lá đâm những cành xương xẩu bạc thếch lên nền trời trong vắt. . . .
Lhasa nằm giữa những rặng núi đá hùng vĩ với ngọn phủ đầy tuyết lấp lánh dưới cái nắng rát da. . . . . Không khí loãng. . . trời khô hanh rất khó chịu. . . . nắng làm rát da mặt, nhưng vào chỗ mát thì trời lại rất lạnh. . . . Thế cho nên trời nắng mà ai cũng phải bận áo lạnh!. . . .
Cửa hàng nào, bảng hiệu nào cũng đề tiếng Trung thật lớn với hàng tiếng Tạng nhỏ xíu bên dưới. . . . Đường phố sạch đẹp, rất nhiều xe hơi đắt tiền của du khách và của các công ty du lịch Trung Quốc chạy lẫn với xe lôi do những người Tạng nghèo khổ đang gò lưng đạp giữa cái nắng cao nguyên. . . .
Từng đoàn người Tạng da đen nhẻm, tóc dài, gò má ửng đỏ đi chầm chậm trên hè phố. . . Họ vừa đi vừa quay kinh luân vừa niệm kinh. . . . có người lại vừa cõng con trên lưng hay vừa dắt chó. . . . có người vừa đi vừa lạy nằm bẹp xuống đường phố đầy bụi bặm và người qua đường. . . . Họ là những người hành hương thường đi qua những con phố bao quanh một ngôi chùa, kiểu như ở Việt Nam ta, đi nhiễu xung quanh tượng Phật vậy. . . Đi như vậy 108 lần để giải trừ nghiệp chướng và cuối cùng đến trước cổng chùa họ lạy nằm bẹp người xuống đất 108 lần với câu chú Um Ma Ni Bát Mê Hum, trước khi vào chùa lễ Phật. . . . .
Trời rất lạnh, không khí loãng. . . . nên không thể nói chuyện lớn tiếng hoặc làm việc mệt được. . . . Bởi nếu mệt thì phải rất lâu mới hồi phục. . . .
Ai cũng thấy nhức đầu. . . . người mệt mỏi. . . . rất khó ngủ. . . . Chúng tôi đã được khuyến cáo là nên ít tắm hoặc không tắm để khỏi bị cảm. . . .
Món ăn Tạng rất khó ăn. . . . có mùi đặc trưng là mùi hôi của mỡ dê và trâu Yak, người không quen không thể ăn được. . . . Bởi vậy cả đoàn chuyển sang ăn chay. . . . Già Năm cười hóm hỉnh:
- Đấy là chư huynh tự giác trai tịnh chứ không phải ta đề nghị đâu nhé!
Tại đây chúng tôi gặp Mã Sa Sa, cô gái hướng dẫn viên của công ty du lịch địa phương. Người sẽ chịu trách nhiệm hướng dẫn và thuyết trình cho đoàn trong suốt thời gian chúng tôi ngụ tại Lasha. . . .
Mã Sa Sa cho biết: Đấy là cái mùi đặc trưng. . . Không có cái mùi này thì không phải là Tây Tạng. . . . Bởi trâu Yak là nguồn sống của người Tạng. . . .
Trâu Yak được dùng làm biểu tượng của Tây Tạng hay ít nhất cũng là của Lasha. . . Bởi ngay cửa ngõ vào thành phố tôi thấy một tượng đài hai con trâu Yak đang nghênh sừng chào du khách. . . .
Trên thảo nguyên bao la. . . .và dưới tuyết lạnh cùng không khí loãng chẳng thể nuôi được con gì. . . . trồng được thứ gì. . . . ngoài cừu, dê và trâu yak. . . . Nhưng chủ lực là trâu Yak. . . Nó là con vật rất dũng mãnh, cho sữa. . . .thịt. . .da để làm lều bạt và quần áo. . . . lông của con yak thường được bện thành những mảnh lớn dùng như vải. . . .
Trâu Yak rất nhiều. . . . người Tạng ăn thịt trâu Yak. . . . phân của nó phơi khô trên mái nhà để làm chất đốt. . . . mỡ của nó thắp đèn. . . . Thế cho nên mùi con Yak cộng với mùi khét của nắng tạo ra cái mùi rất Tạng này!. . . .
Bia không chữ , bút không viết
Hôm nay đoàn sẽ thăm điện Potala, Tiểu Chiêu Tự và Đại Chiêu Tự. . . .
Chúng tôi dậy sớm, ăn sáng bằng những món tự chọn tại nhà ăn của khách sạn. . . .
Tôi uống trà pha sữa trâu Yak, ăn cháo với ca la thầu và bánh bao chay. . . .
Nhờ ban đêm luyện công, nên chúng tôi ai cũng ngủ được và giữ được sức khỏe. . . . .
Potala tọa lạc trên một ngọn đồi cao. . . . nhìn xuống một quảng trường bằng đá với mấy cái tháp trắng toát trên đỉnh có gắn pháp luân màu vàng ánh. . .
Đây là nơi thờ Phật và chôn cất hài cốt của các vị Lạt Ma, cũng là nơi đức Đạt Lai Lạt Ma ngụ và điều hành chính sự cùng giáo hội. . . .
Thoạt trông Potala giống như một lâu đài của người Âu hơn Á Đông. . . . Nó được sơn 3 màu: trắng, vàng và nâu đỏ. . . .
Màu trắng là nơi các lạt ma ngụ. Màu vàng là nơi an vị tượng Phật Thích Ca và chư Phật, là nơi để các lạt ma học pháp. Màu nâu đỏ là chánh điện, đó là nơi tập trung tất cả tượng Phật, Bồ Tát, tượng chư vị Thần linh và Thánh Mẫu. . . .
Hơn 200 bậc thang bằng đá để leo lên và hơn 100 bậc thang bằng đá để đi xuống. . . .
Do không khí loãng nên du khách thường leo rất mệt. . .
Ngay cổng vào có hai con nghê đá rất lớn. . . . trụ cửa và cột, kèo, hoa văn xanh, đỏ, đen và màu vàng đặc trưng. . . .
Tường xây bằng đá núi, . . .cột bằng gỗ lớn sơn nâu đỏ, . . .trần nhà lát bằng những thân cây gỗ tròn để tự nhiên, bên trên những thanh gỗ tròn này là các cành dương xếp đều đặn, trên lớp cây dương này là lớp đất dẻo trộn với đá dăm và sạn được đập và lèn thật chặt. Phía bên trên lớp đất đá này còn được đánh dầu bóng lộn. . . .
Khi đập đất làm trần người Tạng thường vừa đọc kinh, vừa nhảy và vừa hát rất vui vẻ. . .
- Này Mã Sa Sa, tôi thấy chung quanh đây đều là núi đá, không có rừng, vậy người Tạng lấy đâu ra gỗ để làm công trình này cũng như các chùa lớn khác ở Lasha. . .
- Cách đây 400km có một khu rừng đại ngàn với rất nhiều loại gỗ quí gọi là rừng Linh Chi. . . .
Cung điện này trên 2000 phòng. . . . chúng tôi chỉ có thể tham quan một số phòng chính. . . .
Phòng nào cũng lót thảm, trên tường chi chít các bức bích họa nhiều màu. . .
Các bảo tháp chôn các lạt ma và các bảo tọa đều làm bằng vàng thật. . . . có cái phải tốn đến hơn 3000kg vàng. . . . Tượng Phật, Bồ tát, tượng đức Liên Hoa Sanh, tượng Thánh Mẫu, Thần linh đều rất sinh động với phong cách riêng. . . . có tượng còn phủ vàng hoặc đồng. . . .đại bộ phận đều đang mặc y phục. . . .
Trước các bệ thờ đều có một cái đèn lớn cháy suốt ngày đêm không bao giờ tắt. . . .
Khi người Tạng đến chiêm bái và lạy Phật ngoài lễ vật khác, họ thường mang một cục bơ lớn màu vàng hoặc trắng đục. . . . khi đến chùa họ đập các cục bơ này ra và cho vào các đèn này để cúng dường Như Lai và chư vị thần linh. . . Bởi vậy mà đèn không bao giờ tắt. . . .
Vì loại bơ này có mùi riêng. . . . nên vào chùa nào ở đây cũng có cái mùi rất Tạng này. . . .
Tràng phan, bảo cái, lọng lớn, lọng nhỏ, hoa văn nhiều màu, trầm hương nghi ngút và đèn bơ cháy lập lòe. . . . ném cái sáng yếu ớt lờ mờ lên hàng ngàn hàng vạn bức tượng lớn có nhỏ có tạo ra một cảnh quang uy nghiêm huyền bí chẳng nơi nào có được. . . .
Tôi tách đoàn đi cách một quãng để một mình cảm nhận cái thiêng liêng thần thánh của thế giới tâm linh mà tôi thường nghe nói đến. . . .
Đá lạnh dưới chân. . . . những cầu thang nhẵn thín,. . . . và những bức tường lèn cành dương liễu như lẩn quất những linh hồn. . . .
Ôi!. . .giữa những cái ồn áo nhố nhăng. . . . giữa những ánh mắt tò mò. . . và giữa muôn vàn con tim sùng tín của người dân bản xứ nghèo khổ. . . . Tôi như cảm nhận được mạch nguồn của quá khứ. . . . cái quá khứ xa lắc xa lơ của muôn vạn kiếp luân hồi!. . .
Ôi!. . . Gió hú qua núi đá. . . . quạ kêu quàng quạc trên các đỉnh tháp cao. . . và tiếng chim sẻ chim chíp trong các ô cửa sổ. . . . muôn ngàn linh tượng vẫn đang đứng đấy để nghe tiếng cầu kinh rầm rầm rì rì lẫn trong tiếng thuyết minh của các hướng dẫn viên du lịch . . .
Ôi!. . . . Như hai người thân xa cách nhau bây giờ mới gặp. . . . mừng mừng tủi tủi. . . Tôi sờ tay vào đá lạnh. . . . giao điển quang với chư vị thiêng liêng mà lòng đầy xúc động. . . . .
Ôi!. . . Tôi muốn giang tay ôm trọn Potala. . . . cất dấu các linh tượng thiêng liêng vào con tim tha thiết của mình. . . . rồi đi về một nơi chẳng có loài người!. . . .
Ôi!. . . Tượng Phật thì nhiều mà linh hồn bất tử thì chỉ có một!. . . .
Kinh sách thì nhiều mà tình yêu tối thượng lại vốn không hai!. . . .
Trên đường về.
Tại một khúc quanh của con dốc đá dẫn ra cổng Potala. Chúng tôi thấy một cái bia đá lớn không có chữ. . . . . Tôi hỏi thì Mã Sa Sa bảo là:
- Sử sách đều cho là, để cho người đời sau bình phẩm thì viết vào đây!
Nghe vậy già Năm không nói gì. . . . Cụ già đến trước trụ đá, một tay kiết ấn trước ngực, tay kia yên lặng vẽ một vòng tròn lên mặt đá lạnh…..
Thấy chúng tôi ngơ ngác, cụ già mỉm cười:
Người xưa chẳng cần đến lời bình phẩm đâu. Mà đây là công án của các ngài để lại. . . . .
- Không cần đến lời bình phẩm. Sao lại có trụ đá này?
- Không cần lời bình phẩm mà vẫn có trụ đá. Thế cho nên ta viết mà chẳng phải viết!. . . .
Theo tay cụ chỉ. . . .
Chúng tôi thấy bia đá vẫn y như trước khi cụ viết chẳng để lại vết tích gì!. . . .
(vemiendatphat.com)
Bài 2: Con Thỏ Đen (tiếp theo)
Chào Potala!. .
Về đến khách sạn. . . .
Tôi và mọi người hành thiền trong yên lặng. . . .
Tôi nghĩ chắc cũng như tôi. . . .
Chắc họ im lặng là để vẫn còn nghe tiếng quạ kêu buồn bã trên đỉnh các tháp cao với các pháp luân màu vàng cháy. . . . Và chắc họ nhắm mắt là để vẫn còn thấy ánh mắt bao dung đại từ đại bi của Như Lai thay cho muôn lời dạy bảo!. . . .
Chúng tôi đến Tiểu Chiêu Tự để tham quan và đảnh lễ linh tượng đức Thích Ca Mâu Ni lúc lên 7 tuổi. . . . Trước cổng có hai con nghê bằng đá. . . . mập mạp tròn trịa theo phong cách Tạng,. . . . Chắc con đang đùa với con là con cái. . . . còn con đang dùng một chân đạp trên quả cầu ngũ sắc chắc là con đực. . . .
Cổng được trang trí pháp luân mạ vàng trên nóc, hoa văn hình hoa lá thần linh với các màu cơ bản: Đen, đỏ, vàng sậm và xanh đậm. . . . Hai cánh cổng khổng lồ bằng gỗ, mang hai cái vòng bằng đồng có tết dây vải ngũ sắc. . . .
Sân chùa người ra vào tấp nập, . . .có mấy người phụ nữ người Tạng đang ném những cành tùng xanh vào cái lò lộ thiên bằng đất, khói xanh thơm và cay cay từng cuộn tỏa ra khắp sân chùa. . . .
Trong tiếng cầu kinh rầm rầm rì rì. . . . người hành hương lạy nằm bẹp người xuống đất. . . . Hai tay họ đút vào một miếng lót như chiếc dép, bụng họ mang một miếng da trâu yak hay miếng vải dày. . . .
Họ đứng trang nghiêm. . . . vừa niệm kinh trì chú vừa chấp hai tay trên đỉnh đầu. . . Hết câu chú họ quì nằm bẹp người xuống đất. . . hai tay vươn ra rồi khép lại trên đỉnh đầu. . . .Tôi thấy người nào cũng có cục chai trước trán và miếng vải che chỗ hai đầu gối đã vá nhiều lớp! . . . .
Chúng tôi chấp tay đảnh lễ hướng về bên trong. . . .
Một người Tạng đã già đang đứng trong đám lạy đưa tay ngoắc chúng tôi và nói một câu tiếng Tạng. . . .
- À!. . .Họ bảo vào đây họ sẽ chỉ cho cách lạy giống họ.
Mã Sa Sa bảo vậy. . . .
Thật tình chúng tôi rất nể phục họ,. . . nhưng khi nhìn cục chai trước trán và chỗ vá ở hai đầu gối của những người đang lễ lạy. . . trong đoàn chẳng ai dám thọ giáo môn công phu đặc trưng và độc đáo này!. . . .
Trong chánh điện người hành hương đi thành từng hàng, . . . ở giữa có hai hàng lạt ma mặc áo đỏ đang ngồi đối diện nhau. . . . họ vừa lắc lư cơ thể vừa đọc thần chú thành những âm thanh trầm hùng, rượt đuổi, đan xen, quyện chặt vào nhau khi trầm khi bổng thành một bản đại hợp xướng để thông công cùng chư Phật, độ Mẫu và thần linh. . . .
Cuối gian chánh điện là linh tượng đức Thích Ca 7 tuổi, người phủ đầy lụa và vải với hoa văn kiểu Tạng, chỉ còn ló có mặt với cái mũi thật cao và hai mí mắt có đường võng xuống ở giữa. . . một đặc trưng của kiểu tượng thần linh Tây Tạng. . . .
Trước bệ thờ, một vị Lạt Ma áo đỏ đang liên tục châm dầu bơ của người hành hương vào cái đèn không tắt bằng đá núi chạm trổ tinh vi. . . .
Bia không chữ , bút không viết
Theo chân đoàn người hành hương, chúng tôi đi vào phía bên trái của tượng. Ở đây có một vị Lạt Ma khác giúp người sùng tín leo lên một bậc đá khá cao để gục đầu ba lần vào chân bức tượng. . . .
Khắp chùa đậm đặc mùi mỡ bơ cháy. . . . mùi trầm hương. . . . và mùi mồ hôi của người hành hương tạo thành một mùi đặc biệt. . . . Hàng nghìn hàng vạn bức tượng lớn có nhỏ có như đang chập chờn nhảy múa trong cái ánh sáng lờ mờ tranh tối tranh sáng. . . .
Tôi đứng trang nghiêm lòng đầy thành kính, chắp tay thụ khí nhận ân điển thiêng liêng. . . . Điển quang không mạnh mấy. . . . nhưng đại thủ ấn vẫn hiển thị vẽ linh phù vào đỉnh đầu và các luân xa. . . .
. . . . Tiểu Chiêu Tự là thế. . . . và Đại Chiêu Tự cũng giống vậy. . . .
Tượng Phật thờ hai chùa này chủ yếu là các tượng: Thích Ca, A Di Đà, Quán âm, Thiên Thủ Thiên Nhãn, Chuẩn Đề và các hóa thân khác của bồ tát Quán Âm, tượng Văn Thù cầm gươm trí huệ với hai mắt ở lưỡi kiếm, tượng các vị Lạt Ma, tượng các vị Thần linh và Hộ Pháp. . . . Đặc biệt cũng giống như ở Potala có các bức bích họa lớn trên tường, nhất là bích họa Tứ Đại Thiên Vương và chư vị Minh Vương cùng Phẫn Nộ Phật. . . . rất sinh động. . . . trông như đang sống đang cử động dưới lớp bụi thời gian và lòng sùng kính của con người. . . .
Xuyên qua những khu rừng bạch dương trụi lá, trong cái nắng rát da mà se se lạnh của Lhasa. Chúng tôi đến chiêm bái tu viện Drepung tọa lạc trên một đỉnh núi cao. . .
Đây là tu viện lớn nhất của phái mũ vàng. . . . một tông phái mạnh và có ảnh hưởng lớn nhất ở Tây Tạng. . . . . Theo Mã Sa Sa xưa kia có hàng vạn lạt ma tu tập ở đây. . . Cho đến thời cách mạng văn hóa, số tăng nhân giảm xuống hiện tại chỉ còn khoảng 1000 người vẫn ẩn cư tu tập ở đây. . . .
Hai bên con dốc đá dài, thanh liễu đang ra hoa. Hoa nó có lông trông giống như con sâu róm màu xanh. . . .
Chúng tôi vừa đi vừa quay một dãy dài các pháp luân bằng đồng treo dọc đường lên chùa. . . . Cái nào cũng bằng đồng trên có khắc chữ Um Ma Ni Bát Mê Hum. . . .
Leo tới đỉnh núi. . . . chúng tôi thấy một pháp luân bằng đồng khổng lồ chạy bằng sức nước. . . .
Vách đá dựng đứng, đó đây dây kiết tường xanh đỏ giăng mắc vòng vèo đang tung bay theo chiều gió lộng. . . . Trên các hòn đá lớn khắp núi. . . đều có vẽ tượng Phật và tượng Tổ Sư Tongkhapa người sáng lập Hoàng phái này. . . .
Vẫn là các màu nâu đỏ của các bức tường lèn cành dương liễu. . . . vẫn là các bức tường xây bằng đá núi thô ráp sơn màu trắng trên tường giả vân đá và thạch nhũ. . . . Vẫn là các pháp luân màu vàng lấp lánh trên nóc chùa và trên đỉnh các tháp cao. . . . Vẫn là cái sân đá rộng lớn nhẵn thín. . . . vẫn là các hàng cột gỗ không lồ sơn nâu đỏ. . . . vẫn là các bức bích họa đặc trưng. . . . Vẫn là các tượng đồng. . . hay mạ vàng. . . đang mặc y phục bằng vải và lụa với hoa văn Tạng. . . . vẫn là đèn đốt bằng dầu bơ cháy lập lòe. . . . vẫn là các hàng lang dài và sâu hun hút . . .vẫn là các lời cầu kinh rầm rầm rì rì và nghi thức lạy Phật nằm bẹp sát đất. . . . Nhưng Drepung còn có một cái đặc biệt khác.. . . .
Trước chùa trên cái sân đá rộng lớn có trồng hai cây cột gỗ. . . . bên trên có kết biểu tượng kiết tường năm màu. . . . cột có gắn đầy lông trâu yak đen xì đang phất phơ trong gió núi. . . .
- Này Mã Sa Sa sao lại có hai cây cột này. .
- À!. . .Đây là nơi trao đổi về kinh luật luận giữa các đoàn lạt ma đại diện cho các phái hoặc các chùa khác nhau. . . . Nếu bên nào thua hay đuối lý thì phải cắt tóc mình đính vào hai cây cột này. . . .
Truyền thống là thế, nhưng nay thì chỉ đính lông trâu yak chứ không đính tóc nữa!. . . .
Trước khi rời Lhasa để đi chiêm bái các chùa nổi tiếng khác ở Tây Tạng, trong đó có tu viện Samye và một động đá trên một đỉnh núi cao hơn 5000 m . . . . Chúng tôi được hướng dẫn tham quan Cung Điện Mùa Hè. . . .
Trước kia đây là nơi cư ngụ, tu học và làm việc của đức Đạt lai Lạt Ma thứ 14. . .
Cung điện được xây dựng vào năm 1956. . . . nên ngoài phong cách cổ truyền có lẫn với phong cách của Âu Mỹ. . . . kết cấu, bố trí các gian phòng cũng thoáng mát đầy đủ ánh sáng và gió hơn . . . toillet hiện đại . . . trong phòng còn có một cái đài Philips thật lớn. . . .
Tầng dưới của Cung Điện này . . . .hiện nay trở thành nơi bán đồ lưu niệm. . . . .
Bên ngoài Cung Điện Mùa Hè là một công viên lớn, cây cỏ xanh mướt. Vẫn là các loại cây như: bạch dương, tùng bách, hoa lê, trúc và các loài hoa bản địa đang khoe hương sắc trong cái lạnh cắt da. . . .
Chúng tôi chụp hình lưu niệm trước một đài phun nước kiểu Âu Tây nằm trước mặt Cung Điện. . . . Một con thỏ lông đen tuyền đang gặm mấy cái hoa gì đỏ như máu. . . Thấy chúng tôi, nó vội vàng chui vào các khóm hoa rậm rì đầy gai. . . .
Tôi thở dài. . . .
Con đường sắt hiện đại đang đưa hàng đoàn du khách vào Tây Tạng, sự biến động của thời cuộc, phải chăng cũng đang làm con thỏ văn hóa cổ truyền Tây Tạng đang vội ẩn mình sau các khóm hoa vật chất đầy gai nhọn. . . .
Ôi!. . .Con thỏ đen thì tôi đã thấy rồi. . . . Nhưng con thỏ cổ truyền của người Tạng thì biết tìm đâu bây giờ!. . . .
Trên đường về. . . .
Trong bóng hoàng hôn và gió cao nguyên lồng lộng. . . Từ các sạp bán băng đĩa tôi nghe các bài hát tiếng Tạng theo các điệu Rap và hip hop. . . . . Còn mấy người Tạng hành hương quê mùa và nghèo khổ đi bên cạnh chúng tôi, thì miệng vẫn lầm rầm lời kinh huyền bí với kinh luân quay tròn buồn bã trên tay. . . .
Ôi!. . .Con thỏ đen tâm linh truyền thống. . . . ta biết tìm ngươi ở đâu bây giờ!. . . .
(vemiendatphat.com)
Bài 3: Bạch Vân Cư Tự
Rời Lhasa chúng tôi đi về phía Tây, dọc theo con sông Yarlung Tsangpo để đến Shigatse, chiêm bái và đảnh lễ Phật tại tu viện Bạch Vân Cư Tự.
Trời lạnh!. . . . Hai bên đường bạch dương đứng thành từng hàng thẳng tắp. . . . Khắp nơi thanh liễu xanh tươi như tiếp thêm nhựa sống cho đồi núi khô cằn đầy sỏi đá.
Dây kiết tường nhiều màu sắc giăng mắc khắp nơi: . . . giữa hai hẻm núi, . . . trên nóc nhà. . . và trên các hòn đá lớn. . . .
Thanh liễu mọc thành những vạt lớn. Gốc thật to màu nâu sậm, xù xì uốn lượn, da nứt nẻ. Nhưng phía trên lại có rất nhiều ngọn non, mốc xanh, vươn lên mạnh mẽ trong gió lạnh. . . .
- Này Tiêu, sao những cây liễu này gốc thì già mà cành lại non thế?
- Đó là vì người Tạng thường cưa các nhánh liễu để làm nhà, làm củi đốt. . . . đến mùa xuân cây liễu lại ra lộc mới. . . . Cứ thế cho nên cây liễu nào cũng có gốc cổ thụ và có rất nhiều ngọn non. . . .
Trên những nương rẫy hình bậc thang. Những người đàn ông Tạng da đen thui, mũ rộng vành, quần áo màu chàm hay đen đang cày.
Họ đi phía sau, hai con trâu Yak đi phía trước với vải đỏ cột trên sừng. . . . Chúng kéo theo sau lưỡi cày sáng loáng làm cỏ vàng úa bị lật tung lên thành những đường đất dài màu xam xám. . . .
Sau mùa đông băng giá. . . . giờ thì mùa xuân đã về. . . . tuyết đang tan. . . . khe lạch và hồ ao đều đầy nước. . . .
Cỏ mùa xuân đang bắt đầu nhú lên trên thảo nguyên bao la. . . . . Quạ đen, diều hâu bay lượn trên trời. . . . Đó đây người Tạng thành từng nhóm đang cặm cụi cần mẫn. . . tiếng hát bay trong gió sớm, tiếng cười tiếng nói chân chất như tiếng đất mới trở mình. . . .
Phân trâu yak dán đầy các bức tường đất và chất thành từng đống lớn quanh nhà. . . . Nhà nào có nhiều trâu và nhiều phân khô là nhà giàu!. . . .
Trời nắng to. . . . thế nhưng băng vẫn còn phủ đầy các đỉnh núi. . . . .
Băng tan tạo thành những con suối nhỏ. Nhưng đó đây cát bay đã phú đầy các hẻm núi và các thung lũng sâu nhấn chìm mọi thứ. . . . .
Trên thảo nguyên bao la, cỏ đã bắt đầu phun mầm xanh. Kiều mạch và một số loại rau xứ lạnh đang ngoi lên đón nắng xuân trong những thửa vườn với những bức tường đá cuội quây chung quanh. . . .
Chúng tôi đi dọc con sông Yarlung Tsangpo, để đến Shigatse, nơi có tu viện Bạch Cư Tự với Tông Sơn Cổ Bảo trên núi cao. . . . . Lẽ dĩ nhiên tên tiếng Tạng thì không phải vậy, nhưng Tiêu đã dịch phiên âm ra tiếng Hán là như thế!. . . .
Đường đi men theo triền núi đá, với những hòn đá to xếp chồng lên nhau chông chênh như sắp đổ ập xuống. . . . .
Còn phía bên kia là vực sâu hun hút. Dưới đó có con sông Yarlung Tsangpo, đang uốn lượn, khi gầm thét, khi rì rào, nước trong xanh sùi bọt trắng xóa. . . .
Chúng tôi lặng người trước cảnh quan hùng vĩ và kỳ thú. Nơi đây, trời xanh mây trắng, núi tiếp núi. Ngọn nào cũng phủ đầy tuyết trắng. . . .
- Này xem kìa mùa hè mà tuyết lại đang rơi đấy. . . .
Theo tay Mã Sa Sa chúng tôi thấy trên đỉnh núi phía tây, mây đen giăng phủ, và tuyết đang đổ xuống đỉnh như những vệt chổi màu ghi sậm ai tinh nghịch vừa quét lên nền trời. . . . Kỳ lạ thay các đỉnh núi khác thì màu nắng vẫn vàng tươi. . . .
- Này nhưng sao biết đó là tuyết rơi? Tôi tò mò hỏi Tiêu.
- À!. . . . Ở chỗ chúng ta thì mưa đang rơi, nhưng trên những đỉnh kia với độ cao lớn thì luôn là tuyết rơi. . . .
Xe chúng tôi như bị kẹp giữa hai vách núi sừng sững cao đến tận trời xanh. . . . Còn dưới kia thì dòng Yarlung Tsangpo, như con giao long mạnh mẽ đang uốn mình trườn xuống miền bình nguyên với đồng cỏ bao la. . . .
Thỉnh thoảng dòng sông cũng rộng ra. . . nước trong xanh chảy chậm giữa những bãi cát trắng phau chẳng dấu chân người. . . .
Trên triền núi đá lác đác mấy cái nhà người Tạng, bạc thếch, nhỏ xíu, núp dưới những cây thanh liễu và dư thụ mọc chen trong những vỉa đá già. . . Khung cảnh nên thơ mà hùng vĩ. . . . Trong lòng thanh thản, chúng tôi thấy mình như nhỏ bé và được tự do giữa trời đất thênh thang chẳng khác gì những cánh diều hâu đang bay lượn trên nền trời lạnh giá. . . .
Trước khi đến tu viện Bạch Vân Cư Tự thuận đường chúng tôi quyết định vượt đèo Kamba-la, để thăm hồ Yamdrok-tso, một thắng cảnh nổi tiếng của Tây Tạng. . . .
Đèo Kamba-la cao 4.790m so với mặt nước biển. . . . Không khí loãng. . . . ai cũng thấy nhức đầu. . . . nhưng may chẳng ai bị chảy máu cam cả!. . . .
Xe lắc lư như con thiên mã đang tung cánh bay vào mây trắng. . . . Một bên là vực sâu thăm thẳm. . . . với dòng Yarlung Tsangpo đang gầm thét. . . . một bên là những đồi cỏ bao la. . . .
Vô vàn trâu Yak trông như những hòn đá đen, đang yên lặng gặm cỏ úa. . . . Tạng ngao là loài chó chăn cừu rất dữ của người Tạng thì chạy lăng quăng sủa ông ổng chung quanh đàn thú . . . .
Mandala của lục độ Tara tại Bạch Vân Cư Tự
Tạng Ngao là giống chó xứ lạnh rất cao lớn. . . dũng mãnh. . . . có tài chăn cừu, trâu, bò và dê. . . Một con Tạng Ngao có thể cắn chết 6 đến 7 con bẹc giê là chuyện thường tình. . . .
Tiêu chỉ lên đồi cao và bảo tôi:
- Này!. . . Tạng Ngao và trâu Yak còn gọi là Mao Ngưu hiện tại rất có giá. . . . Nhất là trâu Yak. . . . ngoài giá trị truyền thống, xương nó còn dùng để nấu cao. . . . Có thể còn tốt hơn cao hổ cốt. . . .
- Làm sao được vậy?
- Tại vì khi mưa về chẳng những cỏ mùa xuân mọc lên mà “Đông trùng hạ thảo” cũng bắt đầu đâm chồi. Mao Ngưu ăn thứ cỏ bổ dưỡng ấy nên thịt và xương nó lúc ấy rất có giá trị. Nhất là xương của Mao Ngưu được nấu thành thuốc quí là nhờ cỏ “Đông trùng hạ thảo” đấy!
- À! Ra thế!. . . .
Xe đã lên đến đỉnh đèo, tai chúng tôi ù đi chẳng nghe thấy gì nữa. . . . Trời đang nắng to nhưng lại rất lạnh. . . . Tuyết chảy róc rách trong các khe núi. . . . Mây trắng dưới chân. . . . Và dưới kia, hồ Yamdrok-tso xanh rờn hiện ra như trong các giấc mơ hay các chuyện thần thoại tôi vẫn thường nghe kể hồi còn ấu thơ. . . .
Thật kỳ lạ. . . . trên đỉnh núi mà lại có cái hồ to và đẹp đến thế. . . . Với hình thù nhiều ngóc ngách chứ không tròn trịa. . . . Tôi đoán . . . . .chẳng phải là miệng núi lửa mà là tuyết vĩnh cửu ở những rặng núi chung quanh khi xuân về chảy ra đọng lại mà thành. . . . .
Mải chụp hình và quay phim, tôi không để ý đến mấy người Tạng dắt mấy con Tạng Ngao, trâu Yak và dê quây kín chung quanh. . . .
Họ nói tiếng Tạng. . . . Tôi không hiểu họ nói gì. . . . Nhưng qua điệu bộ tôi biết họ muốn mời tôi chụp hình với các con thú của họ. . . . Giá một lần chụp với một con thú là 5 tệ. . . .
Đang bận, tôi lắc đầu từ chối. . . . nhưng bị các con thú vây quanh chẳng đi đâu được. . . .Tôi đành phải đồng ý. . . . . Khi đang chụp thì một số người trong đoàn chạy đến đứng chung. . . .
Một số người Tạng dắt thú của họ cũng chạy ào đến đứng chung vào. . . .
Xong việc họ ào đến tính tiền. . . . tôi chẳng biết đường nào mà lần. . . .
Dùng dằng. . . nhưng rồi cũng qua được! . . . .
Thế là tôi phải mất oan một số tiền cho những thủ đoạn chèo kéo lừa bịp!. . . .
Nhìn những khuôn mặt rám nắng tinh quái của mấy người Tạng này, trong lòng tôi chợt nổi lên một nỗi xót xa. . . .
Tôi chợt nhớ những lời kinh rầm rầm rì rì. . . . những cái lạy nằm bẹp người sát đất. . . .những cái pháp luân lúc nào cũng quay tròn trên tay. . . . những nụ cười hồn nhiên, những tiếng hát trên cao nguyên lộng gió bên cạnh đàn trâu yak. . . . Chẳng biết lúc nào đã thành cái quần bò. . . . cái ao thun hở rốn. . . . cái ánh mắt vằn những tia máu và những nụ cười nửa miệng tinh quái đang phì phèo điếu thuốc lá thơm! . . .
Ôi! Buồn thay. . .
Khi người hành khất ở đây, chẳng đàn hát để xin tiền, mà thay vào đấy là câu thần chú Um Mani Padme Hum niệm không ngớt trên môi, với cái mũ chìa ra ở tay!. . . .
Hỡi con thỏ đen tâm linh truyền thống. . . .ta biết tìm ngươi ở đâu bây giờ?!. . . .
Xe chúng tôi quay ngược trở về. Rồi lại men theo dòng sông Yarlung Tsangpo . . . tiến sâu hơn. . . leo cao dần. . . về phía những rặng núi đá hùng vĩ với đỉnh trắng xóa lấp lánh dưới ánh mặt trời. . . .
Từ xa trông Bạch Vân Cư Tự với Tông Sơn Cổ Bảo giống như một lâu đài Âu Châu đứng ngạo nghễ trên đỉnh đồi với tường đá bao quanh. . . . Tôi nói ý này với Mã Sa Sa thì cô cho biết:
- Thời xa xưa ngôi cổ tự này ngoài việc tu tập, nó còn được dùng như một cơ quan của chính quyền. Bởi vậy, khi người Anh liên kết với các nước khác đánh vào nơi này. . . Các tu sĩ đã phải xây bức tường đá này để bảo vệ tu viện. . . . Nhưng cuối cùng đã không bảo vệ được. . . . Khi ấy, toàn bộ nữ tu ở đây đã tự tử để không lọt vào tay giặc. . . . nơi ấy là Tông Sơn Cổ Bảo nằm kề bên tu viện Bạch Vân Cư Tự này. . . .
Là một tỉnh lẻ, lại ở tít trên núi cao nên khác hẳn các tu viện ở Lhasa. . . . Nơi đây sạch sẽ trang nghiêm và thanh tịnh. Có rất ít du khách. . . . Thường là các Phật tử Âu Mỹ về đây chiêm bái hay là các nhà nghiên cứu.
Tu viện như một bảo tàng lớn về nghệ thuật với vô số tượng Phật, Bồ Tát và chư Lạt Ma. . . . Đặc biệt có một số tượng rất lớn làm bằng đất rất sinh động. . . . Các bức bích họa đầy màu sắc. . . . Các hoa văn trang trí cực kỳ tinh xảo. . . . . . Đây là tu viện thờ Ngũ Trí Như Lai với Ngũ Vị Kim Cang. . . . Điển quang thanh khiết và rất mạnh. . . . Đặc biệt nhất là có 2 bức bích họa thật lớn vẽ vô số Phật với các tư thế khác nhau.
Bức thứ nhất, chính giữa là Bồ tát Quán Âm. . . . chung quanh vô số Phật. . . . Các hướng dẫn viên thấy không quan trọng nên bỏ qua và dẫn chúng tôi đi nơi khác. . . .
Đột nhiên Già Năm giữ chúng tôi lại. . . . Cụ già đưa tay chỉ lên bức bích họa và bảo:
- Chư huynh để ý.. . . . Đây là Đại Bi Thần Công của Bồ tát Quán Âm. . . Các tượng Phật nhỏ xíu chung quanh là nhằm ghi lại các tư thế với các động tác và khế ấn. . . .Chư huynh hãy đảnh lễ Bồ Tát, nhận ân điển thiêng liêng và trì chú Đại Bi để Phật pháp tự hiển thị. . . .
Thế là chúng tôi hành công theo lời cụ chỉ dạy. . . . rất nhiều cái hay. . . . cái kỳ lạ không nói được nên lời! . . . Khi chúng tôi vừa thu khí về thì một vị Lạt Ma đến. Ngài bảo, nhìn cung cách chúng tôi đảnh lễ và hành công thì chúng tôi rất thích hợp khi hành công với ân điển thiêng liêng của đức Vô Lượng Thọ Phật. . . .
Theo tay ngài chỉ, già Năm đưa chúng tôi đến một bức bích họa khác. . . . Ở đây thì đức A Di Đà được vẽ ở giữa, chung quanh cũng có vô số Phật. . . . Tất cả đều được vẽ bằng bột vàng thật.
Già Năm đưa tay chỉ vào bức bích họa và bảo:
- Mô Phật!. . . Ở đây là Hrih thần công của đức đạo sư A Di Đà. . . . Chư huynh hãy đảnh lễ Phật. Nhận ân điển thiêng liêng. . . .Trụ vào thần chú Hrih hay tam mật tương ưng vào hồng danh, để Phật pháp tự hiển thị. . .
Chúng tôi hành công theo lời già Năm chỉ dạy, ai cũng thấy điển quang ở đây rất mạnh, rất nhiều động tác và khế ấn lạ hiển thị. . . . Chư vị Lạt Ma và các Phật tử người Tạng qua lại thấy chúng tôi hành công. . . . Ai cũng vui mừng tán thán. . . . . . . .
Một vị Lạt Ma hướng dẫn chúng tôi đi chiêm bái và đảnh lễ Phật cùng chư Thiên tại Bạch Vân Cư tháp. Đây là một tháp lớn. . . ngọn dát vàng rực rỡ. . . Thờ 108 vị Phật, Bồ Tát và Dakini. . . . Vì các hướng dẫn viên chỉ biết về lịch sử và tính mỹ thuật, còn không biết gì về công năng hoặc đường tu, nên Già Năm phải hướng dẫn chúng tôi hành lễ:
- Mô Phật!. . . Tháp có 3 tầng, chư vị thì nhiều nhưng đều an vị thành một Mandala, với tầng thấp nhất thờ 6 vị thần Kim Cang với 6 màu khác nhau. . . . Đây là hóa thân của Lục độ Tara, được thờ ở tầng 2. Lục độ Tara là hóa thân của Bồ Tát Quán Âm thành 6 dạng với 6 màu khác nhau. Đây lại là hóa thân của đức Vairocana Bodhi (Tỳ Lô Giá Na) được thờ ở tầng trên cùng. . . . Vậy chư hynh hãy đảnh lễ theo các danh hiệu như thế. . . . thực hành pháp Lục Độ Tara với ân điển của Bồ tát Quán Thế Âm. . . .
Theo sự chỉ dẫn của già Năm. . . . chúng tôi hành công cực kỳ hiệu quả. . . . Cảm giác thân thuộc như đang luyện công ở Tổ đường nơi quê nhà. . . . . . . .
Đảnh lễ Như Lai ra về, chúng tôi đều bồi hồi xúc động!. .
Hóa ra Phật pháp vẫn còn đấy, vẫn ẩn tàng giữa bao cái nhố nhăng và dâu bể của cuộc đời! . . . .
Hoàng hôn đang về muộn trên thảo nguyên. . . .
Phía các dãy núi mù xa, hình như tuyết đang rơi. . . . Trời trở lạnh đột ngột, nhưng lòng chúng tôi như ấm lại. . . . Dưới vực sâu kia, con sông Yarlung Tsangpo, đang uốn mình tung bọt trắng qua các hẻm đá già. . . . Nhưng tôi biết thế nào rồi nó cũng về đến bình nguyên bao la, nơi thế nước hiền hòa trầm lặng mà vĩ đại mênh mông trước khi hợp nhất với đại dương bao la. . . .
AH!. . . . Con thỏ đen tâm linh của miền đất Phật. . . Hình như ta đã thoáng thấy ngươi rồi!. . .
(vemiendatphat.com)
Bài 4: Hiện tại gặp quá khứ
Tu viện Samye nằm ở Zetang. ZeTang tiếng Tạng có nghĩa là vườn khỉ. . . Nơi đây trước kia khỉ núi rất nhiều. Ngày ngay không còn nữa. . . . Còn Samye tiếng địa phương có nghĩa là bất khả đắc. . .
Mã Sa Sa kể với tôi:
- Ngày ấy đại sư Liên Hoa Sanh sau khi hàng phục ma quỉ đã quyết định xây dựng Samye trong một ngày một đêm!. . . Thế nhưng thực tế phải mất 2 năm tu viện vĩ đại này mới hoàn thành. . . . Bởi vậy mà gọi là Samye hay là bất khả đắc. . . .
Việc xây dựng Samye là cột mốc quan trọng đánh dấu ngày đạo Phật trở thành quốc giáo thay thế cho đạo Bon. Và mặc dù có rất nhiều người khác nữa cũng có công rất lớn trong việc xiển dương và chấn hưng Phật đạo ở Tây tạng như: Tịch Hộ đại sư, Văn Thành công chúa. . .v.v. . . Nhưng Đức Liên Hoa Sanh với việc trừ tà diệt quỉ và hộ quốc an dân, đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của Mật Tông Tây Tạng. . . . Samye chẳng phải là một tu viện bình thường, mà thật sự là một “Mandala vũ trụ” với chánh điện ở giữa tượng trưng cho núi Tu Di và bốn tháp sơn 4 màu khác nhau nằm chung quanh tượng trưng cho 4 châu khác của ngũ bộ châu. . . Nó cũng tượng trưng cho sự hợp nhất của “Ngũ hành khí lực”. . . Ngoài ra Samye còn có đền thờ mặt trời và đền thờ mặt trăng, đền thờ mặt trời hiện nay đã bị phá hủy chưa phục chế được. Hai đền thờ này tượng trưng cho sự hợp nhất của khí âm và khí dương.
Bên cạnh các bảo tháp đều có một đền thờ cùng màu, bên trong có thờ chư vị hộ pháp Thần. . . . Samye có rất nhiều tượng thờ giá trị. . . Nhưng quan trọng nhất vẫn là Ngũ Trí Như Lai với ngũ vị Kim Cang Thần, đức Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát, tám vị đại Bồ Tát khác, mẹ Độ Mẫu, linh tượng đức Liên Hoa Sanh và chư vị Minh Vương cùng Phẫn Nộ Phật. . . . Vẫn là các màu đỏ, vàng, đen, xanh đậm truyền thống. . . . Vẫn là các hoa văn trang trí họa tiết hoa lá và thần linh, vẫn là các pháp luân bằng đồng vàng ánh trên nóc và dọc theo chu vi của sân chánh điện. . . . Vẫn là 2 cây cột biện kinh ở sân trước với dây cát tường nhiều màu và tóc đen đính chung quanh,. . . vẫn là các bức tường lèn cành dương liễu sơn màu nâu sậm, vẫn là cái nền bằng đất dẻo trộn sỏi và đá dăm được đánh dầu bóng lộn. . . . Vẫn là các cầu thang nhẵn thín và dốc ngược. . . . Vẫn là đèn đốt bằng dầu bơ trước các bệ thờ, vẫn là các lạt ma đầu cạo trọc, mặc áo đỏ, đi giày đen, vẫn là cái mùi rất Tạng, vẫn là tiếng cầu kinh rầm rầm rì rì, vẫn là những cái lạy nằm bẹp người xuống đất. . . . Về hình thức, Samye chẳng khác gì những tu viện chúng tôi đã đi qua. . . . Thế nhưng, Samye cách Lasha hơn 300km. Nên cái khác ở đây là rất ít du khách, nhờ vậy mà trang nghiêm và thanh tịnh hơn rất nhiều. . . . .
Haha...ha!
Già Năm đi rất chậm, sờ từng gốc liễu, vào những chỗ khuất vắng vẻ, đảnh lễ hư không, kiết ấn vẽ linh phù vào từng viên đá lạnh. . . . Để cho kịp giờ qui định, hướng dẫn viên phải tiếp tục hướng dẫn mọi người tham quan lễ bái những nơi khác và hẹn cụ già ở chỗ xe chờ. . . .
Tôi yên lặng đi sau người để giúp đỡ cụ mỗi khi lên xuống cầu thang hay vào những chỗ trơn truợt khó đi. . . .
Thế nhưng cụ già như về nhà mình. . . . Cụ tự biết và đi đứng ung dung. . . . lên xuống cầu thang. . . . nhà ngang ngõ tắt. . . . những mật thất. . . . những chỗ cấm người lạ vào. . . . cụ đều biết và điển quang tự đưa người đến. . . . Tôi đi sau phải rất vất vả mới theo kịp. . . .
Khi đến trước một gian mật thất cửa đóng im ỉm, khác với những nơi khác đều có tiếng niệm chú trầm trầm của chư lạt ma ẩn tu. Nơi đây yên lặng hoàn toàn. . . . .
Cụ già yên lặng kiết ấn vẽ linh phù chung quanh. . . . rồi vẽ vào cánh cửa gỗ đang đóng im ỉm. . . . Có tiếng chân di chuyển thật nhẹ trên nền. . . . rồi tiếng mở cửa. . . . Một vị lạt ma già hiện ra. . . . Ngài chấp tay đảnh lễ già Năm đưa tay ra dấu mời già Năm bước vào. . . .
Già Năm đảnh lễ vị lạt ma ấy bằng một khế ấn. . . . Ngài ấy gật đầu mỉm cười. . . .
Đột nhiên vị lạt ma già đưa hai cánh tay lên không trung cười lên ha hả. . . . Già Năm cũng cười. . . . .
Như hai người bạn cũ lâu ngày giờ mới gặp. . . . Vị Lạt Ma già tiến tới ôm choàng lấy già Năm. . . . già Năm cũng ôm choàng người ấy. . . . Hai cụ già ở hai quốc gia, trước đây chưa hề gặp nhau. . . lại thân thiết đến thế ư?!. . . . Họ vừa cười vừa ôm nhau thật chặt. . . . vừa vỗ bồm bộp vào lưng nhau ra chiều cực kỳ thân thiết. . . .
Tôi đứng yên lặng mà lòng bồi hồi xúc động không ngăn được nước mắt. . . .
Già Năm bước vào phòng. . . . vị lạt ma già đốt cái đèn dầu bơ trước bệ thờ và đặt bên cạnh một lư trầm nhỏ. . . .
Già Năm nhận điển xoay người vào góc phòng lấy ra một mảnh vải trên ấy có chữ linh phù. . . Người nương điển quang xoay người tới trước bệ thờ ngồi xuống. . . . Vị lạt ma già chấp tay đảnh lễ già Năm rồi yên lặng ra khỏi phòng. . . .
Trong cái yên lặng thiêng liêng huyền bí. . . . tôi chợt nghe tiếng cửa mở ở nhiều gian phòng khác. . . .
Trong cái ánh sáng mờ mờ của gian mật thất. . . Tôi thấy già Năm nâng cái khăn vải lên. . . . . áp vào đỉnh đầu mình. . . . day cái khăn vào luân xa 7 và các luân xa khác cùng các căn. . . . Chợt cụ già xoay người đứng dậy. . . . cụ kiết ấn vẽ linh phù lên trời. . . xuống đất . . . và chung quanh. . . . Dùng điển quang đảnh lễ nhiều lần vào bàn thờ trước mặt và chung quanh. . . . Xong người đề khí xoay người ra khỏi phòng như một cơn gió. . . . Tôi cũng chấp tay đảnh lễ Như lai rồi vội chạy theo chẳng kịp đảnh lễ chư vị hộ pháp Thần chung quanh. . . .
Tại các gian mật thất khác cụ già dùng điển quang trình diện đại thủ ấn trên đỉnh đầu. . . xong liên tục vừa thay ấn trên tay vừa đảnh lễ bằng điển quang chư vị rồi nương theo chiều quay của khí, cụ lại xoay người ra khỏi phòng. . . . Cứ như thế. . . trong một thời gian ngắn. . . cụ già đã trình diện khế ấn và đảnh lễ chư vị thiêng liêng. . . . Tôi vừa đảnh lễ Phật vừa chạy theo cụ. . . . mệt bở hơi tai!. . . .
Khi cụ già và tôi về chỗ xe đậu thì cũng kịp lúc đoàn lên xe. . . . . Trong cái giá lạnh của cao nguyên Tây Tạng, tôi thấy nắng như vàng tươi hơn. . . . tuyết như trắng hơn. . . . mọi người đang đi trên đường phố và mình như thân thiết từ lâu đời lắm vậy. . . . Ôi! Những ngày qua. . . nhiều sự việc đã xảy ra trước mắt. . . Khiến cái đầu tâm trí của tôi hoang mang. . . . tôi thực chẳng hiểu vì sao. . . . do đâu. . . . cái gì đang xảy ra với mình và mọi người vậy!. .. .
Ôi!. . . chẳng thể biết được. . . chỉ thấy rằng mình thật vui. . . . . như một con người mới vừa đươc sinh ra nơi miền đất Phật!. . . . Mọi hiểu biết và tri thức của tôi như đang đảo lộn và sụp đổ. . . .
Mô Phật!. . . Chẳng có chiều nào cả. . . mà giờ đây nó như là sự đồng cảm thiêng liêng và tối thượng. . . . Thế gian này như một mái nhà chung rất đỗi thân thương . . . tôi và mọi chúng sanh đều từ một gốc thiêng liêng mà ra!. . . .
Haha. . .ha!. . . .Con thỏ đen đây rồi!. . . .Tôi đã thấy nó rồi. . . . Nó đang gặm cái hoa gì đỏ như máu. . . mắt tròn xoe long lanh nhìn tôi ra chiều thân thiết! . . . .
(vemiendatphat.com)
Bài 5: Như cánh chim thiên di
Đối với chúng tôi, Thanh Bộc Tu Hành Động là nơi quan trọng bậc nhất trong hệ thống Mật Tông Tây Tạng. Bởi đó là nơi đức Liên Hoa Sanh cư ngụ và truyền chánh giáo đầu tiên trên miền đất này.
Cũng chính từ nơi đây đức Liên Hoa Sanh được Tạng Vương mời ra hàng phục ma quỉ, rồi cùng với Tịch Hộ Đại Sư xây dưng tu viện Samye. Mở ra một thời kỳ quan trọng để đạo Phật chính thức thành quốc giáo ở xứ sở này.
Thanh Bộc Tu Hành Động hiện nay không phải chỉ là một cái động, mà là một hệ thống hang động gồm 108 hang chung quanh hang động của đức Liên Hoa Sanh đã ẩn cư tu tập.
Mỗi hang động đều có một vị lạt ma hay nữ tu ẩn cư trọn đời nơi đây. Họ là những người đã thực chứng công năng và đạo hạnh uyên thâm. . . . .
Riêng hang động nơi đức Liên Hoa Sanh cư ngụ và hoằng pháp, hiện nay do đệ tử truyền thừa của ngài đang ẩn cư tu tập. . . .
Mỗi một hang động đều có một mạch nước ngầm . Hiện có 108 mạch nước như vậy!. . . . . .
Hệ thống hang động nằm rải rác và chạy dài suốt đỉnh một ngọn núi cao trên 5.560m so với mặt nước biển. . . .Không khí loãng, khí hậu khắc nghiệt. . . .Mùa đông tuyết phủ lạnh dưới 0 độ C, mùa hè nắng rát da. . . .Trên núi chỉ toàn những bụi cây cao lớn đầy gai nhọn và có màu xanh nhạt, Không có đường đi, lối mòn thường dẫn vào những hố sâu vực thẳm. . . .Vách đá dựng đứng, chim lạ và thú rừng chẳng biết sợ người. . . Chúng cứ vui đùa hót véo von hay xòe đuôi nhảy múa mặc cho chúng tôi đi sát bên cạnh. . . . . . Có mấy con trĩ đất đuôi dài mỏ đỏ còn chạy theo chúng tôi suốt dọc đường đi. . . .
Khắp núi chẳng thấy con suối nào, nếu chẳng may bị lạc, mà không biết chỗ các mạch nước ngầm thì chỉ có chết. . . . Lưng chừng núi có một tu viện nhỏ, do một đại sư thuộc phái Liên Hoa sanh đang trụ trì, có một ít lạt ma và nữ tu đang học đạo tại đây. . . .
Tu viện tuy nhỏ nhưng cổ kính, nép mình dưới những phiến đá khổng lồ hình thù quái dị. . . .Đó đây lão tùng và bách vươn cành xòe tán đùa với mây trắng trời xanh. . . .
Phía trước tu viện có một sân đá rộng lớn. . . .Từ đây có thể bao quát cả một vùng thảo nguyên bao la trải rộng đến tận chân trời. . . .Nơi ấy có vô vàn trâu yak, lừa ngựa, bò dê và cừu đang yên lặng gặm cỏ. . . . Nơi ấy có những chàng trai và cô gái Tạng trên mình ngựa rong ruổi khắp thảo nguyên mênh mông với Tạng Ngao chạy bên cạnh và lời dân ca lồng lộng giữa tuyết trắng trời xanh. . . .
. . . . .
Đường vào núi muôn vàn cam go và nguy hiểm. . . . Chẳng bao giờ có du khách hay người lạ tới đây. . . . Chẳng có công ty du lịch nào dám tổ chức đưa người tới đây cả. . . . Chúng tôi phải ký giấy tự chịu trách nhiệm và tự mình đi vào núi. . . .
Do ở độ cao quá lớn, không khí loãng, khí hậu lại khắc nghiệt hay thay đổi bất thường,. . . .dễ gặp bão cát và tuyết rơi trong mùa hè. . . . . Nên ngoại trừ thổ dân địa phương, còn chẳng ai dám lên núi. . . . Hàng năm có một lượng nhỏ người Tạng là học trò của chư Lạt Ma mới đến tu tập ở cái tu viện ở lưng chừng núi. . . . Còn ở Thanh Bộc Tu Hành Động thì hầu như chẳng có con người ngoại trừ chư vị ẩn tu. . . .
Chúng tôi cũng không biết làm sao mà đoàn mình chẳng những lên núi được,. . . . mà còn có thể lên tận Thanh Bộc Tu Hành Động để đảnh lễ Phật và giao tiếp cùng chư vị ẩn tu. . . .
Trong chương trình đi chẳng có chỗ này. . . . Do một cơ duyên, tự nhiên có người đến và vạch đường chỉ lối cho. Rồi chúng tôi chỉ với quyết tâm và niềm tin vào Phật lực mà lại dám lên đường. . . .
Đúng. . . . Chỉ có vậy. . . .Bởi biết bao người khỏe mạnh có công năng còn không lên được. . . . Cái mệt ập xuống bất ngờ không thể hồi phục. . . . Tim mạch và huyết áp là vấn đề lớn, . . . đòi hỏi phải có thể lực hơn người thường mới có thể leo đến nơi được. . . . Thế mà đoàn chúng tôi. . . . Ngoài già Năm và tôi thì mọi người đều là bệnh nhân, có người hẹp hở van tim, có người đái đường nặng, có người bị tật ở chân, có người đã trên 70 tuổi lại bị bệnh mãn tính lâu năm thể lực yếu đuối, có người bị rối loạn nội tiết cường tuyến giáp. . .v.v. . .và .v.v. . . . Thế mà chúng tôi đã đi và đã thành công! . . . . Tôi nghĩ nếu chẳng nhờ Phật lực gia trì thì chẳng thể nào làm được vậy. . . .
Trời nắng to. . . . Chiếc xe tải mui trần đưa chúng tôi vào núi. . . . Trong cái nắng rát da và cát bụi mù mịt, chiếc xe lắc lư như con ngựa hoang đang trở chứng giữa đường núi cheo leo. . . . Hai bên đều là vực thẳm. . . . đường đi đầy ổ gà và đá núi ngổn ngang. . . . Xe nghiêng bên nào, chúng tôi lập tức phải ào sang phía đối diện để tránh lật xe xuống khe. . .
Nhồi qua. . . xóc lại. . . . chúng tôi như đám quần áo bẩn đang bị quây tròn trong cái máy giặt khổng lồ, với tiếng động cơ rú lên từng chặp. . . . Nhiều người không dám nhìn, vừa nhắm mắt vừa niệm kinh cầu nguyện,. . . . Gian nan vất vả rồi xe cũng đến được chân núi . . . . Ai nấy cả người đầy bụi, duy chỉ còn có hai con mắt sáng lấp lánh một niềm tin. . . .
Chui qua các sợi dây kiết tường đủ màu chăng ngang trên các lối lên núi. Rồi lách người qua các bụi gai nhọn và các gộp đá già trơn như mỡ. . . . . Chúng tôi bắt đầu leo lên tu viện và quyết tâm phải đến được Thanh Bộc Tu Hành Động của đức Liên Hoa Sanh trước khi trời sụp tối. . . . Vách đá dựng đứng, đỉnh núi cao ngất vạch một đường sắc nét lên bầu trời trong vắt không một bóng mây. . . .
Nắng như đổ lửa. . . . Nhưng trời lại rất lạnh. . . . Cái lạnh kỳ dị làm tiêu tan mọi sức lực của con người!. . . . Chim núi chuyền trong các bụi gai và nhảy tanh tách theo chân chúng tôi. . . .
Vừa đi vừa giữ điển vừa trụ chắc vào mật chú: Um Mani Padme Hum. Chúng tôi thở đặc trị, lỏng cơ và nương theo điển lực để bước điều hòa lên phía trước. . . .
Thế nhưng đó đây đã có những tiếng thở mệt nhọc. . . . Không khí loãng làm một số vị huynh khó điều tức nên không thể hồi phục được. . . . Tình hình xấu đi rất nhanh khi hai người yếu nhất trong đoàn ngồi bệt xuống đất, hụt hơi như sắp ngất!. . . . Chúng tôi hoảng hốt, nhưng không ai làm được gì, vì bản thân mình cũng đang kiệt lực. . . . nếu trợ công tiếp lực thì chắc chắn khó thành công mà mình có thể bị ngất đi, trong cái nắng dữ dội, cái khô hanh và không khí loãng này. . . . .
Bỗng già Năm kiết ấn vẽ mantra khắp người, ngửa mặt lên trời hít một hơi thật dài, hai tay nắm hai bàn tay của hai người kia cụ già hét lên một tiếng lớn: - Đi!. . .
Tiếng hét như luồng điện tiếp thẳng vào luân xa 7. . . . Người chúng tôi rung lên bần bật. . . . Tiếng thở đặc trị lại đầy sức mạnh. . . . .
Già Năm dìu hai người yếu nhất đoàn ở hai tay. . . . Cụ bước đi thoăn thoắt, lạng người qua các bụi gai nhọn và các gộp đá tai mèo hiểm trở mà hai tay vẫn nắm chặt hai người kia. . . .
Mặt mũi họ hồng hào. . . . họ bước đi như cái xác không hồn. . .
Chúng tôi cũng bước theo già. . . . Ba lô như nhẹ hẫng trên vai. . . chân cứ bước đi thoăn thoắt . . . . Điển quang làm cơ thể tự xuất hiện các động tác tự thích ứng với tình huống trước mặt. . . . Lòn người qua các bụi gai. . . . lạng người qua các vách núi cheo leo. . . . trườn qua các chỗ trơn trượt. . . . Kỳ lạ thay đi nhanh như vậy mà chẳng thấy ai mệt. . . . tốc độ ngày lại càng nhanh hơn. . . .
Thỉnh thoảng thấy chúng tôi bị tụt lại quá xa. . . . . già Năm buông tay ra để hai gười kia ngồi nghỉ tự điều tức hồi phục công năng. . . . Còn cụ già lại kiết đại thủ ấn vẽ linh phù xuống đất, chung quanh và trên trời. . . . Miệng niệm mật chú. . . . cụ già lại hét lên một tiếng lớn. . . - Kiai!
Ôi!. . . huyền diệu thay sức mạnh của tâm linh. . . . Như được tiếp thêm sức cả đoàn lại ào ào bước lên phía trước. . . Có tiếng khóc thút thít. . . . . có tiếng gầm, kèm theo hơi thở đặc trị dũng mãnh. . . . Mặc kệ không khí loãng. . . . Mặc kệ đường đi hiểm trở gian nan. . . . Dốc tiếp dốc. . . Bước cứ bước!. . . .
Ôi!. . . . Bao con tim tha thiết đang trào dâng sức mạnh. . .
Ôi!. . . Cái buông xuôi thần thánh cộng với tỉnh giác thiêng liêng. . . . như đã làm chúng tôi lọt vào dòng chảy đầy sinh lực của sức mạnh tâm linh. . . .
Ôi!. . . Gió hú trên những vách đá cao. . . . nắng cao nguyên như vàng tươi rực rỡ. . . . chim chóc nhảy múa chào đón những người con đang quay về đất Phật. . . . Tu viện đột ngột hiện ra như trong một giấc mơ. . . . . mây trắng bay quanh. . . . tùng bách reo vui. . . .
Ôi! Thềm đá lạnh. . . cổng nhà xưa!. . . .
Buông ba lô xuống đất. . . Chúng tôi đứng lặng yên để quá khứ chợt về gặp gỡ cái hiện nay. . . .
Ôi!. . . Như trong cơn mộng du. . . Lũ chúng tôi chạy ào vào tu viện!. . . . Có người cười!. . . . . có người khóc!. . . . có người dang tay lên trời hét lên thật to!. . . . .
Các vị lạt ma và nữ tu chạy ra. . . .
Chúng tôi như đã lâu mới về nhà gặp lại người thân. . . . Ôm chầm lấy nhau. . . . vừa cười vừa khóc. . . . Người nói tiếng Tạng. . . . người nói tiếng Việt. . . . thế mà như hiểu nhau! . . . . thế mà cứ nói!. . . . thế mà cứ thăm hỏi hàn huyên tâm sự với nhau như thường!. . . .
Mô Phật!. . . . Trong đời, tôi chưa bao giờ thấy một cảnh tượng kỳ lạ và cảm động đến như vậy. . . .! Nước mắt tôi trào ra. . . . con tim tôi như thắt lại. . . . khi già Năm và vị Lạt Ma trụ trì gặp nhau. . . .
Thoạt tiên cả hai chấp tay đảnh lễ nhau. . . . Sau đó già Năm kiết đại thủ ấn trên đỉnh đầu. . . . Vị đại sư ấy người rung lên bần bật. . . . Ngài đưa hai tay lên trời, vừa gật đầu vừa cười lên ha hả. . . . Già Năm cũng đưa hai tay lên trời cười lên ha hả. . . . Đột nhiên cả hai chạy về phía nhau. . . . .đập mạnh hai bàn tay vào nhau đánh chát một tiếng!. . . . Cả hai người đều rung lên bần bật. . . . Họ ôm chầm lấy nhau. . . . Vị lạt ma già cười lên ha hả mà hai giọt lệ rưng rưng nơi khóe mắt. . . .Già Năm cũng bồi hồi xúc động. . . .
Ôi!. . .Kỳ lạ thay. . . Hai cụ già ở hai quốc gia xa xôi, chưa hề biết nhau. . . thế mà giờ lại thân nhau đến thế !. . . .
Như về lại nhà mình. . . . chúng tôi chạy đi khắp nơi. . . . sờ vào cái này!. . . . vuốt ve nâng niu cái kia!. . . . chào nhau!. . . ôm nhau!. . . .cười. . .nói. . .và khóc!. . . .
Chánh điện đây rồi. . . .
Trong sự chứng kiến của chư vị lạt ma và nữ tu, già Năm đưa chúng tôi đi đảnh lễ Như Lai, chư Bồ tát, đảnh lễ đức Liên Hoa Sanh, chư vị Độ Mẫu và hộ pháp chư Thiên chư Thần. . . .
Đến trước bàn thờ của Tổ sư Liên Hoa Sanh và chư vị đại lạt ma, đột nhiên cụ già dừng lại. . . . người rung lên bần bật. . . . điển quang xoay tròn và hút cụ già về phía một dãy 7 bát nước đặt trước bệ thờ. . . .
(vemiendatphat.com)
Bài 5: Như cánh chim thiên di (tiếp theo)
Nương điển quang già Năm lấy một bát, nâng lên đỉnh đầu, múa chung quanh, kiết ấn rồi vẽ linh phù vào bát nước. . . . Trong cái ánh sáng mờ mờ, trong tiếng niệm chú rầm rầm rì rì của chư lạt ma và nữ tu đang chứng kiến chung quanh, già Năm vừa niệm mật chú vừa xoay tròn trong vũ điệu thiêng liêng!. . . . Chợt cụ già tiến về phía chúng tôi. . . . Lần lượt cụ đổ nước lên đỉnh đầu. . . rồi dùng bàn tay vỗ thật mạnh vào luân xa 7 của chúng tôi . . . . Lập tức người chúng tôi rung lên bần bật như bị điện giật. . . . . .có người khóc . . .có người cười . . . có người vỗ tay. . . .có người xoay tròn vừa múa vừa hiển thị đại thủ ấn. . . . .
Bất ngờ nhất là Ngọc Anh, cô thông dịch viên tiếng Trung của đoàn. Trước đây chưa hề biết khí công là gì, chưa biết gì là tu hành, cũng chưa hề biết thế nào là đắc khí và có thể nói chưa thể tin vào các việc kiểu như thế này. . . . Thế mà có cơ duyên đứng chung với đoàn. . . . Khi già Năm rưới nước lên đỉnh đầu. . . . người cô cũng rung lên bần bật. . . . Nước mắt trào ra, mồm cô bỗng tự nói bằng tiếng Trung là nguyện theo Thầy để tu học chánh giáo của Như Lai. . . .
Tôi được giao nhiệm vụ quay phim chụp hình nên không đứng vào đám người được thọ lễ quán đảnh thiêng liêng này!. .
Vâng tôi biết đó chính là lễ quán đảnh theo đúng truyền thống của Mật Tông Đại Thừa. . . . Nó phải xuất hiện tự nhiên không báo trước. . . . Kể cả vị thầy làm lễ và những người thụ lễ đều không biết trước. . . . .đều không có sự chuẩn bị gì cho sự kiện tâm linh này. . . .
Như Lai. . .chư Bồ Tát . . . .chư vị Độ Mẫu. . . hay đức Liên Hoa Sanh sẽ ứng điển nhập thân vị thầy để bất ngờ, tức khắc ban phép quán đảnh cho những người tu học đã đến ngày giờ. . . .và đã đủ cơ duyên. . . .
Chư vị lạt ma và nữ tu đứng chung quanh vừa niệm chú vừa lần chuỗi, miệng cười tán thán và cùng trợ duyên. . . . Già Năm xả ấn cùng chúng tôi đảnh lễ Như Lai, chư Bồ Tát, chư vị độ Mẫu, chư vị Minh Vương và Phẫn Nộ Phật cùng đức Liên Hoa Sanh. . . . . Buổi lễ Quán Đảnh bất ngờ, tức khắc, mạnh mẽ và đầy hiệu lực đã kết thúc nhanh chóng trong những giọt nước mắt và tiếng cười của mọi người. . . .của chúng tôi. . .và của chư vị Lạt Ma cùng nữ tu. . . .
Mô Phật!. . .chấp tay chào những người bạn đồng tu từ quá khứ. . . . Ba lô trên vai. . . . khế ấn trước ngực và điển quang trong người. . . . chúng tôi quyết tâm leo lên đỉnh núi để đảnh lễ Như lai cùng đức Liên Hoa Sanh tại Thanh Bộc Tu Hành Động. . . .
Mô Phật!. . . Như có một sức mạnh thiêng liêng thôi thúc. . . lòng chúng tôi bồi hồi bức rứt, . . . muốn về lại 108 hang động để đảnh lễ Phật, đảnh lễ đức Liên Hoa Sanh. . . và nhất là để gặp gỡ cảnh cũ người xưa!. . . .
Chúng tôi ai cũng náo nức. . . . cái náo nức nôn nao chẳng thể dừng. . . .! Chợt già Năm chỉ tay lên núi và nói:
- Chư huynh hãy tự mình đi đi. . . . Về đến nhà mình rồi thì khắc phải tự biết đường đi chứ. . . . Người nào hợp với hang động nào khắc sẽ tự về nơi ấy. . . . Hãy nương theo điển lực và tịnh tâm tỉnh giác thì hộ pháp, chư Thần nơi đây sẽ gia trì bảo hộ để đi đến nơi về đến chốn. . . .Ta sẽ nguyện cầu ơn trên gia hộ cho chư huynh. . . . Nếu người nào lạc tâm mất định thì sẽ kiệt lực và sẽ bị lạc. . . .
Thế là chúng tôi nhận ân điển thiêng liêng, miệng niệm thầm mật chú: Namo Guru Deva Dakini Hum. . . . Nương theo điển quang chạy về khắp mọi ngả trong khu rừng đầy gai nhọn. . . . Tôi thụ khí chạy theo sau cụ già mệt muốn đứt hơi. . . . May thay!. . . . Từng chặp cụ già lại dừng lại bên một phiến đá lớn bên đường. Trên những phiến đá ấy đều có khắc một câu Dalani bằng tiếng Tạng. . . .
Cụ già dừng lại, hướng vào phiến đá, trình diện đại thủ ấn trên đỉnh đầu, . .vẽ linh phù trên trời chung quanh và xuống đất . . . .
Xong cụ lại đề khí xoay người chạy vụt đi, xuyên qua những bụi gai nhọn và các hẻm núi cao vút, nơi có gió lạnh hú lên từng hồi buồn bã. . . .Tôi đề khí chạy theo. . . .
Chợt cụ già dừng lại trước một cái hang. . . . Cụ xoay người chui vào trong. . . .Tôi cũng theo vào. . . .
Bên trong một nữ tu đã già đang ngồi nhập định trên một phiến đá. Phía trước là cái bệ thờ như một cái hốc lọt thỏm vào vách đá âm u. . . . .Trong cái ánh sáng chập chờn. . . . . tôi thấy bên trong có một phiến đá hình tam giác trông như một kim tự tháp thu nhỏ. . . .Trên đầu phiến đá này. . . có một cái khăn ấn lệnh màu trắng quấn ngang qua. . . .
Chung quanh yên lặng như tờ. . . . Chỉ có tiếng nhũ đá nhỏ tí tách. . . . Cụ già yên lặng đảnh lễ Như Lai và đức Liên Hoa Sanh Bồ Tát. . . . Tôi quì phía sau cụ cũng yên lặng đảnh lễ theo. . . .
Chợt trong tiếng gió hú chạy dài ngoài cửa hang, có tiếng con chim gì kêu từng chặp. . . từng chặp buồn bã. . .! Vị nữ tu mở mắt ra. . . . Ngài nhìn chúng tôi, rồi yên lặng đưa ra một khế ấn. . . . Già Năm cũng yên lặng kiết một đại thủ ấn trên đỉnh đầu. . . . Vị nữ tu mỉm cười gật đầu. . . . Già Năm cũng mỉm cười tiến về phía vị nữ tu. . . . Cụ già và vị nữ tu già cùng cúi đầu chạm trán vào nhau theo một nghi thức bí truyền của mật tông . . . Cả hai cùng rung lên bần bật. . . .
Chợt vị nữ tu chỉ vào phiến đá hình tam giác. . . . Ngài nói một câu gì như là một câu hỏi bằng tiếng Phạn,. . . . già Năm vẫn quì và yên lặng đảnh lễ phiến đá kỳ dị kia. . . . . Vị nữ tu lập lại nhiều lần. . . . già Năm vẫn yên lặng đảnh lễ. . . . Chợt vị nữ tu phát âm bằng tiếng Việt, tuy giọng không rõ lắm, nhưng tôi vẫn nhận ra được: - Lạt Ma, chữ gì đây?
Chắc già Năm cũng nhận ra được câu hỏi nên cụ xoay người đứng dậy. Một tay kiết ấn trước ngực. . . . Tay kia cụ sờ vào viên đá. Người cụ run lên bần bật. Chợt cụ già rút tay ra khỏi viên đá, kiết ấn chỉ lên trời. Đồng thời gầm lên một tiếng thật to: - Hây!. . .
Vị nữ tu gật đầu cười thật to, đồng thời đưa tay chỉ vào cái khăn ấn lệnh. . . .Già Năm đưa tay cầm cái khăn ấn lệnh từ viên đá thiêng, nâng cái khăn lên trên đỉnh đầu đảnh lễ Như Lai, đức Liên Hoa Sanh cùng chư vị thiêng liêng. . . . Nương theo điển quang, cụ già quấn cái khăn ấn lệnh vào cổ. . . . chào vị nữ tu, rồi đề khí xoay người ra khỏi hang. . . . Tôi đảnh lễ chư vị rồi vội vàng chạy theo. .
. . . . .
Cứ như vậy cụ già vào rất nhiều động gặp rất nhiều lạt ma và nữ tu. . . . Cụ đi lại nhanh nhẹn thông thuộc đường ngang ngõ tắt như đã quen nơi nầy lắm vậy!. . . . Nơi nào cũng có những cái lạ kỳ. . . . cũng chào nhau bằng khế ấn. . . . cũng trao đổi và giao hòa năng lượng, . . . cũng có nụ cười, . . . cũng có nước mắt,. . . . cũng có cái tình cảm gắn bó và thiêng liêng bất khả tư nghì !. . . .
Ôi! Tôi tận mắt thấy mà cứ ngỡ như là hoang tưởng hay trong mơ. . . . . .
Cuối cùng cụ già đến được Thanh Bộc Tu Hành Động. . . . Một vị lạt ma tóc dài mắt sáng cao lớn, tướng mạo dũng mãnh ra chào và mời vào trong động. . . . Già Năm đảnh lễ Như Lai và đức Liên Hoa Sanh. . . . Xong kiết ấn lệnh trên đỉnh đầu. . . .Vị lạt ma cao to gật đầu cười lên ha hả. . . .Rồi ngài cũng kiết ấn đưa ra trước mặt. . . .Già Năm gật đầu rồi cũng cười lên ha hả. . . .Hai người chạm tay nhau. . . .cùng rung lên bần bật. . . .sau đó ôm chầm nhau. . . .cụng trán giao hòa điển lực. . .và nắm tay nhau ra dấu vô cùng thân thiết. . . . Chợt vị lạt ma ngồi lên phiến đá mặt hướng vào linh tượng đức Liên Hoa sanh trên vách động. . . . Ngài đưa tay chỉ và mời già Năm ngồi bên cạnh. . . .
Thế là trong Thanh Bộc Tu Hành Động, trên phiến đá mà xưa kia đức Liên Hoa Sanh thường tham thiền nhập định bây giờ có hai cụ già,. . . .một người Tạng và một người Việt đang tham thiền nhập định. . . .
Ôi!. . . Phải chăng hiện tại đang gặp gỡ quá khứ. . . .
Ôi!. . . Phải chăng tương lai cũng đang đồng nhất tại thời khắc này!. . . .
Ôi!. . . Phải chăng không gian và khoảng cách cũng chẳng có ý nghĩa gì trong tâm linh!. . . .
Ôi!. . . Phải chăng cái duy nhất có ý nghĩa là con tim yêu thương và tràn đầy rung động. . . .là sự hợp nhất của tình yêu tối thượng thiêng liêng!. . . . Mô Phật!. . . Hạnh phúc thay!. . . .Tôi đã được già Năm làm lễ quán đảnh tại hang động thiêng liêng này dưới sự chứng kiến của vị lạt ma già ẩn tu nơi đây!. . . .Tôi đã khóc thật to. . . .đã rung động và hợp nhất với nguồn năng lượng vĩ đại và duy nhất Một này!. . . .
Ôi!. . . .Chẳng bút mực nào tả được. . . .Chẳng lời lẽ nào nói được. . . .Tôi như cơn gió trên thảo nguyên mênh mông này. . . bao năm rồi lang thang kêu gào buồn bã. . . .và nay chợt tan biến vào bầu trời trong vắt, rỗng không của miền đất Phật!. . . . Mọi người đều đã tự đến được nơi của mình. . . . đã thăm nơi cũ. . . . đã gặp cố nhân. . . . và cùng xuống chân núi trước giờ qui định.
Trước các con mắt ngỡ ngàng và thán phục của các hướng dẫn viên đang chờ sẵn ở đây. . . .
Ôi!. . . Lòng đầy hứng khởi mà nước mắt chúng tôi như cứ muốn trào ra. . . .trào ra!. . . .
. . . .
Chào núi. . .chào rừng. . .chào chốn cũ. . . .chào người xưa. . . . chào tuyết trắng. . . .chào thảo nguyên. . . .chào trâu yak. . . .chào kinh luân quay tròn. . . .chào nụ cười rất Tạng. . . .chào những trái tim đồng cảm. . . . Và cuối cùng xin đảnh lễ ơn trên!. . . .Ah!. . .Chúng con đã về. . .đã gặp. . . .và đã biết!. . . .Mô Phật!. . . Ngày mai chúng con xin lên đường rời đất Phật!. . . .
Ngày mai đoàn sẽ rời Tây Tạng đáp tàu từ Lasha đi Bắc Kinh. . . . chuyến đi dài hơn 4.064 km. . . Đoàn sẽ đến Ngũ Đài Sơn để tham quan và đảnh lễ Như Lai, đảnh lễ đức Văn Thù Bồ Tát và chư Tổ. . . . .
Trước khi rời Tây Tạng. Chiều nay một mình tôi đến thăm lại Cung Điện Mùa Hè. . . Ngồi ở chỗ cũ. . . ngắm nhìn những bông hoa gì đỏ như máu mà trong lòng tôi trào dâng bao xúc cảm không nguôi!. . .
Ơ kìa!. . . Con thỏ đen lại đến. . . . Nó ngước mắt nhìn tôi rồi yên lặng gặm một nụ hoa vừa rơi xuống đất. . . . Tôi ngắt một cái hoa đỏ như máu, đặt trong lòng bàn tay mình rồi chìa về phía con thỏ. . . . Nó liền nhảy lại. . .chồm lên và gặm cái hoa trong lòng bàn tay của tôi. . . .Tôi vuốt ve rồi bế nó vào lòng. . . . nó dúi đầu vào người tôi ra chiều âu yếm!. . . .
Ah!. . .Chúng tôi ngồi như thế thật lâu. . . .Trời rét căm căm. . . Tuyết tan trên đỉnh núi và gió cao nguyên xào xạc trong rừng cây bạch dương. . . .
Thả con thỏ đen xuống đất, để nó chạy vào các khóm hoa. . . Tôi ra về mà linh hồn mình như đang ở tại đỉnh núi tít mù xa. . .đang ở tại Thanh Bộc Tu Hành Động!. . . .
Ôi!. . . .Con thỏ đen tâm linh truyền thống. . . .Vui mừng và hạnh phúc biết bao, khi ngươi đã đến, đã gặm bông hoa trong lòng bàn tay ta. . . .và ta đã bế ngươi vào lòng!. . . .
Ngoài kia, trên thảo nguyên bao la, mùa xuân đang về, tuyết đang tan, cỏ mùa xuân đang nhú mầm. . . và những cánh chim thiên di đầu tiên đang quay về miền đất Phật. . . .
Ôi!. . . . Phải chăng như loài chim thiên di kia. Vô lượng kiếp rồi ta cũng đi và về như thế?!. . . . .
(vemiendatphat.com)
Bài 6: Chào lão tùng
Chúng tôi đến Bắc Kinh để tham quan Cố Cung, Thiên Đàn, miếu Khổng Tử, phủ Hòa Thân, Ung hòa cung, Điện Ban Thiền Lạt Ma . .v .v. . . . Để rồi sau đó đoàn sẽ lên đường đi Sơn Tây đảnh lễ Phật và du ngoạn ở Ngũ Đài Sơn một thắng cảnh chẳng những nổi tiếng về vẻ đẹp hùng tráng diễm lệ mà còn là nơi thiêng liêng về tâm linh, nơi Bồ Tát Văn Thù hiển tướng và trụ xứ. . . .
Bắc Kinh đang vào những ngày xuân nắng đẹp nhưng trời lại khá lạnh và khô hanh. . . . Nhà cửa khang trang, đường phố to lớn hiện đại. . . .xe buýt hai tầng, xe điện, tàu điện ngầm, xe hơi các loại. . . .và người đi bộ hoặc xe đạp,. . . chẳng thấy một xe gắn máy nào. . . .
Anh hướng dẫn viên của công ty du lịch Bắc Kinh đang liên tục giới thiệu về đền đài lăng tẩm, về các điểm văn hóa nổi tiếng dọc đường xe chúng tôi chạy qua. . . . Thế nhưng tôi lại bị hấp dẫn bởi hệ thống cây xanh, . . . rất nhiều công viên rợp bóng mát, cỏ non xanh rờn, ngập tràn tiếng chim vành khuyên hót trong vòm lá xanh tươi. . . . Chạy dọc theo hai bên đường phố là những cây hoa hòe cổ thụ lá tròn xanh biêng biếc, những cây ngân hạnh lá hình cái quạt mo, hoa đào đang khoe sắc thắm, bạch dương đứng thành thành hàng buồn bã, trụi lá bạc thếch, đang nhú những chồi non hình ngòi bút, những cây tuyết tùng cứng cáp mà yểu điệu, xòe tán thướt tha trong gió lạnh. . . . .những thảm hoa nhiều màu sắc ở những ngã ba ngã tư, những tượng đài đứng lặng im dọc đường đi bộ, trên thảm cỏ hay dưới những gốc cây cổ thụ sần sùi. . . .
Người đi bộ trên vỉa hè đông đúc, ai cũng quần áo lịch sự, vội vội vàng vàng. . . .Lẫn trong những đoàn khách du lịch đi thành từng hàng phía sau một hướng dẫn viên với lá cờ hiệu dương cao ở tay, là những người nông dân từ các tỉnh về thủ đô để kiếm việc làm. . .Họ đi thành từng nhóm với vẻ ủ rũ mệt nhọc. . . .có người ăn cơm nắm bên những tượng đài, . . .có người gối đầu trên giày của mình mà ngủ trên ghế công viên. . . Họ giương mắt nhìn những ông già áo lụa đang đi dạo, tay dắt chó hoặc xách lồng chim vành khuyên bé tẹo trên tay. . . .
Trên từng cao của khách sạn chúng tôi thấy dọc những con đường hiện đại là những dãy nhà cao từng với bảng hiệu và đèn điện đủ màu sáng nhấp nháy đang che cho những khu nhà ổ chuột với những ngõ hẻm hun hút sâu. . .Từ những nơi ấy, tiếng mời chào rao bán lẫn với tiếng ru trẻ thơ nhừa nhựa buồn buồn và những làn khói bếp mỏng tang vẫn đang uốn éo bay lên trong cái lạnh cắt thịt cắt da. . . .
Chúng tôi tham quan cố cung. .. . . Chẳng có gì đặc biệt, ngoài lầu ngang phủ dọc, hoa văn họa tiết tinh xảo màu mè, các bức phù điêu rồng cọp giương oai múa vuốt, đỉnh trầm, bệ đá, hành lang, sân chầu, . . .nội triều, ngoại triều, tử cấm thành, . . .v.v. . .mục đích biểu thị cho uy quyền của thời phong kiến. . . .
Đứng thành từng dãy dài là những vại đồng to lớn, phía dưới có nơi để đốt lửa:
- Này Tiêu, đây có phải là những cái vạc để nấu dầu sôi hành hình tội nhân không?
- Ấy, không phải vậy. Đây là những cái vạc chứa nước để phòng hỏa. . .Còn phía dưới có chỗ đốt lửa là để những hôm trời lạnh nước đóng băng thì đun cho chảy ra. . . .
Nơi thi vị nhất ở Cố Cung chính là Ngự Hoa Viên với những hàng cổ tùng già cỗi mà lá vẫn xanh tươi trong nắng xuân. Lão tùng đứng chen với những hòn đá già kỳ quái.
Tiêu chỉ vào một cây lão tùng to nhất ở Ngự Hoa Viên, thân xù xì uốn lượn, cành lá vươn ra rậm rạp:
- Đây là cây Cửu Long Bách, cây tùng già và linh thiêng nhất ở đây. Hãy nhìn thân nó mà xem, y như 9 con rồng đang quấn vào nhau vậy. . .Người nào không con, lòng thành khấn nguyện rồi áp tay vào thân cây. Nếu thấy nóng là sẽ sinh trai còn thấy lạnh là sẽ sinh gái. . . .Còn nếu cầu làm ăn, áp tay vào thấy nóng là phát tài, còn thấy lạnh là không được vậy. . . .
Chúng tôi đến Thiên Đàn, nơi biểu thị cho nền tảng của vương quyền, nơi minh chứng cho nguồn gốc quyền lực của Thiên tử chính là con Trời . . . Thiên Đàn được thiết kế xây dựng theo hệ thống triết học của Nho giáo và dịch lý. . . .Đường nét đơn giản, khỏe, trang nghiêm và đầy uy lực, cái uy lực tự nhiên thuộc bản chất của trời đất. . . Theo niềm tin của thời phong kiến thì đây là nơi Thiên Tử tức con của vua Cha trên trời, thông công giao tiếp với người cha tâm linh của mình là Ngọc Hoàng Thượng Đế để thỉnh thị ý kiến của Ngài, nhằm giải quyết các việc của triều chính và của quốc gia dân tộc. . . .
Chẳng những để cầu cho được mùa, cầu mưa, cầu cho quốc thái dân an. . . .mà trước một tình huống khó xử, nhà vua sau khi thông công để có cái cảm nhận thiêng liêng về vấn đề ấy. Ngài sẽ bàn bạc với các cận thần để có chủ định, rồi sau đó mới thiết triều để bàn bạc với bá quan văn võ để đi đến quyết định chung cuộc. . . . .
Thiên Đàn có nhiều lớp tường đá bao quanh với 24 cửa, có cột đèn lồng cao ngất ngưởng, có nơi tế sinh, có các lư trầm khổng lồ, và có Hồi Âm Bích phía sau. . . .
Khi thông công với Vua Cha trên trời, nhà vua phải trai giới, không gần người khác phái, vận lễ phục, lòng thành, đứng tại viên đá Thiên Tâm nằm giữa đàn. . . .Có một con đường lát đá chạy dài ngang qua viên đá Thiên Tâm, chia hai Cố Cung và đến tận Chung Cổ Lầu. . . .
- Này Tiêu, sao lại có con đường đá này?
- À, các nhà địa lý xưa đã tính toán con đường đá này là đường chia hai quả địa cầu, tượng trưng cho Trung Đạo nằm giữa âm và dương. . . .
- Thật không?
- Thật chứ. . . .Bây giờ nếu đứng vào đây, vào một trong 3 viên đá gần Thiên Tâm nhất và vỗ tay hay nói to thì sẽ có tiếng vọng hồi âm trở lại. . . .
Chúng tôi ai cũng tò mò đứng vào nơi Tiêu chỉ và vỗ tay,. . . .trong gió lạnh lập tức có tiếng vọng lại như tiếng hồi âm từ trên trời. . . .
Hồi Âm Bích phía sau cũng vậy. . . . Ở giữa là một cái điện lớn, bài trí trang nghiêm, thanh tịnh và đầy uy lực. Tại đây thờ Vua Cha, Mẫu Mẹ, và Thượng Đại Hội Đồng Tối Cao Cơ Mật Viện. . . . Hai bên là hai điện thờ chư vị Thượng Tiên là các Quan giúp việc cho Vua Cha. . . .
Tại Hồi Âm Bích này, điển quang rất mạnh và thanh khiết. . . .Lẫn trong đám người du lịch đang tranh nhau đứng lên viên đá Thiên Tâm để chụp hình hoặc đang chỉ trỏ vào các linh tượng để bình phẩm. . .Chúng tôi chọn một chỗ khuất, thành kính, lặng yên giao điển với Vua Cha và Mẫu Mẹ. . . .Lòng bồi hồi xúc động, đại thủ ấn hiển thị trên đỉnh đầu, chúng tôi nương theo sức mạnh vô hình vẽ linh phù toàn thân và vào hai lòng bàn tay. . ..
Chỉ vào bức tường đá rêu phong, Tiêu bảo:
- Này, nếu hướng vào bức tường bao chung quanh nơi thờ Vua Cha và Mẫu Mẹ mà nói to lên, thì dù đi thật xa, áp tai vào tường vẫn nghe được tiếng. . . .
- Bởi thế nên gọi là Hồi Âm Bích?
- Đúng vậy. . . .
Chúng tôi đến chùa của các ban Thiền Lạt Ma. . . . Chẳng có gì khác với các chùa hay tu viện ở Tây Tạng. Cái khác ở đây là phong cách phồn thực, nét đẹp thể hình, tính phối ngẫu tâm linh, tính động, tính ngẫu hứng tự phát của các linh tượng và bích họa Tây Tạng đã được các nghệ nhân bậc thầy của Trung Quốc nâng cao bằng tính bác học, tính thực tiển và sự tinh tế điêu luyện trong từng nét chạm nét vẽ. . . . Tu viện thật sự như một bảo tàng khổng lồ về nghệ thuật tâm linh của Phật giáo. . . . Chùa trước chùa sau, nhà ngang nhà dọc, mái ngói tiếp mái ngói, trùng trùng điệp điệp, cổng rồi lại cống, hành lang, sân đá, lư trầm khổng lồ, gác chuông cao vút, lầu tháp nguy nga tráng lệ. . . .Ôi!. . .Nơi nầy giống như một cung điện của giáo quyền thời phong kiến. . . .Thật chẳng hổ danh là nơi tu hành của các bậc đế vương. . . .
Cung của Hòa Thân đây rồi. . . . Khác với cung điện lăng tẩm của vua và khác cả cái đẹp trang nghiêm cứng ngắc của các tu viện hay cung điện khác. . . .Nơi đây là sự kết hợp nhuần nhuyễn tài tình giữa nhà cửa cung điện với cây, đá, hồ nước và giả sơn. . . .có cả hang động, thư pháp, tranh vẽ, nhà hát kinh kịch, tượng mỹ thuật, đồ gốm, đồ cổ và vô vàn các tác phẩm nghệ thuật tinh xảo đặc sắc khác. . . . Tất cả cái đẹp, cái phong nhã của sự hưởng thụ thời phong kiến hình như đều được thể hiện ở đây đầy đủ và hoàn hảo. . . . Ôi!. . .Chẳng bàn đến công và tội!. . .Thì Hòa Thân thật đúng là một tay chơi có hạng thời phong kiến! . . . . .
Đoàn đến miếu Khổng Tử. . . .Nơi nầy đang đóng cửa để trùng tu. . . . Đảnh lễ trước bức tượng của ngài tạc bằng đá trắng nằm giữa một vườn lão tùng trên 700 năm. . . . Chúng tôi ngồi nghỉ bên gốc của một cây tùng to lớn nhất. . . .Trong cái yên lặng thiêng liêng, có tiếng gió mùa xuân đang thì thầm trong vòm lá xanh tươi. . . .
Hồn người xưa như đang hiện về. . . .Tôi như mơ màng nghe thấy tiếng đọc sách, ngâm thơ, tiếng giảng đạo khi thực khi hư phảng phất trong tiếng ồn ào của phố chợ thị phi. . . .
Ôi!. . .Chân lý thì bao giờ vẫn vậy, chỉ có cái vật chất tầm thường thì mới chìm nổi theo cuộc bể dâu! . . . .
Trong cái vắng lặng của buổi hoàng hôn nơi đất khách.Tôi biết rồi đây trên vạn nẻo đường đời, tiếng thì thầm của các anh linh trong gió lạnh hôm nay, chắc sẽ còn theo tôi mãi mãi!. . . . .
Ôi!. . .Lát nữa đây chúng tôi sẽ lên tàu đi Sơn Tây đến Ngũ Đài Sơn để lễ Phật và đức Văn Thù Bồ Tát. . . .Biết bao giờ mới có dịp trở lại nơi nầy!. . . .
Xin kính chào đức đại Thánh Khổng Tử và chư vị hiền triết. . . . . .Xin chào lão tùng già nua. . . .Chào cái thành bại thịnh suy. . . .Chào cái khen chê tầm thường. . . .và chào cái thiên lý muôn đời vẫn vậy!. . . .
(vemiendatphat.com)
Bài 7: Người đã già
Chúng tôi xuống tàu rồi lên xe về khách sạn tại khu du lịch Ngũ Đài Sơn. . . . Trời tối, sương mù, đường quanh co gấp khúc, một bên là vách đá dựng đứng, một bên là vực thẳm đen thui. . . .Ánh đèn pha soi rõ mấy ngọn thông phất phơ trong gió lạnh bên lề đường. . . .
Khách sạn nằm ở thung lũng, chung quanh cũng có nhiều khách sạn khác kiến trúc trang trí chẳng khác gì cái chùa cho thuê làm du lịch. . .
Mặc dù chúng tôi ăn chay, nhưng món ăn cũng có quá nhiều dầu mỡ nên không hợp khẩu vị mấy. . . . Toàn bộ khu Ngũ Đài Sơn trông như hình bàn tay Phật đang ngửa lên trời với các ngón tay hơi co lại. . . . Lòng bàn tay Phật là thung lũng, trong đó các nhà nghỉ, khách sạn, quán ăn, cửa hàng. . . v.v. . . nằm rải rác chung quanh mấy ngôi cổ tự nổi tiếng, thờ đức Văn Thù Bồ Tát, chư Phật, chư Thánh Mẫu, Tứ Đại Thiên Vương và Hộ Pháp Thần. . . . .Trong đó có ngôi chùa thờ đức Văn Thù lớn nhất Trung Quốc và chùa Bồ Tát Đỉnh trên núi cao phải leo trên 1.050 bậc cấp mới tới được. . . .
Trên đầu 5 ngón tay dựng đứng của Phật là 5 cái chùa trên đỉnh núi cao ngất trời xanh, quanh năm tuyết phủ, gọi là 5 cái đài hay Ngũ Đài Sơn là vậy!. . . .
Chúng tôi quyết định bỏ ra một ngày để tham quan đảnh lễ Phật tại mấy cái chùa lớn ở lòng thung lũng. . . .Sau đó ngày hôm sau sẽ đi một vòng cả 5 đài. . . .
Đầu tiên xe sẽ đưa lên đài Đông trước lúc trời sáng để xem cảnh mặt trời mọc trên đỉnh Ngũ Đài Sơn. . . Một cảnh quang hoành tráng diễm lệ, ai một lần đã chứng kiến thì không thể nào quên được. . . .
Sau đó đoàn sẽ đi bộ đến đài Bắc điểm cao nhất trong Ngũ Đài Sơn, quanh năm đóng băng, cao 3.058m so với mặt nước biển, . . .rồi tiếp tục đi bộ đến đài Trung, . . . .đi bộ đến đài Tây và ngủ đêm tại đây. . .
Như vậy là ngày hôm ấy chúng tôi phải đi bộ và trèo khoảng 50km đường rừng. Phải vượt qua những đỉnh núi đầy cỏ úa với băng đang tan dưới nắng mùa xuân. . . .leo lên những vách núi dựng đứng đầy gai xương rồng để tránh những vách băng trắng toát trơn tuột, đang trôi từ từ xuống các thung lủng hẹp đầy bạch thiết tùng lá non xanh mơn mởn trong cái lạnh cắt thịt cắt da. . . .
Không phủ sóng. . . .điện thoại di động không liên lạc được, băng tuyết bao phủ khắp nơi. . . Băng đang tan. . . đường lên núi nhầy nhụa trơn như mỡ,. . . .nhiều vách băng khổng lồ đang bao phủ đường đi. . . .không phương tiện nào có thể lên đỉnh các đài trong những ngày nầy trừ đài Bắc đã làm đường hiện đại. . . . Phải đi bộ thôi và phải có người địa phương dẫn đường để tránh lạc vào vùng băng đang tan. . . . Phải đến được đài Tây, trước khi mặt trời lặn, bởi vì khi bóng tối ập xuống sẽ đồng nghĩa với nhiệt độ xuống dưới 0 độ C. . . .và sẽ giảm dần cho tới âm 10 đến âm 30 độ C. . . .Và như vậy ở ngoài trời,. . .giữa rừng trơ trụi đầy băng giá. . .là đồng nghĩa với hiểm nguy! . . . .
Sáng hôm sau sẽ từ đài Tây vượt hơn 30km đường rừng để xuống chân núi. . . .bây giờ mới có xe hơi đưa lên đài Nam. . . .Đây tuy là điểm thấp nhất trong Ngũ Đài Sơn, như nằm trên đầu ngón tay út của Phật nhưng lại cách xa đài Tây gần 60km. . . .
Chương trình như vậy là hơi tham lam và quá mạo hiểm vì ngay người Trung Quốc cũng chưa từng có ai trong một thời gian ngắn như vậy, lại đi bộ vòng qua các đỉnh núi tuyết phủ cao ngất trời xanh. . . .Phải vượt qua gần 80km trên đỉnh các ngọn núi cao đầy băng tuyết. . . .Ban ngày trời nắng rát da nhưng ban đêm nhiệt độ xuống âm 10 độ đến. . . .âm 30 độ C. !
Nếu lấy Văn Thù Cổ Tự nằm ở lòng thung lũng làm chuẩn thì cuộc hành trình đi bộ qua các Đài, chẳng khác gì đi kinh hành nhiễu quanh Phật và đức Văn Thù Bồ Tát. . . .Chỉ khác là đang đi trên mây, đang đạp trên băng, như đang vân du tít trên trời cao lồng lộng gió ngàn.. . . . . .
- Này Ngọc Anh, tại sao ta không dùng xe hơi để lên tham quan các Đài như vậy sẽ tiện và tiết kiệm thời gian hơn?
- Đây là mùa băng đang tan, đường trơn và nhầy nhụa, băng tuyết che lấp cả đường lên núi rồi, nên chẳng xe nào dám lên cả. Vả lại Ngủ Đài Sơn đẹp nhất không phải tại các Đài mà ở con đường núi nối liền các điểm cao ấy. Mà phải đi bộ qua các thảo nguyên bao la,. . . . xuyên qua các hẻm núi đựng dứng, . . . đạp băng vĩnh cửu dưới chân,. . . . thò tay hốt mây ngàn bay lãng đãng chung quanh. . . . thì mới thú vị chứ?
- Hềhề. . . .Đúng vậy!. . .Thế thì mệt một chút cũng đáng lắm. . . .Đời người dể mấy khi có được cái sảng khoái như vậy! . . .
Văn Thù Cổ Tự kiến trúc cũng hao hao mọi cái chùa khác của Trung Quốc,. . . .cũng ngói ống đầu đao,. . .cũng lưỡng long chầu nguyệt. . . .cũng những bậc cấp đưa lên cao,. . . .cũng tam quan bề thế, . . .cũng nhà ngang dãy dọc theo hình chữ công. . . .bao chung quanh một cái sân đá khá rộng. . . .
Tiền đường thờ Tứ Đại Thiên Vương, Hộ Pháp Vi Đà Thiên Tôn, và đức Di Lặc. . . . .Giữa sân sừng sững một cái thiêu hương thật lớn chạm trổ cầu kỳ. . . .Chánh điện thờ linh tượng đức Văn Thù Bồ Tát khổng lồ, đầu cao đụng nóc 3 tầng nhà xây bao chung quanh. Bồ Tát đang cưỡi lên lưng con sư tử lông vàng. Tay phải ngài đang cầm lưỡi gươm trí tuệ lửa cháy phừng phực. Tay trái ngài đang cầm một cành hoa sen trắng. . . .Chung quanh có linh tượng 18 vị La Hán. . . . Hậu cung thờ các vị Tổ người Trung Quốc và Tây Tạng. . .
Giống như đại đa số chùa và tu viện Phật giáo khác ở Trung Quốc hiện nay. Ở đây qua nhiều lần tu sửa, ta có thể dể dàng nhận thấy ảnh hưởng của văn hóa tâm linh Tây Tạng biểu thị khá rõ ràng.
Phong cách Tây Tạng khi thì rõ ràng khi thì bàng bạc trong từng nét chạm, nét vẽ. . . .Chẳng những ở các linh tượng đang chuyển động chưa thành các tư thế rõ ràng mà còn ở trạng thái mọi sự đều “đang là” của các bức bích họa và hoa văn trang trí. . . . Cũng có thể thấy ảnh hưởng ấy, ở động tác lạy nằm bẹp người xuống đất của một số tu sĩ và người hành hương, . . .hay từng dãy các pháp luân bằng đồng vàng cháy có khắc thần chú Um Mani Padme Hum, . . .và linh tượng của đạo sư Liên Hoa Sanh được thờ ở khắp mọi nơi. . . . .
Bởi vậy có thể nói không ngoa rằng: Tuy hạt giống Phật giáo đã từ Ấn Độ và Trung Quốc mà truyền vào Tây Tạng. . . .Thế nhưng chính ở nơi đây hoa sen xanh của Phật mới thực sự nở rộ và tràn đầy hương sắc. . . . Do vậy, ngay lúc những đoàn quân Trung Quốc đặt bước chân đầu tiên tiến vào Tây Tạng, cũng là lúc sức mạnh tâm linh của văn hóa Phật giáo kiểu Tây Tạng vượt biên tiến vào Trung Quốc và đặt dấu ấn đậm nét lên mọi nơi . . . .từ cung đình thâm nghiêm cho đến tận miền biên địa xa xôi!
Mô Phật!. . .Mà chẳng những vậy. . . .Như người kia lấy cái chổi đập vào bếp lửa. . . .Bếp lửa tuy không cháy cao hơn nữa, nhưng tàn lửa thì nhờ cú đập ấy đã bắn đi khắp nơi và ngày nay đã cháy lan ra khắp cả hành tinh này!. . . .
- Này Tiêu, không biết khu vệ sinh ở đâu nhỉ?
- Mình cũng không biết, nhưng hỏi vị tăng kia thì thế nào cũng biết.
Theo tay Tiêu chỉ tôi thấy một vị tăng còn rất trẻ, đầu cạo trọc, mặc quần bò, nhưng bên ngoài khoác áo đạo, đang đi qua đi lại trong sân chùa. . . .Tiêu hỏi bằng tiếng Trung, nhưng chắc thấy tôi là người nước ngoài nên ngài đã nhả nhặn trả lời bằng tiếng Anh. . . . . Một tay cầm điện thoại di động, tay kia ngài lịch sự ngửa bàn tay ra dấu về phía dãy nhà ở cuối sân. . . .
Buổi chiều chúng tôi tham quan đảnh lễ Phật và Bồ Tát Văn Thù tại chùa Bồ Tát Đỉnh. . . . . Từ dưới chân núi phải leo lên 1.050 bậc cấp bằng đá thì mới tới chùa. . . . Chúng tôi thụ khí, vừa niệm thầm Phật hiệu, vừa thở đặc trị, vừa chậm rãi từ tốn leo lên đỉnh núi. . . .
Trời lạnh. . . không khí loãng. . . .Mỗi lần thất niệm, buông tay ấn ra, lập tức tôi thở hồng hộc, mệt muốn đứt hơi và phải rất lâu mới hồi phục được. . . .
Chung quanh tôi rất nhiều người hành hương cũng không đi cáp treo mà quyết đi bộ để chứng tỏ tín tâm của mình với Phật. . .Họ vừa đi vừa lần chuỗi hạt, có người vừa đi lại vừa quay pháp luân, tất cả họ đều trì kinh niệm chú rầm rầm rì rì với dáng điệu trang nghiêm thành kính. . . .Đi được một chốc, mệt quá họ lại hướng lên đỉnh núi vái Phật rồi ngồi bệt xuống đất mà nghỉ. . . . Có người đi từ sáng sớm đến trưa mà chỉ được một phần đường! . . . .
Thật là một bài học về chánh niệm và tỉnh giác rất cụ thể. . . . .
Già Năm cười bảo:
- Đây là buổi thực tập để chuẩn bị ngày mai bước vào cuộc thử thách lớn. . . .Chúng ta sẽ đi kinh hành nhiễu Phật qua 5 đỉnh của Ngũ Đài Sơn theo một vòng tròn thiêng liêng với Văn Thù Cổ Tự nằm ở trung tâm. . . . .
Đài Bắc, đỉnh cao nhất của Ngũ Đài Sơn
Chúng tôi đến đài Đông lúc trời còn tối thui chưa sáng. . . .
Không có điện. . .các sư ở đây phải đốt đèn cầy để chúng tôi đảnh lễ Phật, Đức Văn Thù Bồ Tát cùng chư vị A La Hán và Tứ Đại Thiên Vương. . . .
Người dẫn đường đã liên hệ để chúng tôi được dùng bữa sáng tại chùa trước khi bắt đầu vượt núi đến đài Bắc.. . . . . .
Rét như cắt thịt cắt da. . . .gió lạnh hú lên từng hồi buồn bã trên thảo nguyên bao la. . . . . Trời tờ mờ sáng. . . .nhưng mặt trời vẫn chưa lên. . . . . Đứng trên đài Đông. . . . .Gió muôn phương lồng lộng. . . .Dưới chân mình. . . .muôn vàn đỉnh núi mờ mờ, trập trùng, trắng xóa, nối đuôi nhau, như muôn ngàn con sóng bạc đầu trên đại dương mênh mông của một cõi hư ảo nào đấy xa lắc xa lơ . . .
Điển quang rất mạnh và vô cùng thanh khiết. . . .
Quay mặt về phía Việt Nam. . . .Chúng tôi chấp tay thụ khí tập Dịch Cân Kinh và Đại Thủ Ấn. . . .để chờ mặt trời lên. . . Nhìn chư huynh tập hiệu quả tít trên trời xanh, giữa mây bay gió cuốn,. . . .giữa cái lạnh cắt thịt cắt da, . . .và ở một nơi cách xa tổ quốc mịt mù. . . .tôi thấy lòng mình bồi hồi xúc động. . . . .
Haha. . . .ha!. . . .Hóa ra dù ở nơi đâu, ở bất cứ thời điểm nào, trong bất kỳ tình huống nào đi nửa, tinh hoa của cha ông mình bao giờ cũng hiệu quả. . . . .cũng phát huy hương sắc!. . . .
Ôi!. . . .Phải chăng, Phật lực chẳng có không gian, chẳng có thời gian,. . . .chẳng có giới hạn, . . .Cái cần thiết duy nhất chính là con tim yêu thương luôn đồng cảm và tràn đầy rung động!. . . . .
Chư huynh thu công, yên lặng thiền định. . . . Phương đông ánh hồng bừng lên. . . pha màu tím nhạt. . . .xanh lơ. . . vàng mơ. . . .rồi tán quang ra muôn hồng nghìn tía. . . . .
Ôi!. . .Mặt trời đang lên. . . .sương mù đang tan. . . . Không gian cao như cao hơn. . . . .Mênh mông xa như bao la hơn. . . .Băng tuyết phản chiếu ánh mặt trời như hào quang của đức Văn Thù lấp lánh sắc cầu vồng. . . . Các khối băng bao phủ trên các đỉnh núi cao, như phát ra một luồng ánh sáng trong suốt không một hạt bụi giống như thường tịch quang của đức A Di Đà. . . . .Ah!. . .Còn thảo nguyên thì nhuộm một màu vàng tươi sống động như màu kim thân của đức Thích Ca Mâu Ni. . . .
- Haha. . .ha!. . . .còn chúng con thì ở đâu?. . . .ở đâu?!. . . . . .ở đâu?!. . . . . .trong cái biển hào quang ngập tràn năng lượng này?!. . . . . .
- Các ngươi ư?. . . .Các ngươi thì như khối băng trinh nguyên trên đỉnh Ngũ Đài Sơn này. . . .Vượt khỏi mọi tầm nhìn. . . .Đứng trên mọi che chắn. . . .Giữa cái lồng lộng của gió muôn phương. . . . Các ngươi hình thành từ mùa đông lạnh giá. Nằm im qua đêm dài tối thui. . . . . .Chờ ánh mặt trời trí tuệ của đức Văn Thù chiếu soi. . . .Các ngươi sẽ tan ra. . . .Chảy ra. . . .Buông xuôi. . . .Thuận theo các khe các rãnh mà chảy về thung lũng. . . . .Trôi qua biết bao vùng quê với con người và con vật. . . .In biết bao hình bóng của những nụ cười và cả những giọt nước mắt bi thương. . . .
Ôi!. . .Chẳng trở lực nào có thể ngăn cản được dòng trôi tự tự nhiên nhiên!. . . . Thế rồi ngươi sẽ ra tới đại dương bao la. . . . và rồi sẽ lại về thăm ta nơi Ngũ Đài Sơn này. . . .Trên các đỉnh núi cao này. . . . .Ôi!. . .Ngươi vẫn trắng trong. . . .Vẫn trinh nguyên. . . .Vẫn trong suốt dù đã ra vào cuộc đời này với biết bao cuộc buồn vui!. . . .
Haha. . .ha!. . . .Hỡi khối băng trinh nguyên. . . .Nay ngươi lại về thăm ta đúng hẹn. . . . .
Chào ngươi. . . .Ta đã đến với ánh sáng của mặt trời trí huệ thì chắc cũng là giờ ngươi lại bắt đầu một cuộc viễn du!. . . .
Nhà ăn của Đài Đông đây rồì. . . .Một gian nhà xây bằng đá núi . . .xám xịt. . .lạnh lẽo. . . gần sát bên bờ vực. . . .Mây và sương lạnh bay qua khung cửa sổ. . . . Trong gian phòng chật hẹp có mùi ẩm mốc. . .Một dãy bàn ghế dành cho nữ. . . .Một dãy bàn ghế dành cho nam. . . Ranh giới là bàn thờ đức Di Lặc và đức Giám Trai kê sát tường. . . .Phía trước có thùng phước sương bằng gỗ đã sờn.
Chà xát hai bên tai, mặt và hai bàn tay cho đỡ cóng, chúng tôi ngồi vào bàn yên lặng. . . . Một vị tăng đặt trước mặt chúng tôi, mỗi người hai cái bát và một đôi đũa. . . .Một bát đựng cơm hay bánh bao. . .còn bát kia đựng rau hay đồ mặn. . . . Một vị tăng đã già. . . .mặt mũi hồng hào và trông rất hề,. . . tay ngài xách một cái xô nhôm đựng đầy bánh bao đang bốc khói. . .Ngài đi qua, dùng đũa gắp bánh bao đặt vào bát cho từng người. . . .Ai cũng chỉ nhận một cái, cùng lắm là hai thì chắp tay đảnh lễ để ngài không bỏ thêm. . . . Thế nhưng khi thấy vị tăng già bỏ bánh bao vào bát Bảy Xị. . . .đến cái thứ 4 rồi. . . .mà hắn vẫn lặng yên, chẳng chấp tay đảnh lễ xin thôi. . . .Mọi người nhìn hắn ngạc nhiên. . . . Ngượng quá! . . . Tôi đá chân hắn dưới gậm bàn. . . . Hắn biết nhưng giả vờ như không !. . . .
Vị tăng già thò đũa vào xô gắp cái thứ 5. . .không bỏ vào bát mà đưa mắt ngầm hỏi hắn, thấy Bảy Xị vẫn ngồi yên chẳng ý kiến gì. . . .Vị tăng già cười hì hì rất hề. . . .nhún vai. . .bỏ cái bánh trở lại xô rồi xách đi về phía cuối phòng. . Một vị tăng khác còn trẻ, xách một xô rau om mặn, đi chia vào từng bát cho mọi nguời. . . .Đến chỗ Bảy Xị. . .hắn chỉ xin rất ít. . . .
Mọi người chấp tay lể Phật rồi ăn trong yên lặng và tỉnh giác. Ngoảng qua ngoảnh lại, tôi thấy Bảy Xị đã xơi hết 3 cái bánh bao to sụ lúc nào chẳng ai hay. . . trong bát hắn, chỉ còn một nửa cái bánh bao và ít dưa mặn. . . .
Tôi há mồm ngạc nhiên khi thấy sau khi ăn hết. . . .hắn đổ nước nóng vào bát. . . .dùng đũa đã ăn quậy rửa bát thật sạch. . . . rồi ngửa cổ uống ực một hơi hết sạch!. . . . Hắn úp bát đũa xuống bàn. . . .đứng dậy đảnh lễ đức Di Lặc. . .ngài Giám Trai. . . .bỏ một ít tiền lẻ vào thùng phước sương. . . . cuối chào vị tăng già rồi quảy bị khệnh khạng ra khỏi chùa. . .
Đi chưa được bao xa, chúng tôi thấy vị sư trẻ khi nãy trong nhà ăn, đang vục đôi thùng sắt to tướng vào một hố băng tan, rồi gánh nước đi về phía nhà trù. . . . Còn vị sư già mặt rất hề, thì đang đi chầm chậm trên thảo nguyên mênh mông, kéo lê cái túi lưới trên mặt cỏ vàng rộm, ngài đang nhặt phân trâu bò khô để về làm chất đốt! . . . . .Tôi biết các ngài vừa làm như thế, vừa giữ chánh niệm và tỉnh giác. . . .
Ôi!. . .Bóng các ngài in sắc nét trên nền trời Ngũ Đài Sơn, dung dị, nhưng khỏe và đẹp rực rỡ, trong ánh sáng mùa xuân. . . .
Đường lên đài Bắc. . . .
Cỏ úa vàng bồng bềnh nâng bước chân chúng tôi. . . .Ba lô cứa trên vai, nhưng chúng tôi không thấy khó chịu tí nào. . . Phong cảnh đẹp mê hồn. . . .Đó đây trên thảo nguyên mênh mông đang ngái ngủ, băng đọng thành từng vũng trắng đục. . . .ri rỉ chảy ra chung quanh. . . .Có nhiều chỗ, băng đọng trên cỏ như tấm kính trong suốt vì phía dưới đã tan thành nước chảy xuống thung lũng. Có nơi băng dựng như thành lũy dọc hai bên đường đi, tạo thành những hình thù kỳ dị, lung linh nhiều màu sắc dưới ánh mặt trời. . . . . Trời cao quá. . . . .Đất rộng dài ghê. . . .Không gian lồng lộng gió. . . . .Con tim, lồng ngực và mọi tế bào của tôi đều như giãn nở ra tràn đầy sinh lực và tình yêu. . . .
Ôi!. . . .mùa xuân. . . .mùa xuân trên cao. . . .mùa xuân mênh mang. . . .mùa xuân nơi trú xứ của đức Văn Thù. . . .nơi rỗng không mà sao chứa đầy muôn sự sống?!. . . . . . .
- Này Tiêu, hỏi người dẩn đường xem, ở đây ngoài cỏ ra còn có những loại cây gì nữa chứ. . . .không lý chỉ cỏ và cỏ thế này. . . .?!
- À, trên đỉnh cao nhiều gió và băng tuyết thì chỉ có cỏ. . . . .và các bụi gai kiểu như xương rồng bò sát đất. . . .Bây giờ băng mới tan. . . .cỏ còn úa vàng. . . .chứ ít nửa mưa xuống cỏ sẽ bắt đầu lên xanh. . . .lúc ấy tha hồ mà hái nấm cỏ. . . .hềhề. . . .nấm cỏ ăn rất ngon. . . .Thỉnh thoảng hên thì còn gặp “Đông trùng hạ thảo” nửa. . . . Ở sườn núi sát đỉnh thì phân bố chủ yếu là tùng. . . .Có hai loại tùng chính ở nơi nầy. Đó là Bạch Thiết Tùng và Lạc Diệp Tùng. . . .
- Chỗ có màu xanh đậm trong cái lũng hẹp kia có phải là tùng không?
- Đó là Bạch Thiết Tùng. . . .còn nếu là Lạc Diệp Tùng thì bây giờ đang rụng lá. . . .Đấy ông xem chỗ rừng cây có màu nâu sẫm đó là Lạc Diệp Tùng đã rụng lá chỉ còn trơ lại cành. . . .
Tôi nhặt một cành lá xanh tươi và hỏi Tiêu:
- Đây có phải là lá Bạch Thiết Tùng?
- Không phải, đây là lá Bạch Tùng. . . .loại tùng phân bố phía dưới hai loại kia. . . .
- Còn gần dưới chân núi thì sao?
- Dưới thấp thì đa dạng hơn. . . .Nhưng đa số là Bạch Dương, Tầm Xuân, Dư Thụ và Tùng Tuyết. . . . .
- Tôi thấy ở đây có phân trâu bò. . . .vậy băng tuyết lạnh giá thế này mà trâu bò chịu được sao?
- À. . . Không phải vậy đâu. . . .Ở đây có giống bò rất đặc biệt. . . .mùa đông lạnh giá thì tự mọc lông rất dài để chống lạnh. . . .Mùa hè thì lông lại tự rụng đi. . . .Phân của nó đấy mà. . . .
Kiết Đại Thủ Ấn trên đỉnh đầu. . . .vẽ mantra vào toàn thân. . . . .chúng tôi vừa trì chú. . . .vừa thở đặc trị. . . .vừa nương điển quang bước đi . . . .
Ôi!. . . Năng lượng chạy rần rần trong cơ thể tôi. . . . mây bay gió cuốn chung quanh tôi. . . . . Tôi hít một hơi thật dài, phảng phất có mùi cỏ thơm nồng nồng ngai ngái . . . . .Thảo nguyên êm như nhung, mênh mông, rập rờn như muôn ngàn con sóng vàng óng ánh liên tục vỗ từng đợt . . . .từng đợt . . .vào cái bờ của đại vũ trụ hoang sơ. . . .
Ôi!. . . Thần linh như đang bay trong mây. . . còn mây thì như đang quấn quít nô đùa cùng chúng tôi. . . . . . Nhen sóc rượt nhau trên vách đá. . . .Thỏ rừng nhảy trong các bụi gai nâu. . . . .Trên những nhành bạch dương trụi lá. . . .tụi sáo đen đang đứng nói chuyện líu lo bên cạnh những cái tổ to đùng mà chúng vừa làm bằng cành cây và cỏ úa. . . .
Haha. . . ha!. . . .Mùa xuân đã về. . . .Vạn vật đang hồi sinh. . . .Lũ chúng tôi. . . những mảnh đời lầm than, lang thang trong kiếp luân hồi. . . . Giờ phút này như được phục sinh giữa mây ngàn và gió lộng! . . . .
Già Năm đi thung dung, thế mà lại rất nhanh. . . . Chẳng ai theo kịp cụ. . . .Chỉ có “Con đại ca” là luôn chạy lon ton phía sau. . .Nó vừa đi vừa múa tay, trông như Cô Bé đang ngự đồng. . . . . Gọi là “Con” bởi vì nó là gái. . . .Hềhề. . . .gái mà lại bợm!. . . . .ăn thì nhiều. . . .mà ngủ cũng nhiều. . . .Suốt ngày nằm chèo queo như con mèo, trong đống chăn chiếu bề bộn mà ngủ. . . .Khi thức dậy thì lỉnh đi chơi. . . .có khi lạc phải tự mò về. . . .Ai nói cũng chẳng nghe. . . .Lúc nào cũng muộn!. . . .Đủ mọi lý do để muộn. . . Trưởng đoàn nói, thì ừ ừ dạ dạ cho xong rồi lại như nước chảy đầu vịt. . . . .chứng nào tật đấy. . . .
Thế nên trưởng đoàn đành phải tôn nó làm đại ca. . . .và gọi là “Con đại ca”!. . . . Nói chung “Con đại ca” chẳng được cái mẹ gì. . . . ngoại trừ lúc nó leo núi đi rừng thì lại khác. . . .Hềhề. . . lúc ấy nó như con chó săn bắt được hơi. . . . .Mũi nó hếch lên. . . Mắt nó sáng quắc. . . .Tay chân nó cử động linh tinh. . . Nó nhún nhẩy đu đưa người. . . .Chỉ chờ có lệnh xuất phát. . . . Thế là kể từ đó, nó chạy lon ton phía sau Già Năm. . . . chẳng biết mệt! . . . .
Vừa đi nó vừa liến thoắng hỏi han đủ mọi thứ chuyện từ trên trời xuống dưới đất. . . Chán, nó lại vừa đi vừa hát vừa nhảy múa! . . . .
Thảo nguyên bao la đầy gió. . . . áo cụ già phùng to ra. . . . khăn quàng cổ và tóc cũng tung bay theo gió . . . .Còn “Con đại ca” thì như đứa bé tí xíu chạy lẫm đẫm theo sau. . . .nhiều lúc bóng nó như lẫn vào sóng cỏ. . . .Trông như hai ông cháu đang đi chơi trên mây. . . .
Haha. . . ha!. . . .Nó đúng là đồng bóng. . . .và cũng đúng là “Con Đại ca”! . . . .
Chúng tôi đi tắt xuyên qua thảo nguyên. . . . Xuống thung rồi lại leo dốc. . . . . Xuống thung rồi lại leo dốc. . . . .cứ thế. . . cứ thế. . . .Chung quanh tôi yên lặng, không ai chuyện trò gì nữa. . . .chỉ có tiếng thở hổn hển. . . .tiếng ba lô chạm lách cách. . . .tiếng chân bước nặng nề mệt mỏi. . . . Đến đúng trưa thì Già Năm và “Con đại ca” đến đài Bắc. . . .Còn đoàn thì biến thành thê đội kéo dài hàng cây số!. . . . .
(vemiendatphat.com)
Bài 7: Người đã già (tiếp theo)
Nhưng rồi cuối cùng mọi người cũng lục tục đến nơi... Đài Bắc là điểm cao nhất nhưng dễ đi nhất của Ngũ Đài Sơn, nhưng so với dự kiến ban đầu thì đoàn bị chậm khoảng một tiếng. . . .
Chùa ở đài Bắc, làm toàn bằng đá núi, trông thật bề thế uy nghi. . . .Chia ra làm hai khu. . . .Khu chính thờ Vua Cha, Mẫu Mẹ và các Quan. . . .Khu kia thờ chư Phật và đức Văn Thù Bồ Tát. . . . Phía trước đài, trên một đỉnh núi đá hùng vĩ, có một cái tam quan bằng đá trắng. . . . .chung quanh lúc nào cũng mây bay gió cuốn trông như cửa Thiên Đình trong phim Tôn Ngộ Không. . . . Ở đây cũng như ở đài Đông, đài Trung và đài Tây. . . luôn vắng vẻ trang nghiêm, thanh tịnh. . . .Chỉ có ngài thủ từ, chúng tôi và vài người khách nước ngoài. . . . Chánh điện thờ Vua Cha và Mẫu Mẹ ở giữa. . . hai bên là chư vị trong Thượng Đại Hội Đồng Tối Cao Cơ Mật Viện. . . . . . .
Khác với các chùa ở Việt Nam. . . . Ở đây khi chúng tôi thụ khí, nhận ân điển thiêng liêng, dùng đại thủ ấn để thông công và đảnh lễ chư vị thiêng liêng. . . . Vị tăng thủ từ tỏ vẻ ngạc nhiên. . . .Thế nhưng ngài vẫn lịch sự và hoan hỉ tán thán. . . . Ngài còn bảo, Phật pháp có vô lượng vô biên pháp môn không nên tự phụ là biết hết được. . . .Thế cho nên cứ trang nghiêm, thanh tịnh và đầy tín tâm là được!. . . . Hương trầm ngan ngát. . . .chung quanh lặng yên như tờ. . . . .chỉ còn nghe tiếng gió hú buồn bã trên thảo nguyên mênh mông. . . . .và tiếng con tim chúng tôi bồi hồi thổn thức. . . . . . .
Ôi!. . . Trên cái chợ trần gian, lổn nhổn những cái gọi là chánh giáo với ngoại đạo. . . .Thì Cha và Mẹ vẫn yên lặng ngồi nơi đây. . . .giữa mây ngàn và gió cuốn. . . .làm gạch nối cho đất và trời. . . . .cho đạo và đời. . . . .cho con tim và những nụ cười cùng nước mắt. . . .
Ôi!. . . .Nơi đây sao bình yên và sâu đến muôn trùng cảnh giới. . . .Chúng con quì ở thềm đá lạnh này mà cứ ngỡ như đang ngồi nơi nhà Cha ở tít trên trời!. . . . .
Ôi!. . . .Thiên lý thì muôn đời vẫn vậy. . . .chỉ có cái nhỏ nhen tầm thường của thế tục thì mới chìm nổi theo cuộc bể dâu!. . . . . Thưa Cha, thưa Mẹ, thưa với chư vị Thượng Tiên của Thượng Đại Hội Đồng. . . .Lũ chúng con dù đang đi trong gió cát trần gian, nhưng nguyện luôn chánh niệm và tỉnh giác. . .luôn thuận theo thiên lý mà sống đúng với chức phận làm người!. . . . Tam mật tương ưng. . . .chúng tôi nhận ấn lệnh của Cha nơi đỉnh đầu. . . . . .
Ôi!. . . Tôi thấy như mình chợt già đi. . . .vết thời gian đang cày nát vầng trán thanh xuân. . . Thế nhưng cặp mắt già nua thì hoá thành bao dung rộng lượng. . . .tha thứ cho hết thảy. . . .cho mình. . . .và cho tất cả những người đã có lỗi với mình! . . . .
Haha. . .ha!. . . .Trước con mắt của “Người đã già” thì hoá ra, tất cả những cái đó đều là những trò trẻ con nông nổi và đầy xúc cảm. . . .!
Than ôi!. . .Tôi biết từ nay trên vạn nẻo đường đời. . . .trong mọi cuộc buồn vui. . . .Tôi đã “Già thật rồi”. . . . Tôi đã thông công với Cha và Mẹ, với chư vị Thiêng Liêng.
Ôi!. . .Phải chăng cái ấn lệnh này?. . . với cái dòng năng lượng kỳ bí này? . . . . đã làm tôi già đi trong cái thân hình vẫn còn tràn đầy nhựa sống!. . . . .
Đảnh lễ Vua Cha, Mẫu Mẹ và chư vị Thượng Tiên xong . . . chúng tôi được ngài thủ từ hướng dẫn sang khu bên cạnh đảnh lễ Như Lai, đức Văn Thù. . .cùng chư Tổ và Hộ Pháp. . . . . Thấy đã quá muộn, chúng tôi quyết định ngồi ngay tại cái gác chuông đang xây lỡ dở này để ăn tạm một ít đồ nguội rồi lên đường ngay. . . . Bởi từ giờ cho đến khi mặt trời lặn chúng tôi phải đi bộ khoảng 30 km đường rừng nữa để vượt qua đài Trung đến ngủ đêm tại đài Tây. . . . Khi bắt đầu ăn. . . .Bảy Xị mới lôi trong bọc ra 3 cái bánh bao. . . . . .À!. . .Hoá ra hắn đã lấy nó từ nhà ăn đài Đông. . . .Hắn bảo đường đi quá dài và quá gian nan. Hắn sợ nếu một trong số chúng tôi có mệt quá không đi được đến đài Bắc. . . . .có ngủ lại giữa rừng thì cũng có cái mà ăn. . Bởi hắn biết cả đoàn vì sợ nặng chẳng ai mang theo đồ ăn nhiều. . . .đều phải dựa vào bữa chay tại chùa. . . .!
. . . .Thế nhưng thật bất ngờ, chúng tôi được chư tăng ở đây mời vào nhà ăn thọ thực. . . .dù đoàn chẳng thể nào liên hệ trước được. . . .
. . . .Chẳng có điều gì đáng nói ở đây. . . mọi thứ đều xảy ra trong hoan hỉ, an lạc, hoà hợp và kính ái. . . ! Duy có một việc. . . nhiều vị huynh khác lén già Năm. . . .bắt chước Bảy Xị thủ một ít bánh bao chay để phòng trong lúc vượt núi đến đài Tây. . . . . Bắt chước lấy bánh thì được mà bắt chước uống nước rửa bát thì không thể. . . ai cũng thấy lợm giọng. . .không thể nuốt được. . . .! Một vị tăng đến thu dọn bát đũa của chúng tôi. . . .Thấy ai chưa tráng và uống nước rửa bát. . . .ngài lại đổ nước nóng vào bát của họ. . . .dùng đôi đũa họ đã ăn. . . .quậy rửa bát. . . .há miệng thật to. . . uống một hơi đánh ực một tiếng. . . . Nhiều khi thấy mấy người nhìn ngài nhăn mặt tỏ vẻ kinh hãi. . . .Ngài còn cố ý súc miệng kêu sột soạt. . . . .rồi nuốt đánh ực. . .xong há miệng thè lưỡi cho mọi người thấy ngài đã uống nước rưar bát của họ xong! . . . .Cứ thế ngài đi thu dọn bát đũa đến đâu, đều thay họ uống nước rửa bát đến đấy. . . .
Mọi người ai nấy đều chấp tay đảnh lễ ngài ra chiều rất ái mộ việc làm phi thường này. . . . Nhiều tiếng xầm xì tán thán chung quanh tôi:
- Mô Phật!. . .Ngài gánh nghiệp thay cho tụi mình đấy. . . . . .Thật là đạo hanh cao thâm. . . .đúng là đối với ngài, thì dơ sạch đều chẳng bám được vào người đã rỗng không. . .v.v. . và. .v .v . . . .
Tôi thoáng thấy mắt ngài ánh lên môt niềm kiêu hãnh ngầm. . . . !. . . .
Ăn xong đứng lên, chúng tôi bỏ tiền công đức vào thùng phước sương. . . . Cùng với Già Năm, chúng tôi đảnh lễ ngài Di Lặc, đức Giám Trai rồi cúi gập người chào vị tăng nọ trước khi ra khỏi phòng. . . . Bất ngờ thay, vị tăng nọ lạng người né tránh, rồi đưa tay chỉ vào bàn thờ Phật, ý nói là nên chào Phật chứ đừng chào ngài làm gì. . . . .
Thế là lại được dịp cho mọi người lên tiếng ca tụng hạnh khiêm cung của ngài hết lời! . . . Tôi chợt thoáng thấy một ánh buồn trong mắt Già Năm. . Đi sát phia sau cụ già, chờ lúc không có ai, tôi hỏi:
- Thưa cụ, có gì không ổn trong các việc vừa rồi chăng?
- Này ông, uống nước rửa bát chỉ là qui đinh của tu sĩ Phật giáo, các tôn giáo khác và mọi người không làm thì đó không phải là một lỗi hay một khiếm khuyết. . . .Bởi vậy nếu có uống nước rửa bát thay cho họ, thì phải khéo léo, quay mặt đi, lấy tay áo che đi, làm âm thầm kín đáo, chứ không nên lợi dụng việc ấy để làm cho mọi người tưởng ta là người có đạo hạnh cao thâm. . . .Còn đối với Phật giáo, Phật, Pháp, Tăng, là tam bảo. . . . thế cho nên chúng sanh lễ Phật xong, quay ra lễ Tăng là phải đạo. . . .Vị tăng không nên cố làm ra vẻ khiêm cung né tránh sự đảnh lễ của chúng sanh. . . mà phải trang nghiêm thanh tịnh nhận chào và tự thân mình phải kính ái chào lại để đáp lễ. . . . .Ta buồn vì đường tu nếu sơ sẩy thì sẽ lạc vào tướng mà quên mất bản tâm!. . . . .
Đường đến đài Trung băng tuyết ngập đầy. . . .Người dẫn đường đưa chúng tôi đi theo con đường tắt, cắt ngang những thung lũng đầy đá núi, ngổn ngang những hình thù kỳ dị, xuyên qua những ngọn đồi. . .đỉnh núi, nhấp nhô muôn ngàn con sóng cỏ . . . .có nơi trơn tuột mím chân dò dẫm từng chút một. . . .chỉ sợ sẩy chân, rơi xuống vực thẳm hun hút sâu. . . .Có nơi phải chạy như bay xuống các dốc núi dựng đứng không thể đứng lại dù một phút giây. . . .
Mệt nhưng vui. . . .bởi chúng tôi đang khám phá chính bản thân mình. . . . Khám phá cái khả năng kỳ diệu của khí công, có thể làm được những điều mà bình thường mình có mơ cũng không thể làm được! . . .Khám phá cái trạng thái thăng hoa khi trời đất và con người không còn khoảng cách. . . . Khám phá cái cơ chế bodhisattva hoạt động thế nào trong thực tiễn khắc nghiệt ở nơi đây. . . . .
Giữa lưng chừng mây là một cái chùa nhỏ xíu, gọi là chùa Tắm. . . .Theo truyền thuyết, đó là nơi Bồ Tát Văn Thù đã hiển thị và tắm ở nơi đây. Nơi Ngài tắm là một cái hồ nhỏ giữa sân chùa. . .chung quanh có lát những phiến đá tạc hình cánh sen. . . . .Nước hồ trong vắt. . . .lềnh bềnh những tảng băng đang trôi. . . . Ban thờ giữa chánh điện có một phiến đá lớn lỏm xuống hình một vết bàn chân khổng lồ. . . .Tương truyền đây là vết bàn chân của Bồ Tát khi ngài đứng tắm!. . . . .
Khi chúng tôi vượt qua một khe nhúi hẹp với hai vách dựng đứng cao vút đến tận mây xanh thì Đài Trung hiện ra như hình bàn tay lơ lửng trong sương khói và mây bay. . . .Mọi người reo lên. . . .Thế nhưng đến đó không phải dễ, bởi đường đi bị băng tuyết đang tan bao phủ, đe doạ. . . .Phải đi vòng. . .phải dò ra con đường. . .tránh các khối băng khổng lồ trơn tuột đang trôi từ từ xuống hố. . . .
Người dẫn đường cũng đã thấm mệt, nên đi chậm lại. . . . Cứ như thế này thì không thể đến đài Tây trước khi trời chưa sụp tối. . . .
Già Năm và “Con đại ca” đi trước để dò đường. . . .Trông hai người như hai cái chấm đen đang di động dọc sườn núi đầy cỏ úa và gai xương rồng. . . .Bỗng hai cái chấm đen dừng lại. . . .Phía trước họ là một vách băng đang trôi từ từ xuống thung lũng không thể qua được. . . .Già Năm và “Con đại ca” phải đi vòng lên trên núi rồi tụt xuống mới qua được chỗ ấy. . . . .Đi được vài chục mét, trước mặt họ lại là một vách băng khổng lồ khác đang im lặng trôi từ từ xuống hố. . . .Thế là tiến thoái lưỡng nan. . . . . .
Cụ già hướng về chúng tôi ra hiệu không được đi theo cụ mà phải đi vòng leo lên đỉnh núi. . . .theo đường sống trâu trên đỉnh mà đi tới chùa. . . . Chúng tôi hiểu ý cụ. . . .bởi ngay trên đỉnh thì bây giờ băng đã tan và trôi xuống rồi nên không có gì nguy hiểm. . . . .
Già Năm và “Con đại ca” nắm cỏ, bấu đá, leo ngược từ chân vách đá lên đỉnh núi. . . .bởi đó là con đường thoát duy nhất trong lúc này. . . . . Nhìn hai người như hai con thằn lằn núi khéo léo bền bỉ leo lên cái vách dựng đứng mà chẳng cần dụng cụ gì. . . . .chúng tôi mới hiểu thế nào là sức mạnh của khí công và sức thần của chư Hộ Pháp. . . . .
Đài Trung đang đóng cửa trùng tu. . . . Chúng tôi yên lặng đảnh lễ Như lai, đức Văn Thù Bồ tát cùng chư Hộ Pháp. . . . Nghỉ tại đây một lát. . . .Chúng tôi thụ khí hành công bồi dưõng công năng. . . .xoa bóp cơ thể. . . hồi phục. . . . rồi lại tiếp tục lên đường về đài Tây ngay trước khi trời chưa sụp tối. . . .
Đài Tây hiện ra như đầu ngón tay trỏ của Phật lơ lửng trong mây. . . .10 km đường rừng nữa thì tới nơi. . . .Bây giờ đường rất dễ đi, không có chi nguy hiểm . . . .chỉ là cái lối mòn nằm giữa thảo nguyên bao la đang bắt đầu chập choạng tối. . . . . Nhưng vấn đề lại là thể lực. . . . Già năm, “Con đại ca”, người dẫn đường và vài vị huynh đi trước. . . .còn chúng tôi chỉ có mười mấy con người ta mà kéo dài hàng cây số. . . . Nhiều người nhấc chân không muốn nổi nữa. . . .Toàn đội chỉ tựa vào điển quang gia trì. . . .với khế ấn trong tay. . . .và dalani niệm thầm trong miệng. . . . .Còn sức lực thì như từ trên trời, từ dưới đất. . . tiếp vào đôi chân hình như không còn cảm giác nữa! . . . Lạnh! . . Lạnh như cắt da! . . .Bóng tối chập chờn múa may quanh chúng tôi. . . . .Gió gào lên từng hồi thảm thiết trên thảo nguyên vắng lặng. . . . .Chúng tôi vẫn nhích từng bước. . . .từng bước về phía cái chùa tít trên mây! . . . .
Khi trời tối hẳn thì mọi người đều đã đến được chùa Tây, còn gọi là Chùa Pháp Lôi Tự. . . . Già Năm cười bảo chúng tôi. . . . .học trò Tổ sư Thiên Địa Lôi thì ngủ tại chùa Lôi là đúng rồi. . . .chắc ơn trên đã định sẳn như vậy đấy. . . .Hềhề. . . !. . .
Chư tăng ở đây rất ân cần và tử tế. . . . Khi nghe chúng tôi từ Việt Nam xa xôi. . . .hành hương đi vòng khắp Tây Tạng để lễ Phật và Tổ sư Liên Hoa sanh cùng chư vị Độ Mẫu. . . .Nay quay về Trung Quốc nguyện đi kinh hành nhiễu Phật qua 5 đỉnh của Ngũ Đài Sơn để lễ bái ngài Văn Thù Bồ Tát. . . .Họ đều cảm động và kính ái. . . .Ai cũng hoan hỉ tán thán. . . . Chư tăng và chư vị nữ tu nhường phòng, nhường chăn và cơm nước cho đoàn chu đáo. . . . Chúng tôi thấy như được về nhà mình. . . . Đúng là con của Phật thì như một nhà. . . .!
Mỗi phòng chỉ được cấp một thau nước nhỏ xíu để rửa ráy. . Chúng tôi thấy chư tăng ni ở đây cũng vậy. . . .Chỉ một thau nước bé tẹo. . . mà người này rửa xong để lại cho người khác rửa tiếp chứ không đổ đi. . . Cứ như thế mười mấy người trong phòng cùng rửa chung vào một thau nước đen ngòm trông rất ghê!. . . . . Dù đã quá mệt mỏi. . . Nhưng không chờ đến sáng. . . Chúng tôi đề nghị vị tăng trị sự đưa lên chánh điện để đảnh lễ Như Lai, chư Bồ Tát, Bồ Tát Văn Thù . . .chư Tổ. . . .cùng chư Hộ Pháp Thần. . . .trước khi đi nghỉ. . . .
Phải trèo lên một đỉnh núi khác sau chùa mất khoảng 10 phút mới tới được chánh điện . . . .Điển quang rất mạnh và vô cùng thanh khiết. . . .Mọi cái mệt nhọc như tan biến hết. . . .Cơ bắp không còn đau nhức nữa. . . .Lạ thay chúng tôi thấy rất sung sức và nếu có vượt rừng leo núi nữa thì vẫn được như thường. . . .Thật lạ lùng cho sức mạnh của khí công. . . .khả năng hồi phục của nó quả là phi thường!. . . .
Băng. . . .băng khắp nơi. . . .Giữa sân chùa là một khối băng khổng lồ đang rỉ nước ra chung quanh. . . .Ngay đầu giường cũng còn băng đọng trong khe tường đá. . . . .Ngay đầu phòng nam chúng tôi ngụ là một cái nhà chứa đầy băng. . . .Chư tăng đục lỗ giữa khối băng để cất rau xanh và đồ ăn. . . . Hềhề. . .Như cái tủ lạnh khổng lồ!. . . . . Hơi lạnh bốc ra từ khắp nơi. . . .Trong phòng chúng tôi ở đều có xây lò sưởi. . . .Thế nhưng chẳng còn cái gì để đốt nên vẫn lạnh . . . . Được cái nhờ chư tăng cho mượn nhiều chăn mền nên cũng qua đêm được, không đến nỗi nào. . . . .Nửa đêm tôi giật mình thức dậy. . . không thấy Già Năm đâu. . . Tôi mặc thêm áo lạnh. . . mang giày. . .rồi ra ngoài tìm cụ. . . . .
Trên một khối băng khổng lồ trước chánh điện. . . .Già Năm đang nhận ân điển và thông công với chư vị thiêng liêng qua Đại Bi Thần Công. . .Đường quyền cụ già dũng mãnh bay bướm. . . khế ấn thay đổi trên đầu các ngón tay. . . thân pháp linh hoạt. . . .cái bóng cụ già in đậm nét trên nền trời Ngủ Đài Sơn giá rét. . . . .
Lạnh quá tôi phải thụ khí và nương điển quang của cụ để hành công. . . .Chung quanh như đang chết lịm trong cái lạnh âm 30 độ C. . . . . .Ánh sáng tán quang từ các khối băng lờ mờ. . . . mây bay trong bóng tối lờn vờn. . . . .gió gào lên từng hồi, rồi rít lên thảm thiết trên thảo nguyên mênh mông. . . . .Cụ già vẫn đang mải miết hành công. . . . .Chợt cụ thu công. . . rồi ngồi ngay trên khối băng khổng lồ mà vào định. . . . .Lạnh quá. . . .tôi đành đảnh lễ cụ rồi chạy vào phòng. . . . .Gần sáng Già Năm mới về phòng. . . .
- Này Ngọc Anh, người dẫn đường nói cái gì thế?
- Ông ta bảo chư tăng ở đây nói. . . .Từ đài Tây này mà đến đài Nam phải mất khoảng 60km đường rừng. . . .Trời lại đang lạnh. . .băng tuyết cản đường rất khó đi và nguy hiểm. . . .đi không nổi đâu. . . .nên ở lại đây. . .chờ băng tan hết, có xe hơi lên núi rồi theo mà về!. . .
- Cảm ơn chư tăng ni ở đây. . . .Nhưng chúng ta phải đi ngay. . . không thể ở lại được vì sẽ hết hạn thông hành.
- Nói với người dẫn đường chúng ta không ngại thể lực. . . . . Nhưng ông ta phải bảo đảm dẫn chúng ta đi tránh được các nơi có băng đang trượt nguy hiểm. . . . .
- Ông ta bảo là có thể được. . .nhưng phải đi vòng nên có thể hơi xa hơn dự kiến một chút. . . .
- Được, chúng ta lên đường đi. . . . .
Vì là đi xuống thấp dần nên đỡ mệt hơn hôm qua. . . .tốc độ đi cũng nhanh hơn rất nhiều. . . .Nắng mùa xuân lung linh nhảy múa trên đường chúng tôi đi. . . . .Tiếng cười tiếng nói như tiếng con tim đang đập rộn ràng trong lồng ngực. . . .Vượt qua những đỉnh cao, những sườn núi ngập tràn cỏ úa. . . . .Chúng tôi băng qua những cánh rừng Bạch Thiết Tùng lá xanh non mơn mởn, . . . .Xuyên qua những cánh rừng Lạc Diệp Tùng và Bạch Dương trụi lá. . . .có nơi mốc thếch. . .có nơi nâu sẫm. . .hoặc đỏ hung hung. . . . Băng tuyết đọng thành những khe những rãnh trắng toát trong những khu rừng thưa. . . . .Suối chảy róc rách lòn qua các mỏm đá già kỳ quặc. . . . .Diều hâu bay liệng trên bầu trời xanh ngắt. Quạ và sáo đen tán chuyện ồn ào trên các cành bạch dương trụi lá. Nhen sóc chuyền trong các bụi tầm xuân đang nở hoa. . . . và dười kia bò tuyết đang yên lặng gặm có trong các thung lũng ngập tràn màu xanh. . . . .
Lác đác đã thấy xa xa trên vách đá cheo leo mấy cái xóm nhà nhỏ xíu như tổ chim ri ẩn mình sau các gộp đá già hay các gốc cây dư thụ xù xì đầy rêu mốc. . . .Trên vách đá, đó đây hoa đào đang nở rộ, đỏ thắm. . . Còn dọc đường chúng tôi đi. . .Lê và tầm xuân. . .phun hoa trắng như tuyết. . . . Cảnh đẹp mê hồn. . . . .lòng chúng tôi thanh thản nhẹ nhàng. . . .Quay đầu nhìn lại. . . . .giờ đây đài Tây chỉ như môt cái chấm nhỏ xíu giữa trời xanh không một bóng mây. . . . . . .
Đến đúng trưa thì chúng tôi tới chùa Ổ Sư Tử trên đường đến đài Nam. . . . .Như vậy là trong buổi sáng này, nhờ chư Phật hộ chúng tôi đã đi được 30km để đến đây. . . . .Vì đã xuống thấp nên chúng tôi liên lạc được với công Ty Du Lịch bằng điện thoại di động. . . .
Thấy không cần thiết phải đi bộ nữa. . . .vì cảnh quan chỉ là ở đồng bằng chẳng có chi khác lạ. . . .Nên chúng tôi quyết định dùng xe hơi đi tiếp 30km nữa để lên đài Nam. . . .kết thúc chuyến du hành qua Ngũ Đài Sơn. . . . . Ổ Sư Tử. . . .Theo truyền thuyết đây là nơi con Sư Tử lông vàng ngụ và tác oai tác quái. . .Bồ Tát Văn Thù đã đến đây và thu phục nó. . . .
Vị tăng trụ trì ra tận bìa rừng để đưa chúng tôi vào đảnh lễ Như Lai và Bồ Tát Văn Thù. . . .Chúng tôi cũng leo lên tháp Vô Lượng Phật để đảnh lễ đức A Di Đà và thánh chúng. . . . .Tháp sừng sững giữa sân chùa, toàn bộ tượng và hoa văn đều làm bằng gốm sứ. . . .thật là một kiệt tác trong nghệ thuật Phật giáo. . . .!
Mô Phật. . . Lát nữa thôi. . . .Xe sẽ đến đón chúng tôi lên Đài Nam. . . .Rồi ngay tối hôm ấy đoàn sẽ đáp tàu về lại Việt Nam. . . .
Ôi!. . .Tôi cùng chư huynh đều nằm dài thoải mái trên thảo nguyên bao la. . . .Chúng tôi yên lặng không nói gì. . . .nhưng trong lòng ai nấy đều bồi hồi xúc động. . . .Tôi hít một hơi thật dài để cảm nhận cho hết cái mùi thảo nguyên. . . .cái mùi cỏ thơm nồng ngồng ngai ngái. . . .Cởi bớt áo và khăn quàng ra. . . .tôi để cái giá lạnh. . . .cái heo hút hoang vu, như kim châm vào da thịt mình. . .
Ôi!. . . .Tôi biết rồi đây. . .tôi sẽ nhớ cái cảm giác này biết bao. . . . .Nhớ cái mùi. . .nhớ cái hương. . . .nhớ cái cảm nhận. . . .nhớ cái ánh mắt. . . .nhớ cái nụ cười. . .nhớ những giọt mồ hôi. . . .và nhớ cả những giọt nước mắt khi quá khứ về gặp gỡ cái hiện nay. . . .
Ôi!. . .Tôi sẽ nhớ biết bao nhiêu cái tình người, tình đất, tình trời. . . . .và nhất là nhớ cái linh thiêng huyền diệu bất tư nghì mà tôi cứ ngỡ là trong mơ. . . . .
Ôi!. . .Chuyến hành hương tu học của chúng tôi đến đây tuy chưa kết thúc. . . .Nhưng ngay bây giờ đối với tôi nó đã là một đại kỳ tích. . . .Một đại kỷ niệm không thể nào phai trong cuộc đời tu học của mình!. . . . . .
Thôi!. . . .Chào Tây Tạng huyền bí xa xôi. . . .chào Samye. . . .chào Bạch Vân Cư Tự. . . . chào Zetang. . .chào Thanh Bộc Tu Hành động. . . . chào thảo nguyên bao la. . . .chào các đỉnh núi tuyết mờ xa. . . .chào trâu Yak. . . .chào pháp luân quay tròn. . . . chào những cái lạy nằm bẹp người xuống đất. . . .Chào chư vị lạt ma. . .chư vị nữ tu. . . chào những con người tâm linh nhân hậu. . . .
Thôi!. . . .Chào Thiên Đàn nơi Vua Cha Mẫu Mẹ và chư Thượng Tiên vẫn ngự. . . .chào miếu Khổng Tử. . .chào chư vị đại hiền triết phương Đông. . . .chào Ngũ Đài Sơn. . .anh linh thánh địa. . . .Chào chư tăng chư ni, dung dị bình thường mà thật lớn lao. . . .Chào thảo nguyên. . . .chào rừng tùng xanh và bạch dương trụi lá. . . . .chào bò tuyết. . . .chào những cái bánh bao cứng ngắc. . . .chào thau nước rửa nhiều người. . . . .chào những bước chân thành kính bền bỉ gian nan! . . .
Ôi!. . .Cuối cùng xin đảnh lễ Như Lai, Tổ sư Liên Hoa sanh và chư vị Đại Lạt Ma, bồ Tát Văn Thù, cùng chư Tổ người Tạng, người Trung và người Việt. . . .
Thưa chư vị. . . .Đêm nay chúng con xin quay về đất Mẹ!. . . . . .
(vemiendatphat.com)
Đoàn hành hương Về Miền Đất Phật đã về Việt Nam ngày 15/05/2007.
Sau đó, đoàn lại tiếp tục tổ chức chuyến đi thứ hai về Tây Tạng vào cuối tháng 08/2007.
Bài 8 - Đường về Kailash
Theo kế hoạch chúng tôi sẽ đi bằng xe hơi từ Hà Nội sang Trung Quốc qua cửa khẩu Hữu Nghị Quan. Từ Bằng Tường đi Quảng Châu bằng xe du lịch có giường nằm. Nghỉ tại Quảng châu 1 ngày chờ tàu, tham quan Dương Thành Bát Cảnh và sông Châu Giang. Hôm sau đáp tàu lửa cao tốc đi Lhasa. Nghỉ ở thủ đô Tây Tạng 2 ngày để cơ thể có thì giờ thích nghi với độ cao, không khí loãng và giá lạnh, nhằm tránh tai nạn khi leo lên các đỉnh cao của Sambala quanh năm đầy tuyết phủ...
Từ Lhasa theo đường núi, chúng tôi sẽ đến sát địa phận Sambala bằng xe Land Cruiser... Sau đó sẽ mướn thông dịch viên người Tạng nói được tiếng Anh, mướn thổ dân địa phương dẫn đường, mướn trâu Yak chở đồ...
Chúng tôi sẽ đi một vòng chung quanh Sambala để chiêm bái, đảnh lễ 4 vị Phật và Kim Cang trong Ngũ Trí Như Lai mà theo truyền thuyết hiện đang ngự ở bốn đỉnh núi chung quanh khu Sambala huyền thoại:
Bảo Sanh Như Lai và Quân Trà Lợi Kim Cang
A Di Đà Như Lai và Lục Túc Kim Cang
Bất không Thành Tựu Như Lai và Bất Động Tôn kim Cang
A Súc Phật và Hàng Tam Thế Kim Cang...
Vòng tròn lớn chung quanh Sambala sẽ đi như vậy trong 3 ngày 2 đêm... Ngày đi, đêm nghỉ trong lều cá nhân, ngay trên các đỉnh núi tuyết, gần hang động của Tổ Sư Milarepa, đạo tràng của Tổ sư Liên Hoa Sanh và hang động của Bồ tát Quan Âm. Từ trước đến nay, khách hành hương chiêm bái hoặc du lịch đi xa nhất cũng chỉ tới được đến đây mà thôi!...
Sau đó là giai đoạn nguy hiểm nhất, vì chúng tôi sẽ đi vào trung tâm của Sambala, ngang qua Tòa Án Lương Tâm của Tử Vương Lama, xuyên qua mandala hay đạo tràng của Ngũ Trí Như Lai và leo lên đỉnh núi tuyết Kailash cao 6.714m để nhận ân điển thiêng liêng và ấn lệnh của đức Đại Sư Cổ Phật Tỳ Lô Giá Na... Nơi đỉnh cao Nhất này là Trung Ương Đàn Tràng (Mandala) của Ngũ Trí Như Lai...
Đây là vùng Phật địa linh thiêng nhất của Mật Tông Tây Tạng và toàn thế giới, nên chư vị Hộ Pháp của tâm linh bảo vệ rất nghiêm mật. Hơn nữa, đường đi toàn băng tuyết bao phủ. Nhiệt độ âm dưới 30 độ C. Thường xuyên có bão tuyết và sụt lở băng. Không có đường đi và không có khách du lịch nào dám đi. Số lượng người trên thế giới leo lên được Kaliash hiện chỉ đếm trên đầu ngón tay. Hàng năm đều có nhiều nhà thám hiểm, nhà nghiên cứu hay tu sĩ tâm linh bỏ mạng tại nơi hiểm địa này...
Muốn vào Trung Ương đàn tràng của Ngũ Trí Như Lai tại Sambala, phải vượt qua các dãy núi có hình như các Kim Tự Tháp vĩ đại để đi vào thung lũng Tử Thần. Gọi là thung lũng Tử Thần bởi nó như một đại dương mênh mông đầy băng tuyết trắng xóa với cái lạnh chết người. Chung quanh thung lũng băng giá này, có các đỉnh núi tuyết có độ cong tự nhiên như cái gương lõm vĩ đại khiến ánh sáng phản chiếu của mặt trời và của các luồng điển quang đều hội tụ vào đây.
Nó khiến khách hành hương khi vượt qua cái cổng có hai hòn đá tự nhiên giống như hai con chó đá bốn mắt khổng lồ để đi vào bên trong đều phải qua phán xét của tòa án lương tâm... Đó chính là nơi Tử Vương Lama xét tâm của khách trước khi cho vào...
Demchhok- Vị Thầy tâm linh tối thượng của Mật Tông
Theo một số sách viết về thám hiểm du lịch và lời kể của các Lạt Ma cũng như khách hành hương, thì bất kỳ ai khi vượt qua hai con chó đá này sẽ bị năng lượng thiêng liêng tác động khiến tự nhiên lọt vào trạng thái vô thức. Khi ấy tâm thức y sẽ tự hiển thị mọi ý nghĩ và cảm xúc chân thật, cuốn phim cuộc đời người ấy sẽ tự quay ngược trở lại trong tâm thức để Tử Vương phán xét... Nếu người ấy là người xấu, người ác thì năng lượng sẽ đốt cháy y. Nếu người ấy là người bình thường không quá xấu, người ấy sẽ bị già đi rất nhiều. Và chỉ những người tâm không, phi tâm trí mới có thể tự gượng dậy đứng lên đi tiếp vào bên trong để thông công nhận ân điển thiêng liêng của đức giáo chủ Đại Sư Cổ Phật Tỳ Lô Giá Na (Vairocana bodhi) và ấn lệnh của Ngài... Bởi vậy trước ngày lên đường đi Tây Tạng. Chúng tôi được Già Năm gọi về Núi Vân trước nửa tháng, để hành thiền định nhằm trụ chắc vào trạng thái tâm không với nhận biết tỉnh giác, luyện mật pháp để dùng đại thủ ấn (Mahamudra) và linh phù (mantra) bảo vệ cơ thể, tập Thần Quyền và Phật Gia Quyền để đối phó với kẻ ác dương thế và rèn thể lực để đủ sức vượt qua mọi khó khăn nguy hiểm trên con đường tìm về miền đất Phật.
Không có đường đi vào trung tâm Mandala, không có người đẫn đường. Chỉ có các đỉnh núi tuyết cao ngất trời xanh, những hẻm núi gió lạnh ngày đêm gào lên hun hút, những vực sâu thăm thẳm, những trận bão tuyết mù trời, những vụ sụt lở băng khủng khiếp kinh hoàng và cái lạnh chết người đang chờ đón chúng tôi...
Khó khăn gian khổ là thế... Nhưng một lòng quyết tâm cầu đạo. Nên chúng tôi quyết định sẽ tự đi theo sự hướng dẫn của thiết bị định vị vệ tinh GPS... và theo sự cảm nhận tâm linh của Già Năm...
Ông Già Việt Nam này sẽ đi trước, giao điển quang với chư Thiên, tự buông xuôi cơ thể nương theo sự dẫn dắt của tâm linh, để giúp đoàn đi đúng hướng của thiết bị định vị chỉ dẫn mà không phải đi vòng vèo vừa mất sức vừa dễ gặp nguy hiểm do gặp các hẻm núi và vực sâu tự nhiên...
Thông dịch viên cũng như người thổ dân cùng trâu Yak sẽ đóng trại ở vòng ngoài để chờ, chứ không chịu đi theo vì lý do tâm linh và vì sợ nguy hiểm... dù chúng tôi đã đề nghị trả giá thật cao...
Vì Bồ Đề tâm và có niềm tin vững chắc vào Phật lực nhiệm mầu gia trì bảo hộ. Chúng tôi cương quyết sẽ leo lên được Kailash để đảnh lễ đức Phật Tỳ Lô Giá Na... giáo chủ của Mật tông đại thừa toàn thế giới... Già Năm tâm thành, cầu nguyện xin ơn trên thông công qua ân điển thiêng liêng, khiến nhận được ấn lệnh của Đức Đại Sư Cổ Phật Tỳ Lô Giá Na để có thể tu học và truyền bá chánh pháp của Mật tông Đại Thừa cho các bạn đồng tu ở quê nhà.
Đêm hôm qua trời mưa nhiều.
Sáng nay bình minh vừa lên, sương mù bao phủ khắp nơi nơi... Núi Vân, hồ Văn Sơn, Quán gió, nhà sàn, suối Cạn và rừng bạch mai mờ ảo, lềnh bềnh, khi có khi không. Tất cả như đang cùng trôi về một miền cổ tích nào đấy xa lắc xa lơ...
Chim cuốc gọi bạn thiết tha trong hàng tre gai rậm rì bên hồ. Trên những ngọn bạch đàn đu đưa trong gió sớm, cò và giang cánh xám đang ngủ gà ngủ gật. Chim ri từng đàn líu ríu sà xuống bãi cỏ tìm mồi.
Mấy con nhen con sóc vừa giật đuôi từng chặp vừa kêu chộc chộc, thoắt ẩn thoắt hiện trong các động đá tranh tối tranh sáng... chúng đang ăn cắp trái cây trên bàn thờ... Tụi cá chép táp móng và quẩy đuôi liên tục trong ao sen trước nhà Tổ, chúng đang đợi Già Năm cho ăn... Mấy con dơi chuột thả mình treo toòng teng ở đầu hồi nhà, thỉnh thoảng chúng lại nhả xuống đất một cái hạt nhãn vừa gặm xong còn in rõ dấu răng... Con Mực nằm phơi nắng trước tượng Bác Tư Rượu Đế, chắc nó mơ về một cục xương thật to, nên thỉnh thoảng lại liếm mép... Con Miêu thì lại đang chạy tung tăng trong bãi cỏ còn ngậm sương đêm để cố bắt cho được mấy con bướm vàng đang la cà bên những vạt hoa cỏ hôi nở trắng toát lấm tấm bụi vàng...
Trong nhà sàn chư huynh đang chuẩn bị hành lý cho chuyến đi dài ngày về Sambala...
- Này nhớ đem theo trại, túi ngủ, để qua đêm ngoài trời.
- Đã đem đủ đồ lạnh chưa? Giày đi tuyết, kính đen bảo vệ mắt?
- Camera, máy chụp hình kỹ thuật số, máy ghi âm, vi tính xách tay, acqui khô, thiết bị định vị vệ tinh, bản đồ...
- Còn cái gì thế kia?
- Bộ đàm để tiện liên lạc, vì những nơi ấy không thể dùng điện thoại di động được...
- Áo đi mưa, đèn Pin, dao găm, dây leo, dây nịt, móc sắt... thuốc cấp cứu, cầm máu trợ tim...v.v...
- Có đủ rồi...
- Đồ hộp và thức ăn đủ dùng cho 7 ngày trên núi tuyết?
- Còn túi này đựng thứ gì mà lỉnh kỉnh vậy...?
- À, thứ quan trọng nhất không thể thiếu được?
- !...
Già năm mỉm cười đôn hậu:
- À, Gói này là trà Thái Nguyên loại 1, kia là bếp ga mini, bộ ấm chén, và mấy cái đĩa nhạc Việt Nam... Hề hề... Khi lên được đỉnh Kailash linh thiêng nhất của Mật tông Tây Tạng và toàn thế giới. Chư huynh sẽ quay về phía quê hương. Nhận ân điển thiêng liêng. Phụng thỉnh chư vị thần linh người Việt ứng điển nhập thân Uống trà Thái Nguyên. Nghe nhạc Trịnh Công Sơn. Múa Dịch cân kinh. Tập võ Bình Định và luyện huyền công của Nội Đạo Pháp Tràng. Dùng Vạn Pháp Qui Tôn và Đại Thủ Ấn để giao lưu thông công đồng cảm cùng chư Thần linh người Tạng đang ngự ở nơi linh thiêng này.
Mô phật, sau đó ta sẽ nhận ân điển thiêng liêng của Ngũ Trí Như Lai làm lễ Quán Đảnh cho những vị huynh nào chưa thọ lễ này ở Việt Nam hay Thanh Bộc Tu Hành Động trong đợt hành hương về Tây Tạng lần trước...
***
8 giờ, Già Năm và chư huynh đi cùng, lên xe về Hà Nội... Uống cà phê và ăn nhẹ tại quán Capucino. Mọi người tập trung ở đây rất đông để đưa tiễn... hàn huyên tâm sự và dặn dò... vui như tết, nhưng trong ánh mắt mọi người không dấu nổi nét lo âu về một chuyến đi quá vất vả và nguy hiểm:
- Nè, bộ lạ lắm sao mà nhìn chúng tớ kỹ thế?
- Không phải tại đẹp trai đâu!... Nghe nói đi vào đấy nếu tâm thức không ổn sẽ bị chết hay già đi đấy... Bây giờ ra đi là một cụ già và mấy người trẻ. Biết đâu khi về toàn là cụ già thì sao. Bởi vậy chúng tớ phải nhìn các huynh cho kỹ để khi ấy còn biết là người của mình mà ra đón chứ.
- Yên chí đi, Già Năm đã chỉ cho mấy đứa này một tuyệt chiêu để không bị vậy.
- Chiêu gì thế?
- Chúng tớ và Già Năm đều sẽ nhận ân điển thiêng liêng, cho Mẹ và chư vị Thần linh người Việt mượn xác để nói, làm,và đi qua cửa ải ấy thì dù có Tử Vương Lama, phán xét xong cũng không thể bắt bọn tớ chết hay già đi được. Vì lúc ấy biết thằng nào mà bắt... Hềhề... Bên trong là anh linh của một vị Thiên, bên ngoài là xác tớ... Như vậy tớ là một thể hỗn hợp bất khả phân gọi là Bodhi-sattva thì 2 thằng cùng ở trong một thể... biết bắt thằng nào... Dùng dằng thì rồi cuối cùng cũng phải cho bọn tớ qua cửa thôi...
- Cho dù là thật thế đi nữa... thì chư huynh phải luôn thường trụ khí, nếu không đã có án rồi, bất kỳ lúc nào chư huynh mất điển thì bị bắt ngay đấy...
- Đúng đấy, vì sợ chết chúng tớ nhất định sẽ sống trong chánh niệm và tỉnh giác để tâm không rối loạn, do vậy mà thường trú điển quang. Già Năm nói rằng thường trú điển quang, chính là thường trụ tam bảo, hay thường tịch quang cũng vậy...
- Mô Phật, cầu ơn trên gia hộ để chư huynh làm được vậy.
- Nếu các cô gia hộ thì chúng tớ sẽ làm được vậy.
- Tại sao thế?
- Các cô là nữ, xinh đẹp như vậy, mà cứ tiếp cận nói cười không giữ ý... thì chúng ta làm sao giữ định được chứ?
- Mô Phật, xin cảm tạ công đức chư huynh đã chỉ giáo... Xin sám hối cùng đức A Xà Lê... Chúng đệ tử nguyện nghiêm trì giới luật của Như Lai.
(vemiendatphat.com)
Bài 8 - Đường về Kailash (tiếp theo)
1 giờ chiều, Già Năm và chúng tôi lên xe về cửa khẩu Hửu Nghị Quan... Khi qua Lường Mẹt trời tự dưng đổ mưa như trút nước... Núi đá, rừng cây, đồi cao, lũng hẹp, như từ một cõi xa xăm nào đấy mọc lên rồi vụt đứng dậy nô đùa trong màn mưa trắng đục...
- Này nhìn cho kỹ đi, cây cau, cây mít, cây na, bụi chuối, giàn trầu không, ruộng lúa nước, con trâu, con bò Việt nam... Những thứ ấy rồi chẳng thấy được trên đất Tây Tạng đâu. Lần trước đi rồi tớ biết nơi ấy chỉ có núi tuyết cao tít trời xanh và thảo nguyên mênh mông cỏ là cỏ... chẳng có món ăn Việt Nam, chẳng gặp một người Việt nào... Chỉ đi có một tháng nhưng rất nhớ nhà và nhớ quê hương...
Xe đi qua Cai Kinh đến ải Chi Lăng...Hình khe, thế núi chập chùng, mơ hồ trong gió mưa vần vũ có tiếng ngựa hý quân reo, tiếng thét xung trận của một thời oai hùng của tiền nhân...
Thủ tục qua cửa khẩu rất nhanh, nhưng trời mưa to nên không thể qua phía bạn được... Ngồi trong nhà chờ, mọi người đi tiễn yên lặng không nói gì. Ai cũng thấy trong lòng bùi ngùi thương cho Già Năm và chư huynh đường xa gian khổ...
Thế rồi mưa tạnh, chúng tôi đi vào đất bạn, vượt qua cửa khẩu Hữu Nghị Quan, bắt đầu chuyến hành hương tu học về Sambala miền đất linh thiêng huyền thoại của Mật Tông Tây Tạng và toàn thế giới...
Vì lần này tự đi, không nhờ công ty du lịch và không có hướng dẫn viên du lịch nào từ đây cho tới Lhasa nên chúng tôi phải tự thân vận động... Vui ra phết, dân Trung Quốc ít người biết tiếng Anh, chúng tôi lại không biết tiếng Trung, nên đành phải dùng ngôn ngữ quốc tế... đó là vừa tiếng Anh, vừa tiếng Trung, vừa tiếng Việt, vừa ra dấu bằng tay và động tác... cười thoải mái... chỉ qua chỏ lại... cuối cùng rồi cũng có cái ăn... cũng lên xe, cũng gửi hành lý... cũng mua sim điện thoại... cũng vào khách sạn nghỉ và uống trà Thiết Quan Âm, cũng đi mua sắm các vật dụng cần thiết... và cuối cùng cũng đem được đống hành lý vĩ đại lên được tàu cao tốc.
Chúng tôi đi khoang giường nằm loại 4 giường rất xịn, nhưng chỉ có 3 người, thành thử dư một giường chất đồ thoải mái... Đúng là ơn trên đã sắp đặt đâu vào đấy.
Khi mọi thứ đã xong, đã nghỉ ngơi hồi phục sức. Chúng tôi pha một bình trà... mời Già Năm cùng uống cho vui nhân tiện trình bày kế hoạch chi tiết với người:
- Thưa cụ đây là bản đồ vùng Sambala và núi Kailash... Kailash được Phật tử xem như núi Tu Di, Ấn Giáo xem nó như núi Mêru, còn dân Tạng thì xem nó như là nơi giáo chủ đạo Bon từ trên trời xuống để truyền đạo. Theo truyền thuyết giáo chủ đạo Bon của Tây Tạng vốn là một vị Thiên ở trên trời... Một hôm ngài đuổi theo một con quỷ ăn cắp ngựa của ngài và đã đến đỉnh núi này. Nhân tiện ngài đã truyền đạo Bon ở đây...
Thưa cụ từ Lhasa chúng ta sẽ thuê xe 4WD Land Cruiser để leo lên núi theo đường đèo đến Darchen. Ở đây có một nhà nghỉ nhỏ. Ta sẽ nghỉ và để đồ cồng kềnh tại đây...
Trước khi đến Darchen còn khoảng 20km có hai cái hồ nước ngọt rất đẹp. Hồ lớn hơn tên là Manasarovar còn gọi là hồ Thiện, cao 4.560m so với mặt nước biển, là hồ nước ngọt cao nhất thế giới. Đây là trú xứ của Thánh Nữ Dorge Phangmo, người phối ngẫu của Demchhok. Còn Demchhok là một hóa thân của Đức Tỳ Lô Giá Na Phật (Vairocanabodhi) có trú xứ là núi Kailash.
Như vậy Demchhok và Dorge Phangmo tượng trưng cho chủng tử âm và dương đầu tiên tạo ra đất trời và vạn pháp. Và đối với mật tông Tây Tạng thì Núi Kailash và hồ Manasarovar là hai biểu tượng của tình yêu tối thượng. Nó thật sự là Linga và Yoni của trời đất đang hợp nhất ở Sambala tại đạo tràng của Ngũ Trí Như lai.
Linh tượng Demchhok một tay cầm tầm sét tượng trưng cho năng lượng vũ trụ. Một tay cầm xâu đầu lâu tượng trưng cho “cái chết của tâm trí”. Phải chăng nó là thông điệp của thiêng liêng nhắc nhở chúng ta rằng muốn thăng hoa chuyển hóa tâm thức để thực chứng giác ngộ cần phải nhận điển quang của vô vi trong trạng thái vô ngã phi tâm trí của thiền.
Demchhok dịch ra tiếng Trung Quốc có nghĩa là: Thiên Địa Lôi.
Demchhok- Vị Thầy tâm linh tối thượng của Mật Tông
Giữa hồ Manasarovar có 7 hàng cây, ở giữa có một cây rất lớn cao hơn hẳn. Từ cái cây ấy quả của nó rụng xuống hồ phát ra tiếng kêu: “Jam”... “Jam”... do vậy chung quanh khu vực này có tên là “Jambu-ling”. Chung quanh hồ Manasarovar có 8 tu viện. Và thường người hành hương đến đây bao giờ cũng đi 3 vòng quanh hồ và 3 vòng quanh núi Kailash. Ai đi được một vòng sẽ giải nghiệp được một đời và theo thông lệ những ai đi chung quanh Sambala được 12 vòng mới được phép đi vòng trong để tới sát chân núi Kailash.
Còn hồ kia nhỏ và thấp hơn, tên là Rasahs tức là hồ ác. Và là nơi trú xứ của Quỉ.
Thưa cụ, tại Darchen chúng ta sẽ thuê thông dịch viên người Tạng biết tiếng Anh hay tiếng Nga, thuê thổ dân dẫn đường và thuê trâu Yak để chở đồ.
Chúng ta sẽ đi bộ một vòng chung quanh Sambala để nghiên cứu khảo sát, chiêm bái và đảnh lễ chư Phật, chư Bồ Tát và Dakini. Dự kiến nếu không có gì trở ngại chúng ta sẽ đi trong 3 ngày 2 đêm. Ban đêm chúng ta sẽ dựng trại ngủ ngoài trời. Đêm thứ nhất chúng ta sẽ ngủ tại sân tu viện Dira Phuk. Trong Mandala này thì đây là nơi đức A Di Đà và Lục Túc Kim cang đang ngự. Từ đây có thể nhìn toàn cảnh Sambala và thấy được Kailash mà không bị sương mù hay tuyết che phủ... Chúng ta sẽ nhận ân điển thiêng liêng và luyện công tại đây... Đêm thứ hai chúng ta cũng sẽ ngủ trong lều tại sân tu viện Zutrul Phuk. Trong Mandala của Ngũ Trí Như lai, thì đây là nơi Đức A Súc Phật và Hàng Tam Thế kim cang đang ngự. Chúng ta cũng sẽ luyện công tại đây. Theo như cụ đã dặn thì 2 đêm luyện công này sẽ quyết định việc chúng ta có lên được Kailash để đảnh lễ Đức Tỳ Lô Giá Na Phật thông công và nhận ấn lệnh hay không.
Thưa cụ còn đường đi của Kora (vòng tâm linh) này dự kiến sẽ như sau:
Từ Darchen chúng ta sẽ đến Tarboche, đây là nơi đức Thích Ca Mâu Ni Phật đã thuyết pháp cho 500 vị Bồ Tát và La Hán. Tại đây cũng có nghĩa địa chôn cất thi hài của 84 vị đại Lạt Ma học trò của tổ sư Liên Hoa Sanh.
Từ Darchen dọc theo con sông Lha Chu ở phía bờ bên phải chúng ta sẽ đến tham quan lễ bái tu viện Chuku. Tu viện ở phía bên kia bờ sông do vậy phải qua một cái cầu.
Rời Chuku chúng ta lại trở sang bờ bên phải sông Lha Chu đi tiếp để đến nơi lăng mộ của Tổ sư Liên Hoa Sanh, đó là một dãy núi đá vĩ đại cao hơn 5.656 m.
Đi tiếp theo vòng tròn tâm linh Kora chung quanh Sambala chúng ta sẽ đến nơi có dấu chân của Tổ Sư Milarepa còn in trên đá... đến Damding DonKhang và dự kiến đến tối sẽ đến được tu viện Dira Phuk và chúng ra sẽ ngủ đêm ở đây.
Sáng hôm sau là một ngày quan trọng, vì ta sẽ phải qua cửa ải của tử vương Lama, nơi có hai con chó đá bốn mắt.
Có 2 đường từ đây vào thung lũng đầy băng tuyết rất đẹp và hùng vĩ. Đường thứ nhất nằm giữa hai dãy núi. Núi bên phải có 2 ngọn là ngọn của Kim Cang Tát Đỏa và ngọn của Tổ Liên Hoa Sanh cao 5.750m. Núi bên trái là núi Quan Âm cao 5.675m.
Đường thứ hai là đường dẫn đến thung lũng Tử Thần của Tử Vương Lama. Đây là con đường độc đạo duy nhất phải vượt qua. Nó sẽ dẫn đến nơi có 2 con chó đá và Tòa Án lương tâm của Tử Vương. Phía sau hai con chó đá là cái gương lõm vĩ đại bằng băng tuyết ngày đêm đang hội tụ về đây những luồng năng lượng kỳ bí, khiến có thể làm chết người mà cũng có thể tạo ra sự chuyển hóa về phía giác ngộ. Đường dẫn đến thung lũng Tử Thần nằm giữa hai dãy núi. Phía bên phải là núi Quan Âm, phía bên trái là núi Văn Thù cao 5.835m.
Gương lõm tại thung lũng Tử Thần này mật tông Tây Tạng gọi là Pháp Vương Tử, nghĩa là người gồm thu vạn pháp của trời đất. Năng lượng phản chiếu từ gương lõm này làm khách hành hương tự nhiên quay ngược chiều tâm trí của mình. Để sau đó Tử Vương Lama làm chết đi tâm trí. Bởi vậy đây là phương tiện thiện xảo của Như Lai khiến người tu hồi quang phản chiếu, phản quang tự kỷ, dụng tâm quán tâm, để cuối cùng “tri vọng vọng liền tan”khiến đạt trạng thái tâm không của thiền.
Thưa cụ, sau khi rời thung lũng Tử Thần chúng ta phải đi qua một điểm nguy hiểm khác, đó là đèo Drolama. Đây là nơi Mẹ Tara màu xanh trấn giữ, cực kỳ nguy hiểm với độ cao 5.650m, không khí loãng, áp suất thấp, đèo đi giữa những đỉnh núi tuyết cao ngất trời, với những trận bão tuyết kinh hoàng và sụt lở băng khủng khiếp thường xảy ra tại đây. Rất nhiều khách hành hương hay nhà thám hiểm đã bỏ mạng tại nơi này. Trong Mandala của Ngũ Trí Như Lai ở Sambala. Nếu thung lũng Tử Thần của Tử Vương Lama là nơi tượng trưng cho “Cái Tôi tâm trí” phải chết, thì đèo Drolama của Mẹ Tara là nơi tượng trưng cho “Con người thật” được phục sinh... Bởi vậy nếu người tu đã nhận được ân điển thiêng liêng, được chư vị ứng điển nhập thân bảo vệ cơ thể, thì có thể đi qua hai nơi này. Qua đèo Drolama tượng trưng cho “Ngộ” hay Satori. Và đoạn đường hành hương còn lại qua Bất Không Thành Tựu Như Lai, qua A Súc Phật, hang và địa huyệt của Tổ sư Minarepa và cuối cùng đến được Kailash, tượng trưng cho trạng thái “Vô Ngã” (Anatta) của Phật đạo hay còn gọi là ‘Giác”.
Qua khỏi đèo, tuột xuống một dốc đá nguy hiểm thì tới hồ Đại Bi, đây là một cái hồ cực đẹp nước trong suốt, xanh thẫm đến lạ kỳ. Theo Ấn giáo thì đây là nơi Mẹ Saravatti vợ của Vua Cha Brahma thường đến tắm. Phía bên phải đường đi trên các dãy núi tuyết, khách hành hương sẽ thấy “Chiếc rìu nghiệp lực”. Tuy nhiên nhìn vào nó là điều cấm kỵ vì nghiệp lực từ vô lượng kiếp sẽ dồn về để rìu nghiệp lực chặt đi. Bởi vậy mà thường tai nạn hoặc cơ thể sẽ bị tổn thương nghiêm trọng...
Thưa cụ, nếu chúng ta được ơn trên gia trì an toàn khỏe mạnh đi được đến đây, thì chúng ta sẽ đi tiếp để tới hang động của Tổ Sư Milarepa đã tu chứng. Tại đây có một tu viện nhỏ nằm trùm lên cửa hang... Tu viện hiện còn giữ nhiều kinh điển và mật pháp của Như Lai cùng chư Tổ... Theo truyền thuyết thì hang động của Tổ Sư Milarepa, hiện vẫn còn người của Thành Thiên Đế là những người đã chứng pháp ẩn tu giữ xác qua rất nhiều đời nhiều kiếp dưới địa huyệt này...
Thưa cụ, sau đó chúng ta sẽ men theo dòng sông Zhong Chu để về lại điểm xuất phát ban đầu. Chúng ta sẽ qua một thung lũng rất đẹp trước khi về tới Darchen.
Chúng ta sẽ nghỉ tại Darchen một hôm để hồi phục. Sau đấy sẽ tự đi vào trung ương đàn tràng Sambala và leo lên núi Kailash... đến tận nơi cao nhất để nhận ân điển thiêng liêng, thông công cùng Ngũ Trí Như Lai và nhận ấn lệnh của người.
Từ xưa đến nay rất ít người vào được Trung Ương Đàn Tràng của Đức Vairocana Bodhi, nên lên Kailash chẳng có đường đi. Tuyết rơi và gió thổi mạnh đã làm mòn mọi dấu vết. Thổ dân người Tạng lại chẳng chịu dẫn đường vào nơi linh thiêng ấy vì lý do tâm linh và vì sợ nguy hiểm. Nên chúng ta sẽ tự đi theo sự hướng dẫn của thiết bị định vị vệ tinh GPS và sẽ dùng bộ đàm liên lạc nhau phòng khi bị bão tuyết không đi lạc.
Nếu chúng ta thành công lên được Kailash, tới được trung ương đàn tràng của Sambala huyền thoại thì thật là hạnh phúc. Vì từ xưa tới nay số người trên thế giới đến được đây đều là những nhà tâm linh vĩ đại và số lượng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Còn người Việt ta, thì đây là lần đầu tiên có người đến được nguồn cội tâm linh của mọi tôn giáo trên thế giới. Điểm giao tiếp giữa trần gian và Thần Thánh...
Thưa cụ sau đó chúng ta nghỉ ở Darchen một ngày để hồi phục. Rồi sẽ lên đường đi tiếp về phía tây đi về hướng Kashmir để đến thị trấn Zanda nơi có phế tích Tsaparang thuộc vương quốc Guge, vương quốc cổ của Tây Tạng do quốc vương Guge người tôn sùng đạo Phật thành lập. Đây là nơi Đức A Tỳ Sa được Vua Guge mời từ Ấn Độ sang để chấn hưng Phật đạo sau khi các vị vua theo đạo Bon đã làm nó lu mờ đi.
Như vậy, ở Tây Tạng Tổ Sư Liên Hoa Sanh là người đầu tiên đưa Phật giáo vào thay cho đạo Bon, và sau một thời gian dài hưng thịnh, nó đã suy tàn với sự phục hồi của đạo Bon. Và Tổ sư A Tỳ Sa là người thứ nhì đã chấn hưng Phật đạo cho tới ngày nay. Đây là nơi được mệnh danh là thành phố của những hang động... rất nhiều tu viện thuộc loại cổ nhất của Tây Tạng với những bức tranh tường và tượng điêu khắc thuộc loại kiệt tác thế giới. Chúng ta sẽ ở lại đây ít hôm để chụp hình ghi âm, ký họa, quay camera và nhận điển luyện công tại các hang động này... .
Cụ già nghe xong mỉm cười yên lặng, từ tốn nâng ly trà lên uống cạn, rồi nói với chư huynh:
- Mô Phật, đó là những thông tin mà chư huynh đã thu lượm được. Còn ta nếu may được ơn trên gia trì bảo hộ tới được những nơi ấy, ta sẽ có những cảm nhận về tâm linh của riêng mình...
Thôi, thế là mọi sự đã chuẩn bị xong. 11 giờ đêm này tàu sẽ tới Lhasa. Bây giờ chúng ta hãy cùng luyện công để chuẩn bị thân tâm cho những ngày hành hương sắp tới...
***
Chúng tôi ngồi ngay trên giường trong toa xe lửa để luyện công... Bên ngoài thảo nguyên mênh mông lên màu xanh lá mới ... Các đỉnh núi, tuyết phủ trắng xóa, lộng lẫy dưới ánh mặt trời và in nét hoang sơ lãng mạn lên nền trời màu xanh lục...
Một đàn chim thiên di đang đập cánh bay về phía tây, phía của Sambala huyền thoại và Kailash linh thiêng...
Con tàu đang đi dần vào mây và sương khói... Chung quanh lặng yên. Tôi nghe như tiếng con tim mình đang đập bồi hồi rộn rã trong lồng ngực...
Như Lai ơi!... Mẹ ơi!... Chư Tổ linh thiêng và chư Thánh thần... Chúng con đã về đây... về tới nơi rồi đây!...
(vemiendatphat.com)
Bài 9 - Hoàng hôn trên Potala
Hoàng hôn màu ghi nhạt. Gió từ các đỉnh núi tuyết tràn về phảng phất mùi cỏ mới và vị cay cay của chồi non thanh liễu.
Hắn đi một mình quanh cung Potala. Du khách đã về hết, mà đèn đường còn chưa bật. Đây là giờ của hắn. Thời khắc mà Potala chuyển từ thể xác sang phần hồn. Hắn cũng vậy, chẳng phải hắn đi, mà con tim đơn côi của hắn đang lang thang trong hoàng hôn xứ Tạng.
Màu nâu sậm của cung Potala như nét chổi u buồn quét lên nền trời thương nhớ. Còn màu vàng đất lại như màu của cái chết lặng yên. Cung điện như mệt mỏi, như chán lắm rồi, với những sự đời nhố nhăng. Tựa lưng vào núi đá, nó như đang thở dài buồn bã.
Ôi! Nó muốn nắm xuống nghỉ ngơi với đất ngàn đời.
Màu trắng đục của những bức tường bằng đá núi, làm Potala nhòe đi trong bóng chiều, nó như không có chân... Ôi! Nó đang buông xuôi cùng cực. Nó đang lênh đênh cùng mây chiều và gió núi. Cung điện với muôn ngàn linh tượng, vô số bảo vật bằng vàng, vô số bảo tháp và tranh tường, giây phút lặng yên này chỉ như cái vỏ rỗng tuếch, mệt mỏi, nằm xuống nghỉ ngơi và cùng trôi với bóng hoàng hôn xứ Tạng về một cõi nào đấy xa lắc xa lơ.
Hắn thở dài buồn bã nhìn về phía Potala... Hắn thương biết mấy! Potala như người yêu tâm linh, như Nhóc Con của hắn, mơ hồ lẩn quất chung quanh mà chẳng thể được gần.
Ôi! Hắn muốn giang rộng vòng tay yêu thương, ôm trọn Potala vào lòng, đem Potala đến một nơi chẳng có loài người!
Hắn đứng đấy lặng im, nhìn về phía cung điện, nhìn về phía nhà của chư Phật và chư Tổ. Hoàng hôn long lanh trên tóc và ướt đầm vai áo mà hắn vẫn đứng đấy như đá núi, lòng đầy thương cảm.
Mơ hồ trong sương khói, hắn như nhìn thấy muôn vạn linh hồn bước ra từ những bức tường đá lạnh ngắt. Họ ngồi đấy, yên lặng buồn bã trên những mái cong của Potala, trên đầu các kinh luân lạnh giá, trên các ngọn tháp và các bức tường đá rêu phong đầy chim sáo đen đang co ro trong giá lạnh .
Gió chiều thổi tạt. Có tiếng quạ kêu buồn bã trên những ngọn tháp màu vàng. Một bà già người Tạng đang hướng về phía Potala, lạy và nằm bẹp người xuống đất.
Hoàng hôn trên Potala
Hoàng hôn và sương chiều lãng đãng, bóng bà già nằm trên hè phố, như sự buông xuôi cùng cực, như sự nghỉ ngơi của thể xác với đất mẹ ngàn đời để giây phút ấy linh hồn có cơ hội bước ra giao lưu, thông công và hợp nhất với cội nguồn của lặng im...
Hắn cũng vậy, từ hôm Nhóc Con của hắn về với hư không. Hắn thấy mình như bị hẫng. Thể xác hắn rỗng không, như cái vỏ khô đét bên trong chẳng có gì. Toàn bộ cái bên trong, cái phần hồn nàng đã mang đi cả rồi. Như giọt nước rớt vào lòng đại dương. Cái linh hồn bé bỏng ấy chắc đã hợp nhất với linh hồn của đại vũ trụ.
Nhóc Con của hắn đã mất... mất thật rồi... thế nhưng con tim yêu thương của hắn lại thấy nàng ở khắp mọi nơi.
Kìa... nàng đang ở đỉnh núi tuyết nhoẻn miệng cười với hắn.
Nàng đang ở thảo nguyên mênh mông tràn sóng cỏ. Đang ở trong sương chiều và gió lạnh. Đang âm thầm lẩn quất chung quanh trong bóng hoàng hôn. Đang cùng các linh hồn của Potala hát ca và nhảy múa.
Kìa nàng đưa tay ra vẫy hắn... Những linh hồn của Potala cũng đưa tay vẫy hắn... Nàng ở giữa đang uốn éo múa may, những người khác ở chung quanh vừa vỗ tay vừa lắc người hoang dại...
Ôi! Trong gió chiều hắn nghe như có tiếng nhạc buồn buồn mênh mang trên đồng cỏ, tiếng băng đang tan trên đầu các đỉnh núi tít mù xa, tiếng nước chảy ào ào của những dòng sông sâu hun hút, tiếng gió gào trên thảo nguyên mênh mông, tiếng thở phì phì của trâu Yak, tiếng vó ngựa chạy lẫn với tiếng tạng ngao sủa ông ổng, tiếng kinh luân quay tròn, tiếng cầu kinh đều đều buồn bã, tiếng thở mệt nhọc với tiếng bánh xe lôi lăn chầm chậm trên những con đường đá quạnh hiu, tiếng quét rác trên đường, tiếng trẻ ăn xin... và tiếng gì như tiếng đập bồi hồi của con tim cô đơn trong lồng ngực của hắn...
Thế rồi tự nhiên hắn khóc âm thầm... cơ thể hắn từ từ chuyển động... Hắn múa với nàng... hắn hát với nàng... hắn nô đùa với các linh hồn Potala.
Ôi! Hắn cùng nàng với muôn vạn linh hồn xứ Tạng, đang múa may, đang đạp trên cung điện với muôn vàn bảo vật, đạp trên các cầu thang gỗ nhẵn thín đầy dấu tay người, đạp trên các căn phòng tối nhờ nhờ lập lòe ánh đèn mỡ trâu, đạp trên những con đường lát đá lặng im, đạp trên những căn phòng chứa đầy các bức tượng vô tri, đạp trên những trò nhố nhăng, đạp trên cái tôn giáo trưng bày chạy nhảy... Haha...ha... Linh hồn hắn và muôn vạn linh hồn của Potala đang nhảy múa, đang đạp trên mọi cái nhơ bẩn của tâm trí đời thường.…
Chợt hắn nghe có tiếng nói trầm trầm sau lưng: - Mô Phật, trời đã tối rồi. Con nên thu khí rồi về kẻo lạnh.
Các linh ảnh ở Potala chợt biến mất.
Già Năm áp một bàn tay vào sau lưng hắn, tại đại huyệt Linh Đài Thần Đạo. Giọng cụ già âm vang trong gió chiều lạnh lẽo:
- Ơn trên tiếp điển giúp con giải tỏa stress về tâm linh. Tuy việc đã qua rồi. Nhưng các cảm thọ chìm sâu dưới đáy tâm hồn phải dùng đại thủ ấn từ từ mới rửa sạch được. Trong đợt hành hương này tùy nơi tùy lúc con sẽ được ơn trên tiếp điển để dần dần thực chứng trạng thái tâm không của thiền.
Thu khí về đan điền tinh Khí Hải, trụ vào hơi thở tỉnh giác, hắn bắt đầu tiến vào thiền định.
Cụ già rụt tay lại mỉm cười: - Bây giờ con hãy đi một mình, ta chẳng giúp gì được nữa rồi.…
Hắn đã ngồi như thế thật lâu, trên hè phố, mặt hướng về phía Potala. Nước mắt còn chưa khô trên má, nhưng mặt hắn hình như đang phảng phất nụ cười.
Đèn đường đã bật sáng từ lâu... Chung quanh hắn nhiều người Tạng vẫn đang hướng về Potala cầu kinh và lễ lạy.
Xả thiền đứng lên, nhận ân điển thiêng liêng, hắn chấp tay nương điển quang để đảnh lễ Như Lai cùng chư Tổ.
Như có một năng lực vô hình điều khiển, cơ thể hắn cũng tự lạy nằm bẹp người xuống đất.
Ôi! Trong gió cao nguyên lạnh ngắt, trong sương đêm mờ mịt, trong ánh đèn vàng vọt hắt hiu và trong tiếng cầu kinh đều đều buồn bã. Hắn và những người Tạng kia vẫn đang lạy nằm bẹp người xuống đất.
(vemiendatphat.com)
Bài 10 – Tu viện Sera
Trung tâm Lhasa có một khách sạn bụi đời. Thế nhưng lại rất đông người nước ngoài ở. Tôi nghĩ chắc cũng như chúng tôi, họ cũng thích cái không khí tự do, rất bụi. Thêm vào đó giá lại rất mềm.
Nó có tên tiếng Anh và tiếng Tạng, nhưng chúng tôi cứ gọi thế. .
Sàn nhà bằng gỗ mộc. Cầu thang cũng bằng gỗ sơ sài. Cửa phòng ăn chỉ là miếng vải, khi đóng chỉ cần cột mấy sợi dây kẽm. Internet không dây miễn phí. Tường đầy những câu viết ngẫu hứng và những hình vẽ nguệch ngoạc của khách. Bàn ghế làm bằng những miếng gỗ còn nguyên vỏ. Dây ngũ sắc treo tòn ten, vải trải bàn hoang dại, chẳng theo qui cách gì. Mấy cái tranh tường vẽ tùy hứng nham nhở dí dỏm và thật buồn cười.
Một cài đàn ghita vứt đấy, bên cạnh là mấy cái toan căng sẵn ai muốn vẽ thì vẽ. Bữa ăn khách tự phục vụ. Muốn ngồi đâu thì ngồi, khúc gỗ hay mấy hòn đá nằm lăn lóc hoặc trên ghế nệm có trải khăn thêu hoa văn xanh đỏ của Tạng.
Nhạc Jazz hoặc các loại nhạc cảm tính đầy ngẫu hứng, được mở vừa phải. Sân thượng có thể nhìn thấy Potala và một vườn hoa rất đẹp.
Mấy cái máy giặt bỏ đấy cho khách tự giặt. Xà phòng giặt đựng trong từng túi nhỏ để tự do ở tủ kính. Mỗi gói 1 tệ. Ai cần tự lấy và tự bỏ tiền vào tủ. Có chỗ cho khách tự nấu lấy mà ăn... Phục vụ là mấy cô gái Tạng duyên dáng rất giỏi tiếng Anh... Khách ngụ toàn là loại quái kiệt. Quần áo tóc tai phóng khoáng, vi tính xách tay, camera và máy chụp hình xịn, ăn uống dễ dãi, lịch sự, tiết kiệm. Đi đứng chẳng cần giờ giấc, chủ nghĩa tự do trên hết, ai làm gì cũng kệ...
Điều quan trọng nhất là món ăn Trung quốc hoặc Tây nên không có mùi trâu Yak.
Tầng trệt có phòng tập thể. Mỗi giường chỉ mất 25 tệ một ngày. Có nhiều du khách muốn du lịch về một nơi xa nhưng chưa đủ chi phí cho chuyến đi. Hoặc muốn giảm bớt gánh nặng chi phí. Họ ngủ tập thể, ăn uống tiết kiệm và viết quảng cáo dán trên tường. Đại loại như:
“ Tớ muốn đi Kailash hành trình 15 ngày. Toàn bộ chi phí đã thỏa thuận là 18.000 tệ. Ai muốn cùng đi để cùng chia xẻ chi phí thì liên hệ: John phòng 315.”
Chúng tôi chọn khách sạn “Bụi Đời” bởi vì ở đây nhân viên phục vụ biết nói tiếng Anh và không có mùi hôi của trâu Yak. Thế nhưng khi ở chúng tôi lại rất khoái tính bụi đời và chủ nghĩa tự do của nó!...
Sáng nay chúng tôi ăn sáng trên sân thượng còn ướt sũng nước mưa. Món ăn là cháo với trứng muối và mạn thầu. Ăn xong chúng tôi dự định sẽ tham quan tu viện Sera, một tu viện nổi tiếng của dòng Ban Thiền Lạt Ma.
Đi bằng xe lôi, tưởng rẻ, ai dè sau này mới biết đắt gấp 3 - 4 lần tắc xi. Tu viện dựa lưng vào một dãy núi đá hùng vĩ.
Tường treo Thanka trong những ngày lễ tại tu viện Sera
Đường vào tu viện lát đá, nhẵn bóng vì vết chân người. Rất đông người tham quan và đi lễ. Các hàng bán sữa trâu và mỡ trâu nằm chen với các hàng bán đồ lưu niệm. Chúng tôi chọn mua một cái tượng Tổ Sư Liên Hoa Sanh làm bằng đất sét, sơn xanh đỏ theo kiểu Tạng. Tượng cỡ bằng nắm tay người lớn, giá chỉ 15 tệ.
Theo dòng người chúng tôi đến cổng tu viện. Dân Tạng đi qua tự nhiên, nhưng chúng tôi là người nước ngoài nên phải mua vé tham quan. Mỗi người 50 tệ.
Chánh điện hoành tráng với 2 cây cột biện kinh phía trước cao ngất trời, phất phới dây cát tường nhiều màu và lông trâu yak. Trên nóc chánh điện là những pháp luân to lớn và các bảo tháp mạ vàng óng ánh. Giữa sân có một hòn đá lớn bằng phẳng như cái bàn, bên cạnh có một cái chày cũng bằng đá để người đi lễ dùng đập và nghiền mỡ trâu hay mỡ thực vật trước khi nấu nó thành nước và đổ vào cái đèn bằng đá khổng lồ trước ban thờ tam bảo.
Hai bên cửa vào chánh điện là những bức thanka vẽ Tứ Đại Thiên Vương và lục đạo luân hồi. Hai cánh cửa gỗ khổng lồ với các vòng bằng đồng có treo lủng lẳng dây cát tường xanh đỏ. Cầu thang dẫn lên tầng 2 nằm ở hai bên hành lang.
Chánh điện sáng mờ mờ. Sừng sững những cây cột gỗ to lớn sơn màu đỏ thẫm. Trước ban thờ tam bảo là những dãy bàn thấp lè tè trải vải đỏ. Đây là nơi chư Lạt Ma ngồi thiền, học kinh và nghe pháp. Người tham quan không thể vượt ngang qua các dãy bàn này, mà phải đi men tường theo chiều kim đồng hồ để tuần tự đảnh lễ chư vị Kim Cang Thần, chư vị Dakini, chư Tổ và chư Phật...
Ngồi giữa các linh tượng này là tượng đức Thích Ca khổng lồ với 3 tầng chánh điện vây quanh. Chung quanh tượng Thích Ca là tượng đức Thập Nhất Diện Thiên Thủ Thiên Nhãn và tượng chư đại Bồ Tát cùng chư đại thần linh đang trong trạng thái phối ngẫu tâm linh.
Một vị huynh quay lại nói nhỏ với tôi:
- Tôi là người biết điêu khắc, nhưng thấy các tượng này rồi, chẳng muốn làm nghề nữa.
- Tại sao vậy?
- Tại nó đẹp, có thần, gợi cảm và tràn ngập nét phóng khoáng của trạng thái giải thoát. Người thường không được ơn trên độ không thể làm được như vậy.
Trong ánh sáng lờ mờ chập chờn của những cái đèn bằng đá, trong yên lặng mênh mông của những tấm lòng thành kính, trong cái lạnh lẽo của đá nghìn năm và trong tiếng cầu kinh rầm rầm rì rì đều đều buồn bã. Những pho tượng như đang sống dậy, uốn éo múa may, đang mỉm cười phô diễn nét đẹp tâm linh ở khế ấn và nét đẹp hình thể ở các tư thế vô cùng gợi cảm.
Dù cho khách thập phương khá đông. Chúng tôi cũng chấp tay nhận ân điển thiêng liêng. Hiển thị Đại Thủ Ấn. Rồi nương lực gia trì xoay người men theo các bức tường chánh điện. Đến trước các linh tượng cơ thể tự đảnh lễ. Tại từng nơi chư huynh đều thông công, dùng đại thủ ấn thọ pháp của ơn trên qua kỹ thuật Mantra.
Cầu thang lên các tầng trên tối nhờ nhờ, có bậc bằng đá lạnh ngắt và có tay vịn bằng gỗ nhẵn thín láng bóng vì vết tay người.
Cũng màu đỏ màu vàng chủ đạo, cũng ánh sáng lờ mờ, linh tượng chư đại Thần linh dữ dội đứng lẫn với linh tượng chư vị Dakini và Thánh mẫu, tuyệt đẹp, gợi cảm và tràn ngập năng lượng tâm linh.
Năng lượng tự thông công qua luân xa 7, cơ thể chúng tôi tự xoay tròn, đại thủ ấn tự hiển thị, năng lượng giác ngộ điều chúng tôi tự xoay người đến trước các linh tượng thọ pháp của ơn trên qua tam mật tương ưng, vẽ mantra chung quanh, lên trời và vào toàn thân. Chúng tôi buông xuôi cơ thể trong trạng thái thư giãn cùng cực. Trong Phật trường thiêng liêng, cơ thể chúng tôi như cái máy tự biểu thị qua tác động của năng lượng. Còn chúng tôi thì luôn nhận biết tỉnh giác để thông tâm cùng chư vị thiêng liêng. Già Năm gọi các biểu thị này là truyền tâm ấn. Tâm thông Tâm hay rỗng không hợp nhất với rỗng không và các mã thông tin của đại vũ trụ được truyền trực tiếp vào đại não qua khế ấn và linh phù.
Tại một phòng nhỏ trên tầng 3. Chúng tôi thấy một đoàn người thật dài đang xếp hàng và lần lượt đi qua trước mặt một cái ban thờ. Bên trên có tượng đức Thiên Thủ Thiên Nhãn đặt trong một cái lồng kính chung quanh dán đầy linh phù. Một vị lạt ma mặc áo đỏ đứng đấy, tay cầm một chiếc gậy dài. Một đầu gậy chọc vào linh tượng của Đức Thiên Thủ Thiên Nhãn, đầu kia của gậy dí vào luân xa 6 ở trước trán của người hành hương mỗi khi họ đi ngang qua và cúi đầu xuống để đảnh lễ. Mọi người đi ngang qua thì không thấy có gì. Khi Già Năm và chúng tôi đi qua. Cây gậy của vị lạt ma bỗng rung lên bần bật... ngài bèn kiết ấn và miệng niệm dalani rất lâu để trợ điển... Chúng tôi cũng tự hiển thị đại thủ ấn trên đỉnh đầu. Vị lạt ma nọ mỉm cười chấp tay đảnh lễ, rồi chỉ hướng cho chúng tôi trở ra, trong khi từng đoàn người vẫn tiếp tục tiến vào để nhận ân điển thiêng liêng (Bakti) của Bồ tát...
Bên ngoài trời nắng to, nhưng vẫn lạnh. Tu viện Sera đúng là một tu viện lớn và nổi tiếng của dòng Ban Thiền Lạt Ma. Nhà ngang dãy dọc, trùng trùng điệp điệp, mái tiếp mái, tường tiếp tường, chúng tôi đi khắp nơi để nhận ân điển thiêng liêng đảnh lễ chư vị và thọ pháp bằng tam mật tương ưng và kỹ thuật Đại Thủ Ấn (mahamudra).
Gần đến trưa thì nhận điển, đảnh lễ và thọ pháp cũng vừa xong. Ngước mặt nhìn lên dãy núi đá cao ngất phía sau tu viện, trên ấy còn vô số chùa chiền, am thất, bảo tháp nép mình bên những cây thanh liễu cổ thụ hay những hốc đá bám đầy rêu và địa y.
Vì không có thì giờ, và phải dưỡng sức để leo lên Kailash, chúng tôi đành từ giã tu viện Sera ở đây. Hẹn thầm một ngày nào đó có duyên lại đến đây. Chúng tôi nhất quyết phải đi đảnh lễ, nhận ân điển của chư vị khẳp cả vùng núi này chẳng còn một nơi nào mà không đến.
Đi giữa những bức tường bằng đá núi, vữa xây còn vết tay người, giữa những lối đi mà cúc vạn thọ, thược dược, hoa hồng, cánh bướm... mọc chen với cỏ dại, giữa những bức tường cao vút đầy những khung cửa sổ nhỏ xíu bên trên có rèm nâu hay đen, thấp thoáng bóng áo đỏ của chư lạt ma, giữa những nụ cười thân thiện, giữa những hàng cây thanh liễu xù xì rợp bóng mát, giữa tiếng chim chim chíp trong vòm lá xanh tươi, giữa tiếng kinh luân quay rè rè, tiếng cầu kinh niệm chú trầm trầm. Chúng tôi thấy như đã về nhà mình, thân thuộc, thoải mái và bình an biết bao!
Kính lạy chư Phật, chư Bồ tát, chư Tổ, chư vị Dakini và Thánh Mẫu. Kính lạy Hộ pháp chư Thiên chư Thần và thánh chúng... Chúng đệ tử xin từ giã các ngài để lên đường đi Sambala, đến mandala của Ngũ Trí Như Lai, tiến vào trung ương đàn tràng, leo lên Kailash để nhận ân điển thiêng liêng, thọ nhận ấn lệnh và mật pháp của đức Đại sư cổ Phật Tỳ Lô Giá Na. Xin chư vị tiếp điển gia hộ độ trì để chuyến đi thành công tốt đẹp.
(vemiendatphat.com)
Bài 11– Hồ thiêng Manasarovar
Sau khi nằm chờ tại Lhasa 4 ngày để xin cho đủ giấy phép đi Kailash. Phải có đủ 4 giấy phép của biên phòng, an ninh quân đội, và một giấy phép của công an tại Darchen. Hôm nay chúng tôi bắt đầu lên xe trực chỉ về hướng tây, hướng của biên giới Kashmir và Népal.
7 giờ sáng đúng hẹn, Penba đã đưa xe tới. Nhưng chờ mãi đến 8 giờ... rồi 8 giờ 30 mà huớng dẫn viên chẳng thấy tới. Cuối cùng chúng tôi được báo cho biết, là chẳng có hướng dẫn viên nào chịu đi vào Kailash cả... Và chúng tôi lại được công ty du lịch Xigátse hứa sẽ giới thiệu một hướng dẫn viên khác khi chúng tôi tới thành phố này.
Thế là chúng tôi lại hăm hở lên đường...
Mùa thu Tây Tạng tuyệt đẹp. Bầu trời xanh lơ trong vắt không một áng mây. Băng trên các đỉnh núi đã tan gần hết, nên các con sông đều tràn trề nước. Đó đây suối chảy rì rào rạo rực trên thảo nguyên cỏ đang lên xanh ngắt tràn trề sự sống.
Con đường lượn theo triền những dãy núi đá cao ngất trời xanh. Dưới kia sông Lhasa dềnh lênh ngập cả những khu rừng thanh liễu lá đang chuyển sang màu vàng tươi, vàng nghệ và màu nâu đỏ.
- Này Penba lá đã chuyển màu vàng rồi mà sao duới gốc chẳng thấy lá rơi?
- Ấy, cuối tháng này, lá sẽ chuyển sang màu đỏ sậm. Khi ấy chúng mới chịu rơi.
Màu xanh của lá non, màu vàng tươi, vàng nghệ, màu nâu sẫm của lá chuyển mùa, màu nước trắng xóa, màu trời xanh lơ, màu núi xanh đậm, tím than, vàng tươi màu đất mới, màu nắng vàng rộm, sương thu nhàn nhạt màu ghi, màu hoa dại phơn phớt vàng, màu hoa cỏ lấm tấm trắng trên cái nền xanh ngút ngàn của thảo nguyên như đại dương mênh mông tràn sóng cỏ... Ôi! Trên cái toan Tây Tạng mùa thu, phải chăng thượng đế đang pha màu sống trên vải?... Các màu ấy nhòe ra, trộn lẫn nhau, tạo ra vô vạn sắc màu đang thực sống và đang chuyển hóa không ngừng nghỉ.
Đang là mùa thu hoạch lúa mạch. Trong gió lạnh cay cay mùi khói. Trên sườn núi và dưới thung lũng, những vạt nương xanh chen lẫn những vạt lớn màu vàng sậm. Trâu yak, bò, ngựa và cừu đang nhẩn nha gặm cỏ. Những người đàn ông Tạng da đen nhẻm, chỉ đỏ quấn quanh đầu, tóc bím thả xuống hai vai, để ria mép, đội mũ rộng vành, áo khoác màu đen rộng thùng thình, chân đi giày ống, đang cầm liềm cắt lúa hay đang đi cày cùng trâu yak với chỉ ngũ sắc cột ở đầu sừng. Những cô gái Tạng đầu đội khăn đỏ, hai má màu mận chín, váy ngũ sắc, đi giày vải, ngực mang đầy xà tích, vòng bạc, hoa tai bằng đá màu, mang kiềng ở cổ chân, vừa cười khanh khách vừa bó lúa hay mang thùng sữa bằng da đi lẫn vào giữa đám bò cái mập ú.
Diều hâu bay lượn trên trời, sáo mỏ đỏ từng bầy chạy theo đường cày để bắt sâu bọ và lũ quạ đen to béo bóng nhẫy đang xúm vào tranh ăn cùng lũ trẻ đầu tóc bù xù, mắt sáng long lanh.
Tại nơi con sông Lhasa bề thế đổ vào dòng Yarlung Tsangpo. Triền núi nhấp nhô những thửa ruộng bậc thang vàng và xanh. Những cái nhà làm bằng đất bùn hình vuông nằm nép mình dưới những gốc thanh liễu già xù xì uốn lượn. Dọc theo đường đi, những cánh đồng hoa cải vàng rực bao bọc những dãy nhà trồng nấm thấp lè tè mái cong cong trên chất đầy phân trâu bò dùng để đun bếp và sưởi ấm.
- Trông kìa, tuyết đang rơi
Theo tay Penba chỉ, chúng tôi thấy giữa những đỉnh núi ngập tràn ánh nắng. Có một đỉnh núi bị che lấp bởi những vệt màu đen, trông như những vệt chổi tinh nghịch ai vừa quét lên trời.
- Trời đang nắng mà tuyết lại rơi, kỳ lạ thật
- Ở trên các đỉnh núi cao ấy trời rất lạnh, chứ không như ở đây. Hềhề... chưa lạ đâu lát nữa rồi sẽ thấy...
Trên đường hành hương
Lát sau, những vệt chổi tinh nghịch biến mất. Đỉnh núi nhọn hoắt trắng toát nổi bật trên nền trời xanh lơ. Một cái cầu vồng nhiều màu rực rỡ vắt ngang, trông như hào quang của Phật.
Lặng người trước cảnh đẹp hùng tráng và diễm lệ. Lòng bồi hồi chúng tôi thầm nghĩ, chắc Như Lai và Mẹ đang hiển thị nơi ấy để chào đón chúng tôi, chào đón những cánh chim thiên di, chào đón đàn chim Việt đang bay về núi rừng xưa cũ.
Men theo chân những dãy núi đá hùng vĩ cao ngất trời xanh, sông Yarlung Tsangpo như con giao long khổng lồ hung dữ, đang nhe nanh múa vuốt trườn xuống bình nguyên ngập tràn ánh nắng ở tận phía cuối chân trời. Nhà người Tạng thường làm bằng đất bùn, như cái hộp hình vuông. Tại bốn góc có bốn trụ nhỏ nhô cao, bên trên có cắm các cành cây chăng dây cát tường xanh đỏ. Tường đất bao quanh nhà. Cổng nhà trang trí hoa văn nhiều màu, nhiều lớp mái màu nâu đỏ với cửa bằng gỗ có khoen bằng đồng to tướng tết dây ngũ sắc. Mái nhà người Tạng làm bằng đất bùn trộn rơm hay cỏ rất dày. Phía dưới có sà đỡ làm bằng gỗ cây dương liễu.
Giữa phòng khách có một cái lò đốt bằng phân trâu yak. Lò có ống khói vươn lên trên mái. Trong những ngày đông lạnh lẽo, khi gió hú trên thảo nguyên mênh mông và bông tuyết rơi trắng xóa khắp nơi. Thì cái bếp lò phân trâu này như một cái lò suởi thân thương. Vì chủ và khách đều ngồi chung quanh uống trà pha sữa trâu yak. Món uống truyền thống thơm ngon và bổ dưỡng của người Tạng. Trong chuyến hành hương về Kailash kỳ này chúng tôi may mắn đã được uống loại trà sữa trâu này nhiều lần. Ban đầu khó uống vì có mùi rất Tạng. Nhưng dùng quen rồi sẽ thấy thích. Người chủ trà, sau khi hãm trà trong phích. Sẽ đổ sữa trâu vào một cái ống thụt bằng gỗ dương, trông như cái bơm xe đạp. Người ấy cầm cái cán ống thụt kéo lên đẩy xuống nhiều lần phát ra tiếng kêu phoàm phoạp vui tai. Khi toàn bộ sữa trâu đã tan thành nước. Người chủ trà mới rót trà vào ly và đổ thêm sữa trâu yak vào. Sữa tươi của trâu Yak có màu trắng đục hơi ngả vàng. Khi pha vào trà xong phải uống ngay. Nếu chần chừ cái giá lạnh của thảo nguyên băng tuyết sẽ làm ly trà đóng váng trên mặt uống mất ngon.
Chẳng những tại những ngôi nhà thật sự mới có bếp lò phân trâu, mà khi đi du mục ngoài thảo nguyên để chăn trâu, bò, cừu, ngựa...v.v... Người Tạng phải dựng lều bằng vải bạt hay da trâu, thì cái bếp lò đốt bằng phân trâu yak này bao giờ cũng được đặt chính giữa.
Trong những ngày lang thang trên thảo nguyên lộng gió, mỗi khi hoàng hôn về với cái lạnh cắt thịt cắt da, giữa cái vắng lặng mênh mông đến rợn người. Thì những cái ống khói của những túp lều du mục, như là dấu hiệu của sự sống, dấu hiệu của ấm áp tình người... Biết bao lần, nó đã làm những đôi chân mệt mỏi của chúng tôi tăng thêm sức mạnh trên con đường tìm về miền đất Phật.
Không có cây lớn để che bóng mát trong những ngày hè nắng chói chang. Lại phải giữ được độ ấm trong nhà trong những ngày đông lạnh giá. Thì nhà làm bằng đất bùn của người Tạng có lẽ là một chọn lựa hợp lý, vừa rẻ tiền vừa dễ làm, vừa đáp ứng được những yêu cầu trên.
Đến Xigatse, chúng tôi mới thật sự bối rối, vì ở đây cũng chẳng có hướng dẫn viên nào chịu đi với chúng tôi. Có lẽ vì họ biết quá gian khổ và nguy hiểm chăng?
Làm sao đây? Người Tạng ở nơi núi rừng hẻo lánh chỗ chúng tôi đến đều không biết tiếng Anh. Còn chúng tôi đều không biết tiếng Tạng. Chúng tôi cũng không biết đường đi. Cứ tin tưởng vào cuốn sách hướng dẫn du lịch này với cái thiết bị định vị liệu có đi lạc không? Đi lạc thì có nghĩa là sẽ chết đói, chết lạnh trên băng tuyết hoặc các đỉnh núi cao đầy đá nhọn. Chẳng phải mỗi năm đều có 4 hay 5 chục người mạo hiểm đã chết ở đây sao?!
Lo âu, bàn bạc, suy tính, cuối cùng chúng tôi hỏi ý kiến Già Năm.
Cụ già mỉm cười từ tốn:
- Chúng ta là những người học thiền. Vậy hãy tin tưởng vào trí tuệ sáng suốt của chính mình. Chúng ta còn là những người tâm linh. Vậy hãy tin tưởng vào sức mạnh của sự diệu kỳ, vào sự gia hộ độ trì của Như Lai và Thánh Mẫu. Phải có tâm bồ đề kiên cố. Đây là sự thử thách của ơn trên. Nếu chúng ta thối lui thì chuyến đi này đến đây là bị gãy nửa chừng sao? Vả lại ta thấy Penba cũng biết tiếng Anh chút ít mà lại là người Tạng. Nếu chúng ta nhờ anh ấy đi cùng thì cố gắng rồi mọi sự cũng qua thôi. Chúng ta sẽ nhờ anh ấy thông dịch để hỏi đường đi ở thổ dân rồi kết hợp với máy định vị để đi. Ta thấy không có vấn đề gì.
May mắn làm sao, Penba vui vẻ nhận lời.
Thế là chúng tôi kiên quyết tiến về Kailash, tiến về Kora nổi tiếng của Sambala mà chẳng có hướng dẫn viên!
Xe chúng tôi tiến thẳng về hướng tây, mặt trời chiều chiếu thẳng vào cửa kính rất chói mắt. Nhà cửa ít dần rồi chẳng còn gì nữa ngoài thảo nguyên mênh mông, trâu yak, cừu... và những căn lều du mục nhỏ xíu đang nhả khói... Đó đây những cồn cát tiếp nối cồn cát, vàng ươm lấp lánh dưới ánh mặt trời. Những trận bão cát kinh hồn đã thường xuyên di chuyển chúng khắp thảo nguyên mênh mông.
(vemiendatphat.com)
Bài 11– Hồ thiêng Manasarovar (tiếp theo)
Đến Lhatse, đường nhựa không còn, chỉ có đường đất, bụi mù trời. Con đường chia ra làm hai ngã. Rẽ trái theo hướng Tingri là đi về phía Nepal. Còn chúng tôi đi về ngã rẽ bên phải, phía Ngari, phía đi về biên giới Kasmir. Xe phải thường xuyên dừng lại để trình giấy phép cho các trạm gác quân sự. Không có hướng dẫn viên đi cùng, công ty du lịch chỗ chúng tôi thuê xe bị phạt 1.000 tệ. Chúng tôi hỏi, thì Penba giải thích đại ý. Đây là qui định bắt buộc, vì hướng dẫn viên du lịch, thật sự là nhân viên an ninh của Trung Quốc đi theo để kiểm tra hoạt động của du khách tại vùng biên giới quan trọng này. Dùng dằng hơn 2 tiếng đồng hồ, điện thoại qua, điện thoại lại, may mắn làm sao chúng tôi được họ cho đi!
Đúng là con đường về với mandala của Như Lai có muôn ngàn thử thách!...
Xe lao vun vút, vượt qua sình lầy, vượt qua suối đá, tự vạch đường trong thảo nguyên mà đi... đến đây thì chẳng thấy xe nào đi cùng đường.
Bóng tối mơ hồ luẩn quất chung quanh. Từng đàn hươu chân cao nghệu đang nhẩn nha gặm cỏ, xe chúng tôi đi sát một bên chúng cũng không thèm bỏ chạy. Một con đại bàng khổng lồ màu xám đen từ trên trời vụt xà xuống, đôi chân đầy vuốt nhọn như muốn chộp lấy xe chúng tôi nhấc bổng lên trời. Mấy con thỏ lông xám chạy qua chạy lại trước đầu xe như để đùa bỡn với những vị khách từ phương xa vừa mới đến... Chồn... vô vàn chồn hoang, lông vàng mập ú, thập thò trước cửa hang hay từng bầy đang rượt nhau trên thảo nguyên ngập tràn sương chiều lạnh giá.
Khi xe chúng tôi còn cách Darchen vài chục cây số, thì gió lạnh bắt đầu rít lên trên thảo nguyên. Bóng tối lợn cợn như sờ thấy được. Trên các vũng nước đọng trên thảo nguyên, mặt nước bắt đầu đóng váng như bánh đa. Theo sự hướng dẫn của thiết bị định vị chúng tôi đã tới hồ thiêng Manasarovar.
Đây là hồ nước ngọt cao nhất thế giới. Nó nằm ở độ cao 4588 m so với mặt nước biển. Nó là hồ Thiện và đối với Mật Tông Tây Tạng và thế giới, thì đây là trú xứ của Thánh mẫu Phamog người phối ngẫu tâm linh của Tổ Sư Demchokg trú xứ ở Kailash, trung ương đàn tràng của madala Ngũ Trí Như Lai, và là hóa thân của đức Đại Sư Cổ phật Tỳ Lô Giá Na, giáo chủ mật tông toàn thế giới. Do vậy hồ này là hồ Thiện.
Còn có một hồ nước ngọt nữa nhỏ hơn và thấp hơn tên là Rakshas Tal, tức hồ của Quỉ, là hồ Ác. Giữa hai hồ có một lạch nước nhỏ thông với nhau.
Cả hai hồ Manasarovar và Rakshas Tal đều nằm dưới chân rặng núi Gurla Mandata quanh năm đầy tuyết phủ. Và nước ở hai hồ này là do băng tan từ Gurla Mandata và Kailash tạo nên.
Hồ Manasarovar nổi tiếng về sự linh thiêng. Theo truyền thuyết, nếu tắm ở hồ này sẽ được mẹ Phamog độ. Do vậy lành bệnh, cắt đứt mọi nghiệp duyên, thân và tâm đều đầy ân điển thiêng liêng gia trì nên thực chứng các pháp của Mẹ và Dakini. Do vậy hàng năm khách hành hương từ Ấn Độ, Tây Tạng, Népal, Butan và các nước Âu Mỹ kéo đến khá đông. Họ cắm trại quanh hồ... để cầu nguyện, tụng kinh, đi thiền hành và tắm... Có 7 tu viện lớn của mật tông Tây Tạng ở chung quanh và một số nhà nghỉ nhỏ để phục vụ cho khách hành hương.
Trên đường hành hương
Thế nhưng Penba không đưa chúng tôi xuống hồ mà đưa vào một nhà nghỉ. Chúng tôi hỏi thì anh giải thích:
- Tôi là dân bản địa tôi biết, bây giờ thời tiết giá lạnh này chỉ có thể lấy nước hồ lên hâm nóng rồi tắm như mọi người hành hương vẫn thường làm. Chứ xuống tắm dưới hồ có mà chết.
Già Năm không nói gì, chỉ tay ra hiệu cho Penba đưa xe xuống sát nước và quay lại nói với hắn đang ngồi yên lặng ở phía sau:
- Con cần tắm để Mẹ độ tiêu trừ nghiệp duyên đang quấy rối đường tu.
- Nhưng thưa cụ, trời đang quá lạnh. Công lực con chưa đủ, có thể gặp nguy hiểm.
- Mô Phật, do vậy chỉ có con xuống tắm trước, rồi sau đó ta sẽ tùy theo tình hình mà để cho chư huynh tắm hay để sang bữa khác ít lạnh hơn. Mô Phật, đây là ấn lệnh của Mẹ Quan Âm, con hãy kiết ấn lệnh này để trình diện mẹ Phamog và chư Thiên ở đây. Giữ điển, dùng công phu nhiệt tâm linh của bổn môn để xuống hồ tắm. Nếu con lạc tâm để thất tình lục dục lôi kéo, có thể bị chết lạnh dưới hồ. Con không thấy nước đang đóng váng sao? Nếu tâm con chí thành sẽ được mẹ Phamog và chư Thiên ở đây điều khiển mọi động tác khi ở dưới nước lạnh. À quên, ơn trên bảo con phải mang tất và mặc quần dài khi xuống nước. Nếu không cây mục dưới bùn sẽ làm con bị thương. Sao, con dám xuống hồ tắm không? Đây là cơ hội để con tiến tu có kết quả?
- Thưa cụ con quyết tâm, đã nhận ấn lệnh của Vô Ngại Đại Bi Tâm con nào có rụt rè e ngại.
- Mô phật.
Thế là hắn mở cửa xe, tự đi ra hồ. Ở trần, mặc quần dài, chân mang tất. Hắn thụ khí và kiết ấn lệnh trên đỉnh đầu.
Gió lạnh rít lên từng cơn. Mặt hồ thiêng đen ngòm... Penba và chúng tôi đều đứng trên bờ kéo cao cổ áo để chống lạnh. Nhìn hắn đi dần xuống hồ lòng đầy lo lắng.
Đột nhiên hắn hét lên một tiếng thật to. Hai tay kiết ấn lệnh vẽ phù liên tục lên trời chung quanh và lên người...
Penba quay lại phía chúng tôi giọng lạc đi: - Chết rồi chỗ này bị lún. Bùn sẽ lôi hắn xuống địa ngục mất.
Đúng vậy, hắn bước đến đâu. Người hắn lập tức bị lún sâu xuống... Nhưng nước vẫn chỉ xăm xắp không đủ tắm. Do vậy mà hắn liên tục vận công hét lớn, rút chân lên và đi tiếp ra càng ngày càng xa.
Kìa, hắn đã ngồi bệt xuống và tắm. Nước lạnh bắn tung tóe khắp nơi. Tiếng kim cang thủ hắn đập vào người, tiếng thở đặc trị phì phì và tiếng hắn hét lên từng chặp dũng mãnh. Trong gió đêm vang lên như một bản hùng ca của lòng quyết tâm sắt đá.
Lát sau! Hắn hét lên một tiếng lớn, xoay người vận công đi trở lại bờ. Ấn lệnh ở tay... bước hắn đi chậm dần... chậm dần, yếu dần, rồi ngã trên bờ hồ lạnh giá...
Già Năm một tay kiết ấn. Một tay vẽ linh phù vào hắn, rồi hét thật lớn để át tiếng gió gào: - Đảnh lễ mẹ Phamog
Hắn như choàng tỉnh, bật dậy quì gối đảnh lễ về phía hồ thiêng.
Cụ già lại quát lên: - Dùng ấn lệnh vẽ bùa vào ngực và tim, rồi đi về phía xe.
Như người lên đồng, hắn bỗng chồm dậy, gầm lên. Một tay kiết ấn lệnh của mẹ Quan Âm chỉ lên trời, tay kia dùng ấn lệnh vẽ bùa vào ngực và tim. Hắn bước đi chuệnh choạng rồi vững chắc dần. Cuối cùng hắn bước được vào xe.
Chư huynh vội đóng cửa xe lại, lấy đồ ấm trùm cho hắn. Hắn vẫn như người mộng du. Hai tay nắm chặt tay ấn, miệng thở đặc trị phì phì.
Bỗng hắn gạt phắt đồ ấm ra, người ở trần, hai tay tự kiết đại thủ ấn rất lạ, miệng đọc dalani bằng tiếng thiên.
Già Năm cười và bảo:
- Mô Phật, thế là xong. Con đã được Thánh Mẫu ban ấn lệnh để thông công với người mà tu tập, ta chúc mừng cho con. Bây giờ con hãy giữ chặt ấn lệnh này thì cơ thể sẽ tự ấm dần lên...
Nhìn cảnh tượng kỳ dị vừa xảy ra, chẳng những Penba há hốc mồm kinh dị mà chúng tôi cũng thấy như vừa trải qua một giấc mơ thú vị ở một cõi thiêng liêng nào đấy chẳng phải cõi của loài người.
Chư huynh đều quì trên bờ hướng về phía hồ thiêng đảnh lễ và cầu nguyện.
Già Năm cười và bảo:
- Ta chỉ là người giám thiền. Thánh mẫu và chư Thiên mới là người dạy. Hôm nay quá lạnh chư huynh không nên tắm. Để hôm đi Kailash quay về nếu trời nắng ấm, thì sẽ thực hành pháp môn này cũng không muộn.
(vemiendatphat.com)
Bài 12- Tarboche và thành Thiên Đế
Chúng tôi ngủ trong một nhà nghỉ nhỏ ở Darchen. Chờ trời sáng sẽ bắt đầu đi vòng quanh Sambala, đi theo vòng Kora tâm linh tối thượng của mật tông thế giới.
Nếu thành công những ngày tiếp theo, chúng tôi sẽ nhận ân điển thiêng liêng và đi thẳng vào khu trung tâm của Sambala, vào trung ương đàn tràng của Ngũ Trí Như Lai. Và như vậy cái đích cuối cùng của chuyến tu học này là đỉnh núi Kailash cao 6.714m quanh năm tuyết phủ trắng xóa, nơi có 3 khối đá khổng lồ màu vàng sậm giống hệt 3 tòa bảo tháp, trời đất tự hiển thị để phụng thờ Đức Đại Sư Cổ Phật Tỳ Lô Giá Na và hóa thân của ngài là Tổ Sư Demchog.
Tuy là những người tu thiền và đã quen thực hành chánh định. Nhưng chúng tôi ai cũng đã đọc tác phẩm: “Trong vòng tay Sambala” của nhà bác học Nga... nên đều háo hức bồn chồn vì mình sắp được trải nghiệm lại những điều vất vả nguy hiểm đến cùng cực và những điều linh thiêng huyền diệu bất tư nghì của tâm linh mà nhà bác học này đã trải qua ở vùng rừng núi linh thiêng này. Và còn hơn thế nữa chúng tôi còn leo lên Kailash nơi được coi là cội nguồn của mọi tâm linh. Nơi mà nhà bác học Nga này khi ấy còn chưa có duyên đến được.
Vì phải đi dài ngày mà còn phải ngủ ngoài trời đến mấy đêm liền, nên thức ăn, lều trại, túi ngủ, nước uống, máy móc... dồn lại thành mấy balô to rất nặng. Phải leo cao, không khí loãng, thiếu oxy trầm trọng, chỉ cử động nhẹ cũng đủ gây mệt, mà đã mệt thì rất khó hồi phục! Bởi vậy nếu không nhờ thổ dân ở đây khuân hộ thì không cách gì có thể đi được.
Trước kia nhà bác học Nga... cũng đã nhờ thổ dân và trâu yak chở đồ cho. Bởi vậy, ngay khi mới tới Darchen, chúng tôi đã cùng Penba bổ đi khắp nơi để tìm thuê thổ dân.
May mắn làm sao, đã có 3 người nhận lời. Đều là thổ dân ở vùng núi cao băng tuyết. . . .
Già Năm chỉ chợp mắt một tí lúc đầu hôm. Cụ Già công phu gần như suốt đêm không ngủ để chuẩn bị trợ điển cho chư huynh.
Gần sáng nghe đồng hồ báo thức, chúng tôi đều bật dậy, ngồi ngay trên giường để luyện công.
Đang diện bích, không cần chống tay xuống giường, toàn thân bỗng quay phắt ra. Cụ già nhìn chư huynh dặn dò:
- Đây là đợt tu học rất vất vả nguy hiểm mà cũng vô cùng linh thiêng huyền diệu. Ta có một số kinh nghiệm, chư huynh có thể áp dụng để tiến tu có kết quả:
Phải thụ khí, nương điển quang mà đi. Chứ không được đi bằng cơ bắp.
Nhất thiết phải luôn luôn thở đặc trị theo sự tác động của điển quang. Chứ không được cố gắng giữ hơi thở điều hòa. Vì tình huống trên đường đi luôn luôn thay đổi bất ngờ cần phải thích ứng. Thí dụ: Gió lớn, tuyết rơi, trời nắng to, khi thì leo cao, khi thì xuống thấp...v.v...
Đường nào đấy hả ông Định vị
Không được cầu mong chóng tới đích. Cũng không sợ bị tụt hậu đằng sau. Lúc nào cũng ung dung tự tại tùy theo sức mình mà bước phù hợp với nhịp thở. “Lưu thủy bất tranh tiên” như nước chảy không dành nhau chảy trước.
Không cười nói đùa bỡn vì sẽ thiếu oxy gây mệt. Mỗi lần nghỉ mệt, thì thụ khí tiến hành xoa bóp day bấm huyệt phần đầu mặt, để tránh chảy mau cam, khô nứt da mặt, chảy nước mũi và nhức đầu do lên quá cao.
Hai tay luôn giữ chặt ấn lệnh của Mẹ Quan Âm, niệm thầm câu dalani mà ta đã dạy, trụ chặt tâm vào câu dalani này để tam mật tương ưng tự hiển thị đại thủ ấn vượt qua các rào cản về tâm linh mà chư Đại Lạt Ma đã đặt ra để bảo vệ đạo tràng.
Còn đây là các đạo bùa. Từng vị huynh, ta sẽ nương điển quang thông công với ơn trên để viết ra. Hãy dùng nó để luyện công nhằm làm quen với Hộ Pháp Thần của bổn môn. Sau đó điển quang sẽ điều khiển chư huynh tự bỏ vào mồm nhai và nuốt đi. Nó sẽ khiến chư huynh tăng cường sức mạnh cơ bắp, nâng cao điển lực và khiến Hộ Pháp chư Thiên chư Thần thường theo sát một bên để bảo vệ an toàn cho chư huynh trong suốt cuộc thám hiểm tu học này.
Nhất thiết khi đi phải có tính Thiền. Nghĩa là luôn tỉnh giác nhận biết toàn diện quá trình tiến tu và di chuyển của mình, cũng như cảnh quan môi trường chung quanh để đồng cảm và rung động nhằm biểu thị bát nhã. Tâm vô sở trụ, nhưng tự biết hết do yên lặng chứng kiến.
Nhất thiết khi đi phải có tính Mật. Nghĩa là luôn thông công cảm nhận được sự điều khiển của năng lượng giác ngộ để nương theo đó mà hành động. Tuyệt đối không được hành động qua phán xét của tâm trí nhị nguyên của đời thường.
Bên ngoài trời tối thui. Bầu trời đêm của Tây Tạng thấp lè tè, tưởng chừng chỉ với tay lên là hốt được vô số vì sao đang lấp lánh. Hoặc dễ dàng thọc tay vọc nước sông Ngân để rửa sạch bụi đường thiên lý.
Trong nhà, cụ Già và chư huynh đang yên lặng tịnh công. Chỉ có gió lạnh gào lên từng hồi trên thảo nguyên mênh mông. Tôi nhìn về phía xa kia, đỉnh kailash tuyết phủ trắng lờ mờ huyền ảo trong ánh sao trời, trông như cái vú khổng lồ của người Mẹ Vũ Trụ đang ngửa lên trời cao lồng lộng gió ngàn....
Đã 8 giờ hơn mà trời vẫn chưa sáng rõ mặt người. Chúng tôi bắt đầu lên đường. Mũ rộng vành, giày đi tuyết, kính che mắt, đồ ấm và ba lô sau vai, chúng tôi hướng về phía những dãy núi cao vút đỉnh đầy tuyết trắng, rảo bước.
Nắng dát vàng trên các đỉnh núi xa. Tuyết sáng lấp lánh, các đỉnh núi mờ hơi lạnh và mây trời đang chuyển màu rực rỡ. Ở Tây Tạng núi không có cây, chỉ là núi đá hoặc núi đất với ngổn ngang những phiến đá hình thù kỳ dị. Băng đã tan gần hết, nên cỏ non lên xanh và suối chảy rì rào, trào xuống thảo nguyên thành muôn ngàn dải lụa trắng xóa. Núi màu xanh đậm, thảo nguyên màu xanh lá chuối non và nền trời màu xanh nước biển.
Những vạt nắng vàng như trôi lơ lửng trong cái lạnh đặc sệt, sồn sột và cay cay mùi khói.
Trên những vạt đồi đầy cỏ non với suối lượn quanh, mấy chiếc lều du mục đang nhả khói, loáng thoáng bóng người trong sương mờ. Có tiếng Tạng ngao sủa ông ổng và tiếng hát của người du mục mênh mang hoang dại giữa cảnh vắng lặng đìu hiu. Vô vàn trâu yak như những viên đá đen, vô vàn cừu như những viên đá xám, chúng đang yên lặng gặm cỏ, hình như chẳng chuyển động gì...
Dọc đường chúng tôi đi qua, chẳng có cây gì... chỉ có cỏ và cỏ... bông cỏ nở trắng li ti hay vàng sậm, nằm lẩn với những bụi rậm trông như những đám cây lão tùng nhỏ xíu, đang quằn mình sát đất.
Đi cùng chiều với chúng tôi thỉnh thoảng có những nhóm người hành hương người Tạng, người Ấn, người Trung Quốc, một vài người Âu Mỹ. Nhưng đông hơn cả vẫn là người bản xứ. Họ vừa đi vừa lần chuỗi hạt vừa niệm kinh rầm rầm rì rì. Nam, mũ rộng vành trên đầu, giày vải dưới chân, áo choàng màu đen lót lông cừu, địu con sau lưng bằng một tấm khăn choàng sặc sỡ. Nữ, đội khăn đỏ như máu, giày vải dưới chân, váy áo sặc sỡ, xà tích, vòng đá mang đầy ngực, túi thêu bên hông, che mạng ở mặt và mang thức ăn, đồ ấm sau lưng.
Có đoàn dẫn đầu là một vị lạt ma mặc áo đỏ, tay chống gậy, đầu cạo trọc nhẵn bóng, mang giày ống, trước ngực lủng lẳng một xâu chuỗi hạt thật to. Phía sau là các đệ tử của ngài, nam có nữ có, già có trẻ có, y phục người Tạng, vừa đi vừa quay pháp luân vừa trì kinh niệm chú, dáng vẻ vô cùng thành kính trang nghiêm.
Mấy người Âu Mỹ thì lủng lẳng nào máy chụp hình, nào camera và các thiết bị điện tử....
Dọc đường đi, tôi thấy các viên đá thường được xếp chồng lên nhau thành những hình thù kỳ dị, vô số các khối đá xếp như vậy, to có nhỏ có nhiều vô kể. Tôi nghĩ nhất định đây không phải là tác phẩm ngẫu hứng của một người hay một nhóm người... .
Đúng y như vậy, khi cả đoàn ngồi xuống nghỉ mệt, thì Penba lại lấy những viên đá chồng lên nhau. Tôi hỏi thì anh ấy bảo:
- Trên thảo nguyên mênh mông vắng lặng này. Chẳng những con người mà con vật khi di chuyển cũng thường để lại những dấu vết riêng của mình, để nếu cần thì có thể quay ngược lại không bị lạc. Lâu dần thì thành một thói quen, một tập quán, có khi thành một nghi thức tôn giáo nữa?
- Anh bảo có thể thành một nghi thức tôn giáo à?
Penba yên lặng không nói gì. Theo tay anh chỉ chúng tôi thấy. Một nhóm người Tạng hành hương đang cùng nhau khuân đá chồng lên tạo thành một cái tháp khá đẹp. Một nhóm khác đi qua thấy vậy lấy dây cát tường chăng qua lại để trang trí. Nhóm thầy trò vị lạt ma áo đỏ nọ vừa đi đến liền nhiễu chung quanh cầu kinh, vị lạt ma vảy nước làm phép. Thế là những người hành hương đều bước đến cụng trán mình vào tháp đá với dáng điệu vô cùng thành kính.
Và mấy người Âu Mỹ kia, vừa đến sau, liền giương máy ảnh, camera chụp hình và quay lia lịa. Một người còn bắt chước dân bản địa bước đến cụng trán vào tháp đá. Nhưng chắc không thấy gì nên bước ra nhún vai lắc đầu với bạn mình đang giương mắt nhìn với dáng vẻ tò mò cực độ.
Penba đưa tay chỉ về phía thung lũng phía trước và bảo:
- Đấy là Tarboche, những người hành hương thành kính thường làm các tháp đá hoặc đơn giản hơn chỉ chăng dây cát tường với các phiến đá có khắc thần chú Um mani padme hum, thế là đã thành một điểm tâm linh để tỏ lòng tôn kính đức Phật và các vị Tổ.
(vemiendatphat.com)
Bài 12- Tarboche và thành Thiên Đế (tiếp theo)
Men theo bờ bên phải của con sông Lha-Chu, con sông phát nguyên từ Kailash, chúng tôi đến Tarboche. Đây là một thung lũng lớn rất đẹp xưa kia đức Thích Ca Mâu Ni Phật đã có lần đến đây thuyết pháp cho hơn 500 vị bồ tát và la hán. Có một cây cầu nhỏ bắc ngang qua sông Lha-chu dẫn đến tu viện Chuku nằm chênh vênh trên sườn một dãy núi đá cao ngất trời. Cửa chánh điện của tu viện hướng về Kailash đỉnh phủ đầy tuyết trắng toát. Tu viện thờ đức Diệu Quán Sát Trí Bảo Sanh Như Lai và Quân Trà Lợi Kim Cang.
Ngay lối vào thung lũng có một bảo tháp lớn, trên chăng đầy dây cát tường, cũng có nhiều sừng và đầu trâu bò trang trí bằng vải nhiều màu sắc sặc sỡ, ngổn ngang những phiến đá trên khắc đầy kinh tiếng Phạn, tiếng Tạng, tiếng Ấn Độ, nhiều dấu hiệu và linh phù của nhiều tôn giáo lớn trên thế giới, nó như một minh chứng rằng Sambala là cội nguồn của nhiều truyền thống tâm linh thế giới.
Chung quanh bảo tháp, người ta vất ngổn ngang, mũ, giày dép, quần áo cũ và nhiều vật dụng cá nhân khác... nó như dấu hiệu của một sự đoạn tuyệt với quá khứ vô minh, hồi quang phản chiếu, quay ngược tầm nhìn để nhìn lại chính mình trên con đường luân hồi lang thang đã từ vô lượng kiếp!
Phía bên phải bảo tháp, có một dãy núi đá màu vàng sậm, xếp thành nhiều lớp chồng lên nhau rất đẹp, mặt trên rất bằng phẳng, trông như một quảng trường vĩ đại. Đó là nghĩa địa nơi chôn cất thi hài của 84 vị đại Lạt Ma học trò xuất sắc của Tổ Sư Liên Hoa Sanh.
Tarboche còn là nơi Tổ Sư A Tỳ Sa đã đến cư ngụ và dạy đạo tại đây, trước khi được Tạng vương mời về kinh thành Lhasa để chấn hưng Phật đạo. Ngài là vị Tổ quan trọng thứ nhì sau Liên Hoa Sanh ở Tây Tạng. Bởi Liên Hoa sanh là người đã chiến thắng đạo Bon và đưa Phật giáo thành quốc giáo ở đất nước này. Thế nhưng theo thời gian, Phật đạo đã bị suy đồi. Đạo Bon lại có cơ hội phát triển khiến người tu lạc vào thần thông pháp thuật quên mất việc luyện tâm. Và Tổ Sư A Tỳ Sa là người được vua Guge, mời ra để chấn chỉnh và phục hưng Phật đạo. Từ đó Phật giáo lại trở thành quốc giáo và phát triển rực rỡ cho đến ngày nay....
Giữa thung lũng và ngay chỗ bước qua cầu để leo lên tu viện Chuku, có một cái quán của người Tạng phục vụ khách hành hương.
Quán người Tạng ở đây cái nào cũng là lều bằng vải bạt hay da. Ở giữa có lò đốt phân trâu yak để sưởi ấm và nấu trà. Chung quanh kê ghế cây lót đệm để khách có thể ngồi hoặc nằm nghỉ mệt. Chủ quán là 2 cô gái Tạng khá xinh, mặc y phục truyền thống, mang túi thêu. Lúc nào cũng cười rất tươi và sẵn sàng chụp hình chung với khách nếu có yêu cầu. Quán bán chủ yếu là mì gói và trà pha sữa trâu yak. Còn có cả Cocacola và bia Mỹ.
Phía trong góc quán một cô gái người Tạng đang trét phấn trắng lên mặt mình và cười như nắc nẻ với một người đàn ông Tạng da đen nhẻm, đang bôi keo lên mái tóc bờm xờm của mình.
Tôi giật mình, văn minh của loài người đã đến được cả nơi thâm sơn cùng cốc này sao? Và mọi thứ phải chăng đang từ từ biến đổi?!
Những người bạn thổ dân vứt balô trước cửa lều, bước vào trong uống trà sữa trâu, ăn mì, và trêu chọc cô chủ quán. Còn chúng tôi không nghỉ được lâu vì phải leo lên sườn núi khá cao để vào tu viện Chuku đảnh lễ đức Bảo Sanh Như Lai và Quân Trà Lợi kim Cang....
Sông Lha-chu ở thượng nguồn chỉ như con suối lớn, nước trào qua các viên đá bám đầy rêu tung bọt trắng xóa. Vừa bước qua chiếc cầu bắc qua sông. Già Năm vừa ôn tồn giải thích cho chư huynh:
- Này chư huynh, nếu chỉ đi một vòng các tu viện để lễ Phật rồi về, hoặc nếu xem các tu viện này như nhau, đến cái nào trước cũng được, là sai lầm về tâm linh. Thật sự các tu viện và các điểm tâm linh trên vòng Kora của Sambala này, chỉ được tuần tự đi theo chiều kim đồng hồ là chiều thuận với chiều của năng lượng giác ngộ. Nếu trên đường hành hương chư huynh thấy có người đi ngược lại, thì đó là người của đạo Bon. Vì đó là qui định của Tổ sư Milarepa.
Trên đường hành hương
Đến một nơi, phải thiền định trực ngộ yếu chỉ thiền của nơi đó với sự giúp đỡ của minh sư tại thế và ân điển thiêng liêng của Như Lai cùng chư Tổ nơi ấy. Đó là về “Lý”. Còn về “Sự”, thì phải thông công với vị Kim Cang trấn giữ nơi ấy, nhận ấn lệnh và linh phù qua vô vi, mới có thể đi đến điểm tiếp theo được. Cứ như vậy, nó như là một cuộc tu học và kiểm tra của tâm linh để thiêng liêng ấn chứng cho chư huynh, chứ không phải đi chơi ngắm cảnh rồi về.
Vòng Kora này có 3 phần:
Phần “Đời” là chúng ta, Phần “Đạo” hay vô vi là Ngũ Trí Như lai và Ngũ Vị Kim Cang, và phần “Trung gian giữa Đạo và Đời” là đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni. Gọi là trung gian, vì ngài có thể xác như mọi chúng sanh nhưng bên trong kết hợp với trí tuệ và năng lượng giác ngộ của vô vi. Nên ngài là cầu nối cho chúng sanh với Phật tánh. Bởi vậy, giáo lý của ngài nhằm qui định trạng thái tâm thức và phạm trù hoạt động của cơ thể, để ân điển thiêng liêng có thể biểu thị, thăng hoa và phát triển về hướng tối thượng. Bởi vậy nếu không tuân thủ lời dạy của Ngài, ân điển có thể phát triển sai đi. Còn nếu chỉ bắt chước các tướng của Ngài mà không thể nhập “Tánh” thì chỉ có cái vỏ mà không có cái hồn.
Bởi vậy trước khi chư huynh đảnh lễ đức Bảo Sanh Như Lai và Quân Trà Lợi Kim Cang là các đức Phật vô vi. Phải đảnh lễ đức phật hữu tướng là ngài Thích Ca Mâu Ni, ngồi thiền, kinh hành về các giáo lý: Tứ diệu đế, bát chánh đạo và thập nhị nhân duyên, cùng các giới luật cơ bản. Mô Phật, Chư huynh phải biết đây là khuôn mẫu tâm thức bắt buộc và phạm trù biểu thị bắt buộc của cơ thể trong suốt cuộc hành hương tu học này, nếu chư huynh muốn đợt tu học này có kết quả.
Nghe lời dạy của Già Năm, khi qua cầu xong. Chúng tôi quì trên thảo nguyên, nhận ân điển thiêng liêng, đảnh lễ đức Thích Ca Mâu Ni Phật, 500 vị bồ tát và la hán cùng 84 vị đại lạt ma.
Xong, chúng tôi ngồi thiền ngay trên cỏ, quán tưởng về các giáo lý: Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo và Thập Nhị Nhân Duyên. Phát nguyện trong suốt cuộc hành hương tu học này sẽ luôn giữ tâm thức và các hoạt động của cơ thể theo các phạm trù mà Như Lai đã qui định.
Gió thảo nguyên lồng lộng, có tiếng quạ kêu quàng quạc trên các khe đá hoang vu, dòng Lha-Chu chảy ào ào như mang theo nó biết bao ý nghĩ đời thường, bao tình cảm nghiệp duyên, bao cảnh đời lầm than, đau khổ... Tâm hồn chúng tôi như được gió thảo nguyên thổi tung đi mọi cát bụi tham dục, mọi sương mờ cảm thọ và mọi hí luận của nhị nguyên.
Ôi, giây phút này đây như dòng Yalung buông mình chảy về bình nguyên rồi ra biển lớn. Chúng tôi cũng buông hết, bỏ hết, xả hết, xuôi dòng ân điển thiêng liêng, từ núi cao ngã mạn, chảy về bình nguyên của chánh định để rồi rớt vào bể Toàn Diện của Phật Tánh mênh mông, trinh nguyên và hoang sơ.
Hắn ngồi phía sau nhất, tại một nơi khuất nhất, nấp vào sau một hòn đá khổng lồ bên trên có khắc thần chú Um mani Padme Hum. Người hắn yên lặng trong cơn thiền định, thỉnh thoảng cơ thể hắn lại rung rất nhẹ vì ân điển thiêng liêng. Mơ hồ hắn như thấy Như Lai đang ngồi đấy thuyết pháp cho hơn 500 vị bồ tát và la hán. Áo vàng bay phất phới, phạm âm như tiếng suối reo, hương trầm ngan ngát, tự nhiên hắn chứng về nhân duyên giả hợp.
Ôi! Trên thảo nguyên xanh màu cỏ. hắn như thấy Nhóc Con của mình đang nhoẻn miệng cười. Răng khểnh, má lúm đồng tiền, tóc mây bay theo gió. Dáng nàng mờ ảo như có như không. Nàng đáng yêu, thuần hậu và tinh khiết biết chừng nào!
Bỗng cơ thể nàng tự rời ra từng mảnh. Thịt da tan đi mất, chỉ còn lại xương trắng, dòi bọ lúc nhúc, hôi thối nồng nặc. Rồi xương cũng tan đi thành cát bụi theo gió thảo nguyên bay đi muôn nơi chẳng còn gì!
Lát sau vô vàn những hạt bụi của thảo nguyên mênh mông lồng lộng gió, tự nhiên quần tụ lại, đọng lại thành Nhóc Con của hắn, lại nhìn hắn và lại nhoẻn miệng cười tình!...
Ôi! Cứ thế, tụ rồi tan... tan rồi tụ... mơ hồ chẳng biết thực hay hư!
Hắn dụi mắt, nhưng rồi vẫn thấy thế. Hắn chánh định nhưng rồi vẫn thấy thế.
Hắn thở dài... hắn khóc trong lặng yên! Nhưng rồi cơ thể hắn bỗng hết trạo cử. Người hắn thiền định lặng yên như đá núi. Trên mặt hắn phảng phất nụ cười.
Bỗng hắn chấp tay, nương ân điển thiêng liêng đảnh lễ đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cùng chư vị bồ tát và la hán.
Khi hắn xả thiền mở choàng mắt ra. Chung quanh vắng lặng như tờ... Chư huynh đều đã lên núi... Chỉ còn Già Năm đang đứng đấy giám thiền cho hắn.
Cụ Già nhìn hắn mỉm cười: - Ta chúc mừng cho con. Nhờ anh linh của Như Lai và chư Thiên con đã chứng về lý và sự của pháp ”Nhân duyên giả hợp” không có tự tánh của Phật đạo. Mô Phật, ta nghĩ nhờ vậy kể từ nay con sẽ hết bị nghiệp duyên theo cản phá đường tu.
Hắn sụp xuống đảnh lễ cụ già. Khi hắn ngẩng lên thì cụ già đã đi rất xa. Trên lưng chừng núi, hắn thấy thấp thoáng bóng của chư huynh đang leo lên bậc thềm bằng đá của tu viện Chuku.
Lòng đầy phấn khích, quên mất lời dặn của Già Năm. Hắn hét lên một tiếng lớn vận công dùng hầu quyền chạy lên núi như một con khỉ lớn... Lũ quạ trên vách đá kinh ngạc quay đầu nhìn theo hắn, lũ chim ri trên đồng cỏ cũng thôi đùa bỡn, giương mắt tò mò nhìn theo hắn, mấy người Tạng hành hương cũng ngạc nhiên đưa tay chỉ chỏ về phía hắn.
Haha... ha!... Chỉ có dòng sông Lha-Chu chẳng ngạc nhiên vẫn ầm ào sùi bọt trắng, xuôi về phía chân trời xa. Và hình như gió núi cũng chẳng ngạc nhiên vẫn phần phật trên dây cát tường, ngả nghiêng đùa bỡn trên đầu ngọn cỏ đến tận tít cõi vô cùng.
Ồ! Chắc Như Lai, chư Thiên, Già Năm cùng chư huynh cũng chẳng ngạc nhiên đâu... Hắn biết chắc như vậy nên vừa chạy vừa mỉm cười.
Chẳng mong đến sớm... cũng chẳng sợ muộn! Làm gì có đến và đi! He he... Hắn biết, hắn tưởng vậy, chứ tánh vẫn như như chẳng bao giờ dời đổi.
(vemiendatphat.com)
There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)
Bookmarks