Năm Cõi Tịnh Cư

Cõi Tịnh Cư này là cõi của bậc Bất-lai và bậc A-la-hán, tức là những bậc có sự thanh tịnh, còn những người khác ngoài ra, dù chứng Ngũ-thiền, nhưng vẫn không sanh vào được. Như câu định nghĩa: "Suddhānaṃ anāgāmi arahantānaneva āvāsāti = Suddhāvāsā". Cõi trú thanh tịnh của bậc Bất-lai và bậc A-la-hán, do vậy cõi này gọi là cõi Tịnh Cư.

Năm cõi Tịnh Cư, cõi Quãng Quả và cõi Vô-tưởng, gọi chung là cõi Tứ-thiền, vì sanh từ thiện Tứ-thiền (nói theo phần bốn) hoặc thiện Ngũ-thiền (theo phần năm).
Năm cõi Tịnh Cư này nằm giữa hư không và nằm thành từng bậc theo thứ tự cõi, không phải nằm trong cùng một lãnh vực như các cõi khác, cách cõi Quãng Quả và Vô-tưởng là 5.508.000 do tuần, mỗi cõi Tịnh Cư lại cách nhau 5.508.000 do tuần.

1) Cõi Vô Phiền
Định nghĩa: Appakena kālena attano tīhānaṃ na vijahantīti = Avihā. Các Phạm Thiên nào không rời bỏ trú xứ của mình, dù chỉ trong khoảnh khắc, các Phạm Thiên ấy gọi là Aviha. Hoặc:
Attano sampattiyā na hāyantīti = Avihā. Các Phạm Thiên nào không rời bỏ trú xứ của mình, dù chỉ trong khoảnh khắc Phạm Thiên ấy gọi là Aviha. Các Phạm Thiên nào với tài sản của mình không bị tổn giảm, các Phạm Thiên ấy Gọi là Avihā.
Nơi đây giải rằng: Phạm Thiên sanh trong cõi Vô-phiền, không rời bỏ trú xứ của mình, tức không chết trước khi hết tuổi thọ. đối với Phạm Thiên trong 4 cõi còn lại là Atappā, Sudassā, Sudassī, Akaniṭṭhā ấy dù chưa tròn đủ tuổi thọ, cũng có thể chết trước đi.
Hoặc những Thiên sản của những vị Phạm Thiên này vẫn tròn đủ suốt thọ lượng, không hề thay đổi bất luận 1 loại nào. Do nhân đó mới Gọi là Aviha.
Avihānaṃ nibbattāti = Avihā.
Cõi sanh của những Phạm Thiên Vô-phiền, Gọi là Aviha.
Từ Aviha này chính là tên của Phạm Thiên ấy, còn tên của cõi sở dĩ cũng gọi giống như thế, là do lấy tên của Phạm Thiên ấy. Đặt tên cho cõi, và bốn cõi còn lại cũng diễn tiến như vậy.

2) Cõi Vô Nhiệt
Định nghĩa: Na tappantīti = AtapPā.
Phạm Thiên không có sự nhiệt não, Phạm Thiên ấy Gọi là Vô-nhiệt.
Giải rằng: Tất cả Phạm Thiên Vô-nhiệt thường nhập Thiền, hoặc nhập Thiền quả, các phiền não là nhân khiến cho sanh nhiệt não ấy, không có cơ hội sanh khởi, nên tâm của nhóm Phạm Thiên này chỉ có sự an tịnh mát mẽ, không có loại nhiệt não nào cả.
Atappānaṃ nibbattāti = Atappā.
Cõi sanh của các Phạm Thiên Vô-nhiệt, Gọi là Vô-nhiệt.

3) Cõi Thiện Hiện
Định nghĩa: Sukhena dissantīti = Sudassā.
Phạm Thiên khi người khác nhìn thấy được sự an lạc, do vậy, Phạm Thiên ấy Gọi là Thiện Hiện.
Lại nữa: "Parisuddhehi pasādadibbadhammapaññā cakkhūhi sam pannattā suṭṭhu passantīti = Sudassā".
Những Phạm Thiên nhìn thấy vật rất rõ ràng, do nhục nhãn hoặc Thiên nhãn, pháp nhãn, tuệ nhãn thanh tịnh, Gọi là Thiện-hiện.
Giải rằng: Phạm Thiên ở cõi Thiện-hiện này có thân rất xinh đẹp, nên bất luận người được nhìn thấy sẽ phát sanh an lạc. Bởi lẽ ấy, nhóm Phạm Thiên này có tên là Thiện-hiện.
Lại nữa, Phạm Thiên Thiện-hiện này đầy đủ với 4 loại nhãn là nhục nhãn, Thiên nhãn, pháp nhãn và tuệ nhãn.
Trong 4 loại nhãn này, mắt thường Gọi là nhục nhãn, Thiên nhãn thông Gọi là Thiên nhãn, hoặc mắt thường của Thiên nhân cũng được Gọi là Thiên nhãn, vì thông thường những vị Thiên nhân có mãnh lực nhìn thấy các vật ở xa hay vật nhỏ bé được dễ dàng. Ba trí Đạo thấp là Pháp nhãn. Minh sát tuệ, phản khán tuệ và các thắng trí Gọi là tuệ nhãn.
Sudassānaṃ nibbattāti = Sudassā.
Cõi sanh của Phạm Thiên Thiện-hiện, Gọi là Thiện-hiện.

4) Cõi Thiện Kiến
Định nghĩa: Sukhena passantīti = Sudassī.
Phạm Thiên nhìn thấy các vật khác bằng sự thoải mái, Gọi là Thiện-kiến.
Lại nữa: "Tato atisayena suṭṭhu dassanabhāvena samannāgatāti= Sudassī".
Phạm Thiên khéo đầy đủ trong việc thấy mà thù thắng hơn nhóm Thiện-hiện, nên Gọi là Thiện-kiến.
Giải rằng: Phạm Thiên Thiện-kiến này, nói về 4 loại nhãn thì nhục nhãn, Thiên nhãn và tuệ nhãn, cả ba loại nhãn này thù thắng hơn Phạm Thiên Thiện-hiện, còn pháp nhãn thì bằng nhau.
Sudassīnaṃ nibbattāti = Sudassī.
Cõi sanh của Phạm Thiên Thiện-kiến, Gọi là Thiện-kiến.

5) Cõi Akaṇṇitthā
Định nghĩa: Natthi kaniṭṭho etesanti = Akaniṭṭhā.
Thiên sản và an lạc có không ít đối với các Phạm Thiên này. Do vậy, các Phạm Thiên này được Gọi là Akaniṭṭha.
Lại nữa: "Natthi rūpīnaṃ sattānaṃ majjhe kenaci guṇena kaniṭṭhabhāvo etesanti = Akaniṭṭhā.
Trạng thái chút ít với bất luận một Guṇasampatti nào giữa các chúng sanh hữu sắc, thời không có với các Phạm Thiên này. Do vậy, các Phạm Thiên này mới Gọi là Akaniṭṭha.
Akaniṭṭhānaṃ nibbattāti = Akaniṭṭhā.
Cõi sanh của các Phạm Thiên Sắc Cứu Cánh gọi là Akaniṭṭhā.
Giải rằng: Phạm Thiên ở tầng thứ năm của cõi Tịnh-cư này, là Phạm Thiên có Guṇasampatti thù thắng hơn tất cả Phạm Thiên hữu sắc, vì Phạm Thiên ở tầng thứ 1-2-3-4 của cõi Tịnh-cư này, tức là Vô-phiền Thiên, Vô-nhiệt Thiên, Thiện-hiện Thiên, Thiện-kiến Thiên. Khi Chưa chứng quả A-la-hán, phải tuần tự sanh lên cõi Tịnh-cư trên, không sanh lại cõi cũ hoặc cõi thấp hơn. Riêng Phạm Thiên Sắc Cứu Cánh sẽ không sanh lại nữa. Tức Níp- Bàn tại chính cõi ấy, điều này cho thấy rằng: Phạm Thiên Sắc Cứu Cánh có ân Đức thù thắng về giới, định, tuệ hơn các Phạm Thiên hữu sắc.

Trong 5 cõi Tịnh-cư, không chia thành từng bậc như cõi Sơ-thiền, Nhị-thiền... cõi Vô-phiền chỉ có duy nhất là Phạm Thiên Vô-phiền, các cõi Vô-nhiệt, Thiện-hiện, Thiện-kiến, Sắc Cứu Cánh cũng y như vậy. Vì rằng: Thọ lượng của Chư Phạm Thiên mỗi cõi đều như nhau, đều có khả năng thấy nhau được. Do nhân này, mới không chia mỗi cõi ra thành 2 hoặc 3 hạng. Người sanh vào cõi Tịnh-cư này phải là bậc Bất-lai, dù đó là người, Chư Thiên hay Phạm Thiên cũng vậy, và phải chứng đắc Ngũ-thiền.

Sở dĩ Ngũ-tịnh-cư có 5 cõi, là do mãnh lực của 5 quyền:
- Vị có Tín quyền mạnh hơn 4 quyền kia, sẽ sanh về cõi Vô-phiền.
- Vị có Tấn quyền trội hơn, sẽ sanh về cõi Vô-nhiệt.
- Vị có Niệm quyền mạnh hơn cả, sẽ sanh về cõi Thiện-hiện.
- Vị có Định quyền mạnh hơn cả, sẽ sanh về cõi Thiện-kiến.
- Vị có Tuệ quyền mạnh hơn cả, sẽ sanh về cõi Sắc Cứu Cánh