Người tu thiền mong muốn kiến tánh, tìm mãi , đợi mãi chẳng thấy tánh ở đâu, lúc không còn tìm Tánh nữa nhưng vẫn tiếp tục tinh tấn tu hành , thân tâm thanh tịnh, tức thì thấy Tánh, Tánh nầy chẳng phải dụng lục căn để thấy, chẳng phải dụng văn tự để trình bày, chẳng thể nói ra cho ai, đấy là Thật Tánh cũng là Chơn Như có nghĩa là Chơn Thật như thị (thấy), thấy rõ chơn tướng của vạn pháp mà không qua lục căn, còn qua lục căn thì cũng chẳng thể thấy Tánh.Lúc đầu thấy mờ mờ, lúc có lúc không,nhưng chính vì còn ghi nhớ cái thấy rõ ấy, đó là phàm tâm bị tác động để giữ cảnh giới ngộ, nó không tan rã được; còn ngộ tức mê chưa dứt , vì mê với ngộ là tương đối, và tương sinh , mê là bệnh, ngộ là thuốc, cảnh giới ngộ còn ghi nhớ trong lòng là không được triệt để kiến Tánh .
Đến khi qua được cái ngộ rõ như thật ấy tan rã hết, người tu lầm tưởng mình đã đi lạc đường, không biết khởi dụng thiền định để tầm vô sư trí, cố ôm lấy các pháp hành trước đó, vì họ còn chấp Pháp , nhờ pháp đó mà ta thấy tánh, chẳng dám đổi pháp thiền từ minh quan sát trí sang thiền định , vì chấp lời Lục Tổ thiền mà đề tâm không nghĩ là chấp vào cái vô ký không, Tổ nói đúng , nếu lúc nào cũng cố dụng "tâm không nghĩ", cố tình đè nén để tâm không nghĩ , đó là ngoại đạo, chẳng phải Phật pháp , nhưng định là tâm không nghĩ, kế đó hành giả cần phải duy trì chánh niệm , rồi sau niệm đó lại dụng tâm không nghĩ (tức định) , chánh niệm là quán niệm, niệm sẽ cắt định, vô sư trí sẽ hiển bày ở cái khoảng Không lặng giữa hai lần quán liên tiếp .Tu tiên thì quán Tiên, tu Phật thì quán Phật, ai dụng quán nào thì về cỏi nấy.Kiến Tánh về tiên đạo cũng có kiến Tánh, Kiến Tánh về Phật đạo cũng là kiến tánh.Nhưng chổ dụng thì có khác nhau.
- Đến chỗ nầy thì cái ghi nhớ khi thấy Tánh rõ ràng ấy tan rã hết, là đến chổ cuối cùng của Kiến Tánh toàn diện đồng với nghĩa của câu nói "Ngộ rồi nhưng cũng như chưa ngộ". Hay câu nầy rõ ràng hơn "chẳng còn cần phải cầu tới ngộ"
Vì mê nên cầu Ngộ
Phá mê Ngộ ra đi
Chấp Ta chẳng thể về
Chấp pháp chẳng tiến tu
Hư không là ngoài Ta
Vậy mà chính là Ta
Cho dù ngộ như vậy, Phàm phu cũng cho là Phật tánh có sẳn, cũng ngộ con đường tu bồ tát đạo, Thập địa bồ tát cũng ngộ y như vậy, nhưng tác dụng có nhiều khác biệt
Vì sao ? Vì phàm phu dù cho ngộ triệt để nhưng tập khí thế gian và xuất thế gian còn nguyên, ( Tham sân si hỹ nộ ái ố giảm nhưng vẫn còn chỉ cần có mồi là lữa lại nổi lên ngay ) Thập Địa Bồ tát ngộ triệt để, tập khí thế gian đã sạch, tập khí xuất thế gian còn chút ít, rất vi tế, gọi là Tâm vi tế . Nên sức dụng của Thập Địa Bồ tát mạnh hơn sức dụng của phàm phu. Thập Địa Bồ Tát vận dụng được Hư Không, vì hư không là chính họ ( pháp thân ở cùng khắp) , phàm phu thì chẳng thể dụng.
Phàm phu nếu ngộ triệt để rồi tập khí cũng sẽ tự hết dần, cuối cùng cũng bằng với Thập Địa Bồ tát, bằng với Phật đó là vô thượng chánh đẳng chánh giác vậy.
Cùng như vậy nếu ai nói Ta đã ngộ tức đồng với Mê, ai nói Ta đã Kiến Tánh tức đồng với chưa kiến vậy
Tâm Vô sở là Tâm vô Ưu
Ưu tư chưa đắc để Tâm Buồn
Tự tại dụng tâm cầu vô sở
Cầu vô sở chẳng khác vô sở Cầu
Đây chính là cái chướng thứ nhất mà người tu hay gặp phải.
Xả thiền
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks