18 - NHỮNG TRIỆU ỨNG VỀ CAO ĐÀI
Căn cứ theo Thánh Ngôn của Đức Chí Tôn có câu" Khai Đạo muôn năm trước định giờ". Thật vậy, nên kinh sách của Minh Sư ở thời nhà Thanh bên Tàu có hai câu kể như sám truyền xin nêu ra để chúng ta nhận xét :
Cao như Bắc Khuyết nhơn chiêm ngưỡng,
Đài tại Nam Phương đạo thống truyền.
Cũng trong giai đoạn nầy quí vị Lão Sư bên Minh Sư mượn am động trên núi với cảnh u nhàn tĩnh mịt để tu, quí vị mới dựng nơi đảnh một mái Thảo Lư gọi đàn Cầu Tiên đặng xin kinh. Đây là lời của Ngài Cao Tiếp Đạo cho biết quí vị dùng bằng lối huyền cơ lấy sợi tơ buộc vào cán bút cở vừa tầm tay viết dưới thì một mâm cát mịn sạch khỏa phẳng mặt để đó cầu nguyện xong trong đêm sáng trở lên thấy có một chữ mà thôi, chép rồi khỏa lại, quí vị thật trì chí lần hồi chép xong được 2 bài Niệm Hương và Khai Kinh. Mỗi mỗi 4 câu y như bài kệ, tiếp đến Ngọc Hoàng Kinh 196 chữ, về Phật Giáo Tâm Kinh 124 chữ, đến Tiên Giáo Tâm Kinh 152 chữ, kế Thánh Giáo Tâm Kinh 118 chữ trong 4 bài nêu trên cộng là 590 chữ nếu tính 2 bài Niệm Hương và Khai Kinh còn nguyên văn chữ Hán khi hoàn thành kể gần 2 năm. Xin Kinh xong rồi để đó, quí vị bên Minh Sư chưa có lịnh dạy nên không áp dụng để tụng niệm, thành thử sau cùng quí vị căn cứ ở 2 câu Cao như Bắc Khuyết, Đài tại Nam Phương, nên cho người đem về miền nam Việt Nam. Sự luân lưu lâu đời mới vào kinh khố Tam Tông Miếu. Chừng Trời mở Đạo Tam Kỳ thì ơn trên giáng dạy Minh Đường, Minh Lý, Minh Sư, phải dâng Kinh cho Cao Đài Tây Ninh, khi được tin lành quí vị tiền bối ta đến thỉnh đem về phần Chánh văn có 7 bài, còn phần Việt văn do quí vị bên đó lúc ban sơ có cầu cơ nên phụ thêm : 1/ là 3 bài Thài Dâng Tam Bửu, 2/ là bài Xưng Tụng Công Đức Phật Tiên Thánh Thần, 3/ là bài Giới Tâm Kinh, 4/ Sám Hối, 5/ Cứu Khổ, 6/ bài Cầu Siêu. 7/ là 10 bài thơ tứ cú "Dễ gì lộn kiếp đặng làm người", khi Tiền Bối ta thỉnh về rồi mới thiết đàn cơ thì Đức Nam Cực Chưởng Giáo giáng giảng giải bài Niệm Hương bằng thể thơ song thất lục bát, kế Đức Lữ Tổ giáng giảng giải bài Khai Kinh cũng bằng thể thơ đó.
Đây là một ân huệ thiêng liêng dành để cho Tòa Thánh Tây Ninh mở đạo vừa xong thì có kinh cúng tứ thời. Bửu Kinh nầy lâu đời từ triều nhà Thanh đến nay có cả mấy trăm năm. Còn trước kia điềm trời xuất hiện tại xã Thạnh Đức thuộc Tỉnh Tây Ninh, là điều kỳ diệu một triệu ứng để chứng tỏ Đức Chí Tôn đến mở đạo kỳ ba tại tỉnh Tây Ninh cũng bằng lý số, theo sử Việt Nam người Pháp viết in tại Paris do sự phúc trình của Cai tổng Huỳnh Văn Nhu 9-9 Đinh Hợi (25-10-1887) có một tiếng nổ thật lớn từ hướng tây thấy một khối lửa chính giữa hiện ra con ngựa có sừng rơi xuống đồng ruộng xã Thạnh Đức cày một đường dài 32 thước, tức con số ngũ của Trời đất, bề ngang qua 6 thước là 2 con số của đạo pháp, bề sâu 2 thước thuộc lý số âm dương rồi khối lửa ấy từ từ bay ra biển Nam mất dạng. Những số nêu trên do người Pháp đo đạt còn cho biết trọng lượng của khối lửa nữa, Đoạn nầy Hiền Huynh Phối Sư Thượng Cảnh có trao cho Ngài Hiến Pháp xem, Ngài xác định đây là con Long Mã.
Thật vậy con Long Mã giáng nơi xã Thạnh Đức là một điềm Trời báo tin cùng nhơn loại có cơ Đại ân xá, thì con người nên Tu cái đức mới là thức thời, theo Cựu ước Đức Chúa Trời trước kia cũng đến bằng khối lửa giữa bụi gai và trên đảnh núi Sinai cùng nơi sa mạc với khối lửa ấy là chơn dương của Đức Chí Tôn là Đấng tự hữu ở ngôi Thái Cực, Chúa Trời đến lần nầy khác hơn trước có Long Mã ở trong khối lửa tức có Đấng Ngự Mã Thiên Quân thay thân cho Đức Chí Tôn trong nguơn bảo tồn đến lập đạo và tạo dựng một ngôi thờ Thần Thiên Lương của nhơn loại với hình con Long Mã.
Với một điều kỳ diệu gần đâytrước ngày Đức ChíTôn đến mở đạo Tam Kỳ, nơi Đảo Dương Đông tức Phú Quốc có ông Phủ Ngô Minh Chiêu là bậc đại căn nên được Đức Chí Tôn ban ân, đó là lúc ông đang ngồi bỗng dưng thần trí nhìn thấy cảnh Hư Linh, nào là Bồng Lai Cực Lạc. Vừa sợ vừa cầu nguyện nơi hình Thiên Nhãn, do ơn trên giác ngộ nên ông với tâm ngưỡng mộ mới vẽ Thiên Nhãn của Đức Chí Tôn để nơi tư gia mà thờ, cũng nhờ đó sau khi Đức Chí Tôn đến độ quí vị tiền bối ngộ đạo rồi muốn thờ Đức Chí Tôn là Thầy của mình nhưng chẳng rõ hình ảnh như thế nào, liền được lịnh dạy bảo phải đến ông Phủ Ngô Minh Chiêu đặng tìm hiểu Thiên Nhãn của Thầy vẽ để mà thờ.
Với điều kỳ diệu là Thánh danh của Đức Chí Tôn xưng cùng quí vị tiền bối lúc xây bàn bằng 3 chữ A Ă Â. Đó là Thánh ý của Đức Chí Tôn cho biết ngôi thờ Đức Cao Đài là Tòa Thánh hiện nay. A là Pháp HTĐ, Ă là Tăng CTĐ, Â là Phật BQĐ, với cái bàn cũng lý số lần đầu quí Ngài cầu với cái bàn 3 chân mặt tròn tại nhà của Đức Thượng Sanh cái tròn tiêu biểu lý "Thiên viên" bàn cũng chuyển nhưng chưa kết quả, lần sau cũng lần đầu tại tư gia của Đức Cao Thượng Phẩm với cái bàn vuông 4 chân tiêu biểu cái vuông của đất, từ lý Thiên viên đến số "Địa phương" mới thành đạt, đây không phải sự ngẫu nhiên với cái bàn có bí số mặt 4 tấc rưỡi vuông đó là con số Cửu của Càn Khôn, bề cao 7 tấc rưỡi tức là số 12 của Đức Chí Tôn tiêu biểu cho phần Thiên Thượng, tầng dưới kiềng thành giáp 4 bên, mặt lọt lòng 3 tấc 4 với con số 7 coi như tiêu biểu phần thiên hạ ở 7 cái thể nhơn loại, phép xây bàn tam vị tiền bối Hiệp Thiên Đài ngồi lại 6 bàn tay vịn vào với sự huyền nhiệm một năng lực như lục long vận hành hợp thành điển khí 3 ngôi của Đạo Pháp Thế, mỗi vị một lục thông ở cơ lập đạo giữa Trời và Người, một phép lục long ở 6 bàn tay của 3 Ngài, họp với 3 lục thông cộng là 24 chia ra thì 3 con số bát của 3 ngôi chuyển bàn hổng 3 chân còn một chân chấm đất, đó là nguyên lý của nguơn vô thỉ Nhứt Cực biến chí Tam Tài, nhưng đạo sanh nhứt. Còn khởi thỉ Thái Cực phát xuất 3 nguơn khí đó là Tam Thế Chí Tôn. Lúc xây bàn với cái bàn vuông Đức Hộ Pháp bên tả, Đức Thượng Phẩm bên hữu, Đức Thượng Sanh ngồi giữa đó là Đạo Trời thể hiện cơ tận độ chúng sanh, cũng như Đại Từ Phụ xưng danh chữ Ă là Tăng ở giữa, cũng như hình Tòa Thánh. Thế là Cửu Trùng Đài ở giữa, chẳng khác nào bức ảnh của Đức Hộ Pháp còn lưu niệm chụp lúc ban phép lành, thực hành cơ tận độ chúng sanh cái choàng màu xanh trở ra sau. Còn màu đỏ là Tăng ở giữa. Còn tụng Di Lạc Chơn Kinh với chiều thu liễm niệm danh Thần Brahma đến Thần Civa da đỏ tức là Tăng ở giữa của Kinh tận độ, cũng như phép chèo thuyền Tổng Thương là người tượng trưng chơn khí Thượng Sanh ở giữa là cơ tận độ, còn Tổng Lái là người tượng trưng Chơn Khí Hộ Pháp, Tổng Mũi là người tượng trưng Chơn Khí Thượng Phẩm, còn Tổng Khậu là người thể hiện cái bản tánh của chúng sanh nên sự cười khóc buồn vui đã biểu lộ, với 12 Bá Trạo tiêu biểu cho Thập Nhị Thời Quân, Đức Hộ Pháp có dạy nếu chúng sanh siêu hay đọa đều do Thập Nhị Thời Quân, thiết tưởng cái phần siêu nhờ nương ngũ khí mà lên, còn phần đọa do ngũ hành mà xuống. Ở cõi Thiên là Thập Nhị Thời Thần ở cõi trần là Thập Nhị Thời Quân, Thời có nghĩa là Thần của mỗi giờ ở Pháp khai nguơn lập hội trong 12 Địa Chi, Thời Quân là định danh, Thời Thần là tượng lý nên Thánh ý của Đức Chí Tôn với cơ tận độ thâu môn đồ đầu tiên là Nguyễn Bảo Pháp lúc còn xây bàn, người sau hết là Cao Tiếp Đạo mới đủ 12 Thời Quân, kể như Thánh ý Đức Chí Tôn giữ Pháp cho nhơn sanh đạt Đạo.
Với điều kỳ diệu Đức Chí Tôn đến mở Đạo Tam Kỳ còn tiên tri Thầy đến lập đời Thánh Đức tạo cảnh Nghiêu thiên, Thuấn nhựt cho nhơn loại một nền hòa bình vĩnh cửu, với Tôn chỉ Luật là thương yêu, Quyền là Công Chánh, quên mình làm nên cho người, kể như một đạo một cha, một nhà chung, làm chung, ăn chung, sống chung. Đó là triết lý cộng sản nguyên thỉ của thời vua Nghiêu, nên Tôn giáo Cao Đài Đại Từ Phụ ban Tịch Đạo hai chữ Thanh Hương của thời Lý Giáo Tông thiêng liêng do Đức Ngài cầm quyền Thánh Thể để dìu độ Chức sắc thực hành sứ mạng nơi mình. Có nghĩa thay hình thể của Chí Linh đặng phụng sự cho vạn linh với mục đích 2 chữ Thanh Hương, xưa kia ông Hồng Bạch Thanh, ông Hồng Bạch Hương hai cha con ở thời vua Nghiêu với đường lối tổ chức về cuộc sống được số người hướng theo rất đông làm chung, ăn chung, sống chung. Chung lo với nhau lúc mạnh cũng như khi đau, làm ra tiền nông để nhà chung, ai muốn dùng tùy tiện lấy mà dùng, không tham lam không kiện tụng. Nhà không đóng cửa đường không lượm của rơi, nên thời vua Nghiêu mới có câu "gia vô bế hộ, lộ thập bất di" người người vui nếp sống an nhàn tự toại "Kích nhưỡng nhi ca" luật pháp nhà vua khỏi xử trị, cuộc sống có hệ thống tổ chức mở đường, phân lô nhà cất cứ 12 cái trong một tổ để tiện bề săn sóc giúp đỡ cho nhau.
Nói rõ hơn nữa Tịch Đạo Thanh Hương là thời kỳ của hoa, phải chịu bao sự phong ba bão táp mà còn giữ được trong sạch thơm tho thì con người tu của chúng ta sẽ kết quả ở đạo tâm, còn Tịch Đạo Tâm là thời kỳ của trái muốn gặt hái tốt phải gia công vun phân tưới nước mới được quả lành.
Kết luận tịch Đạo Thanh Hương của Chức sắc làm Thánh Thể cho Đức Chí Tôn Nam thì Thanh Nữ thì Hương; từ phẩm Thiên Thần đến Địa Tiên thuộc Nguơn Tinh nên có lót ở Thánh danh, về thực hành chơn lý từ ấn pháp đến hình thể đều có con số 12, châu vi Nội Ô có 12 cửa, còn Tòa Thánh có 12 đài, nhưng phần chánh yếu có 3 đài : Bát Quái, Hiệp Thiên, Cửu Trùng; Tôn giáo xem đây là nhà chung, kể cả tinh thần sản nghiệp chung, làm chung ăn chung sống chung hòa đồng tín ngưởng một ông cha chung, khiến cho kẻ cầm bút phải đôi phút suy tư tất nhiên.
Thật vậy cây lành dành cho chim đổ. Đất phước để chứa người nhân ấy là lẽ xưa nay.CẢM ĐỀ
Châu vi Tòa Thánh thật an ninh,
Quang cảnh nơi đây khác thế tình.
Mỗi cổng biểu dương câu liễn đối,
Ba đài thể hiện bóng trời thinh.
Chí Tôn đã đến bày chơn pháp,
Sanh chúng như mừng được cứu tinh.
Trước có rừng thiên nhiên mát mẻ,
Chim ngàn vầy tổ xúm nghe kinh.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks