13 - NGÔI ĐỀN
VỚI NGUYÊN LÝ ĐẠO PHÁP


Đối với nhơn loại một sự trọng đại là Toà Thánh Tây Ninh. Mặt tiền day về chánh Tây lại là nơi thờ Trời, nên tất cả chúng sanh khi bái lễ phải xây mình chánh Đông mà chiêm ngưỡng đó là hướng dương khởi, tức Đạo sanh, nên sự hành lễ cúng Tứ Thời Thần Khí của chúng sanh phải vận hành theo Thần Khí của Trời Đất với hình Thập tự nhai. Phải xoay theo chiều chưởng giải từ đầu suốt cuối chỗ nguơn khí trời đất hưng vượng Bắc Tý thời, Nam Ngọ thời, còn chỗ nguơn thần của Trời Đất hưng vượng Đông Mẹo thời, Tây Dậu thời, nếu thần khí của người tu không để tách rời cứ vận hành theo thần khí của Trời Đất sẽ đoạt cơ dục tấn ở mặt huyền linh.

Nên ngôi Tòa Thánh do Đức Hộ Pháp sáng tạo được thể hình cơ Vận Chuyển Thần Khí của trời đất, với ngôi Đền Thờ Đức Thượng Đế, mặt tiền day Chánh Tây. Nhưng có 4 cửa trở qua Đông. Đó là Lôi Âm Cổ Đài và Bạch Ngọc Chung Đài, với Nghinh Phong Đài, Bát Quái Đài. Với ngôi đền cửa thì day Chánh Tây. Còn 4 đài cửa lại day Chánh Đông. Chúng ta nhìn vào đó thấy rõ sự biểu tượng lý âm dương của Càn Khôn về đạo pháp.

Nếu nhơn loại biết sùng niệm Đức Chí Tôn trong Tứ Thời để hứng lấy sự hồi quang phản chiếu đặng bảo tồn cơ sanh hoá cho cả vạn vật được chuyển hoá để tấn hóa. Nên bên trong Điện Thánh giáp vòng tầng hành lang lầu trên hông tường mỗi phiùa tả cũng như hữu đều có 12 cái nạnh để chỏi tầng hành lang thể hình bằng bó hoa có 4 màu, trắng là màu đạo tiêu biểu vạn vật bình đẳng ở cái sống cùng một khí sanh của Tạo Hóa, còn màu Tam Thanh biểu tượng cho tam thể chúng sanh, màu đỏ tượng thể Tinh, màu xanh tượng thể Khí, màu vàng tượng thể Thần, nên bó hoa ở dưới tầng hành lang làm nơi chầu Lễ cho các vị với phẩm Thiên Thần trong mỗi kỳ cúng Đại Đàn. Luận về Tinh Khí Thần hay Phật Pháp Tăng, thì Toà Thánh Tây Ninh là một ngôi Đền được thể hình chữ "Sơn" nằm trên không nhìn xuống 2 ngạnh đôi bên là Đông Lang, Tây Lang. Gần đây Đức Phật Thầy Tây An có nói lên bốn chữ "Bửu Sơn Kỳ Hương" coi như tiếng chuông cảnh tỉnh để đưa đường cho sanh chúng sau này hướng vào nơi nào núi báu hương lạ để mà tu, chính Toà Thánh Tây Ninh đứng bốn phía nhìn đều có hình Chữ Sơn"Liên Sơn thành khí". Đó là nguyên lý chỗ trụ nguơn thần của Đấng Chí Linh và khối đức tin của nhơn loại.

Khoảng giữa Hậu Điện là tầng lầu nhà Hội Công Đồng với Tháp Đức Quyền Giáo Tông và Đông Lang, Tây Lang cũng hình chữ Sơn, đứng đôi bên nhìn lên nóc đền giữa Nghinh Phong Đài, sau lầu Bát Quái, trước lầu chuông trống cũng hình chữ Sơn. Trước sân đền nhìn lên 2 lầu chuông trống. Còn Bát Quái Đài, Nghinh Phong Đài ở sau nhô lên ngay giữa cũng hình chữ Sơn; còn bên trong ngôi đền nơi Ngũ Lôi Đài bửu tượng của ba Ngài Hộ Pháp. Thượng Phẩm, Thượng Sanh đồng ngự trên ngai với hình chữ Sơn.

Nhưng Đức Hộ Pháp ngự giữa, mình mặc giáp tay cầm bửu pháp Kim Tiên đầu đội mão, trên có chĩa Tam Sơn. Thể hiện ở Đức Ngài nắm chủ quyền Tam Thiên Thế Giới và Tây Phương Cực Lạc căn cứ theo Pháp Chánh Truyền chú giải, nên bửõu Tượng của Đức Ngài ngự ngay Chữ Khí tất nhiên để nắm quyền ngự trị Chưởng quản cả Bát Bộ Tam Châu, đó là Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hạ châu, Nam Thiệm Bộ Châu, riêng Bắc Cù Lư Châu quyền của Kim Quang Sứ ngự châu nầy. Kể như cái bóng tối của Vũ Trụ ở sau lưng Đấng Đại La, nhưng Đức Hộ Pháp nắm cơ định vị Càn Khôn thay thân Đức Chí Tôn đủ quyền xử trị. Nếu các chơn thần nào phản loạn gây lắm tội tình Đức Ngài chiếu khuôn luật Hư Linh đọa vào quỉ vị đày qua Bắc Cù Lư Châu, tất nhiên những chơn hồn đó phải chịu ở sự hành quyền của Kim Quang Sứ sai khiến, thảng như các chơn hồn trọng tội mà biết cải hối thì Đức Ngài dùng pháp siêu rỗi đem về ở Ba Châu nói trên, đó là luật Công bình thiêng liêng cũng như ở mặt thế vậy. Chúng ta niệm danh Hộ Pháp với chữ "Tam Châu" kỳ thật Đức Ngài nắm cả Tứ Đại Bộ Châu ở cơ định vị, còn Bát Bộ là bát phẩm chơn hồn của chúng sanh ở trong Càn Khôn cũng do quyền của Đức Ngài xử trị.

Với chữ Sơn về triết lý Cao Đài Nội Ô Tòa Thánh có 12 cửa Tam Quan tính luôn cổng Chánh Môn và bên trong có 3 ngôi Bửu Tháp đối diện đền thờ của Đức Chí Tôn, chúng ta thử để mắt nhìn tất cả đều thể hình chữ Sơn, mỗi cửa ngạnh giữa có 3 Cổ Pháp. Còn hai ngạnh đôi bên với giỏ Hoa Lam hoặc ba vòng Tam Thanh của Tôn Giáo. Sự thể hiện để chứng tỏ màu đỏ tượng cho thể Tinh, màu xanh tượng cho thể Khí, màu vàng tượng cho thể Thần, đó là pháp luân của trường tu. Đứng bên ngoài nhìn vô, lối đi có ba khoảng không như ngạnh chữ Sơn. Chúng ta đến với phía hữu, về với phía tả, nên tất cả những gì phải đủ ba mới có hòa Khí. Dầu trên nguyên lý âm dương phải có pháp mới tạo thành Càn Khôn.

Vì đó mà nền Chơn Đạo của Đức Chí Tôn phải có 3 hội lập quyền, với mục đích dân chủ, là Hội Nhơn Sanh do Thượng Chánh Phối Sư chủ tọa, gom cả nguyện vọng của nhơn sanh đệ đạt lên Hội Thánh; với Hội Thánh thì Thái Chánh Phối Sư chủ tọa, dầu Ngọc Chánh Phối Sư là vị Chủ trưởng Chức sắc cũng kể là hội viên.

Trong phiên họp, Hội Thánh cứu xét xong mới trình lên Thượng Hội. Với Thượng Hội do Hộ Pháp và Giáo Tông chủ tọa. Còn Phẩm Địa Tiên với Nhơn Tiên kể là hội viên. Cả ba hội đồng ý ký tên mới đem ra thực hành tức là quyền vạn linh đối cùng Chí Linh dầu hữu hình cũng vậy.

Nên Tôn Giáo Cao Đài do cơ bút phát xuất Pháp Chánh Truyền, còn quyền Vạn Linh hiệp cùng Chí Linh mới tạo thành Đạo Luật vào năm Mậu Dần. Riêng bộ Tân Luật ơn trên dạy cả Chức sắc lập thành, khi xong Hội Thánh cầu nguyện đệ trình lên Đức Lý Giáo Tông duyệt lại, kể như lễ Trấn Thần bộ Tân Luật, 6 bàn tay của ba Chánh Phối Sư cùøng nâng dâng lên, 6 bàn tay của 3 vị Đầu Sư tiếp nâng dâng lên 6 bàn tay 3 vị Chưởng Pháp rồi vòng lên bên trên Chúa Cứu Thế. Đức Chí Tôn nói mắc Tiên Vị Thái Bạch. Bởi Thiên vị của Đức Lý Giáo Tông bằng không phải qua khỏi đầu Phật Thích Ca nữa. Với giá trị đó có nghĩa là Bộ Thiên Luật.

Kể như Tôn Giáo Cao Đài về mặt hình thức có một tổ chức đại qui mô khác hơn Công Giáo La Mã có cả Hội Thánh Anh và Hội Thánh Em làm cơ tận độ Chúng sanh, Tòa Thánh là nơi sùng bái ở sự thờ phượng. Còn Tòa Nội Chánh có Cửu Viện để điều hành guồng máy Chánh Trị Đạo. Nên từ trung ương bổ chức sắc đến địa phương để giúp đỡ Hội Thánh em là Bàn Trị Sự người được gần gũi cùng Chúng sinh, trong mỗi kỳ Đại Hội Nhơn sanh số người đó được đề cử vào Nghị viên, Phái viên với cái quyền đại diện Vạn Linh,

Còn Hội Thánh Anh là hình thể của Chí Linh muốn biện minh phải có những gì để tượng trưng và thể hiện. Nên khi lập thành Hội Thánh để thay hình thể Đức Chí Tôn thì Pháp Chánh Truyền đã tiêu biểu cái nguyên lý Càn Khôn Vũ Trụ trong đó.

Nên Tịch Đạo đầu tiên với bí pháp đã thể hình 3 ngôi báu của Trời là Nhựt Nguyệt Tinh, được lồng trong thánh danh của Tam Vị Đầu Sư có một không hai ở cơ khởi thỉ phải Tý Sửu Dần. Thượng Trung Nhựt Bính Tý, Ngọc Lịch Nguyệt Canh Dần, có lẽ Sửu là Thái Minh Tinh vị Hòa Thượng ở Tân an, học trò của Như Nhãn được cơ phong mà không hành đạo Đức Chí Tôn mới phong ông Thái Nương Tinh tuổi Tân Mùi. Khi đủ ba rồi Hội Thánh mới làm lễ Đăng Điện cho Tam Vị Đầu Sư ngự trên ngai. Quí vị đại căn được cơ phong.

Do Thánh ý của ơn trên nên phong cho đủ ba ngôi tam bửu bên Cửu Trùng Đài đó là Nhựt Nguyệt Tinh thay vì Tinh Khí Thần của Hội Thánh để làm hình thể cho Đức Chí Tôn thì phải có cái nguyên lý của Càn Khôn được biểu tượng, về hình thể của Hội Thánh, có 4 cơ quan Chánh Trị Đạo, 1/ là Hành Chánh, 2/ là Phước Thiện, 3/ là Tòa Đạo, 4/ là Phổ Tế, để làm tay chơn cho Hội Thánh là hình thể Đức Chí Tôn; nên 4 cơ quan đó có nghĩa tiêu biểu cho Tứ Đại Bộ Châu, còn 3.000 Giáo Hữu thể hiện cho Tam Thiên Thế Giái. 72 Giáo Sư thể hiện cho Thất Thập Nhị Địa, 36 Phối Sư thể hiện cho Tam Thập Lục Thiên, còn ngôi Nhứt Phật Tam Tiên tượng trưng cho nguyên lý đạo ( một cội sanh ba), vì đó mà cơ khởi thỉ của Đức Chí Tôn biến ra 3 Nguơn Khí, 1/ là Nguơn Khí của lý phản phục, 2/ là Nguơn Khí của pháp thu liễm, 3/ là Nguơn Khí của cơ định vị Càn Khôn, 3 Đấng đó giúp Đức Chí Tôn tạo thành một đại vũ trụ, nên cơ lập đạo của Đức Chí Tôn cũng vậy xưng danh với 3 chữ A, Ă, Â cái bí pháp thứ nhứt là Hội Yến Diêu Trì, bí pháp thứ 2 là Đàn Vọng Thiên cầu Đạo, bí pháp thứ 3 là Tượng Phật Tổ cỡi ngựa, thuở còn ở ngôi Thái tử mặc đồ triều phục quyết lòng giục con Găn Ta Ca vượt Hoàng Cung đi tầm đạo. Đức Chí Tôn đến lập giáo tức phải có Nhơn sanh tùng giáo, cái người mà bỏ ngai vàng đi tầm đạo tiêu biểu cho thượng đẳng nhơn sanh, còn hình sa Nặc kẻ hầu để tượng trưng cho hạ đẳng nhơn sanh biết tháp tùng trọn tâm cũng thành chánh quả, bởi Đức Phật cho cảnh vinh hoa là con đường sa đọa. Còn sự đau khổ đó là pháp giác ngộ cho Phật, khi Phật còn là thái tử Sĩ Đạt Ta sống trong hoàng cung chưa thấy cái khổ ở cõi đời; chừng du ngoạn ngoại thành mới thấy được cái khổ của chúng sanh mới quyết tâm tu hành để thọ khổ, đặng tìm phương giải khổ chúng sanh, nên được chúng sanh xưng tụng với cái danh là Đức Thế Tôn.

Còn cả Chư Thần Thánh Tiên Phật với cái danh chúng sanh hằng niệm là Thiên Tôn. Riêng ở Đức Chí Tôn với Thánh Danh Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn là do cả Chư Thần Thánh Tiên Phật trong cõi Đại Thiên Thế Giới, và toàn Thiên hạ nơi quả địa cầu đồng xưng tôn Đấng đó là vị Vua Trời nơi cõi Thượng Thiên rất công bình và háo sinh vạn vật. Nên đạo mở kỳ ba với cơ tận độ quần sanh còn dành nơi lập vị cho chúng ta, chót hết là phẩm phàm tục được nối liền với Cửu Phẩm Thần Tiên thành một khối Nguơn Thần cho ngôi Tam Tài ở mỗi cấp là Địa- Nhơn-Thiên; nên phần nội tâm ngôi đền đã thể hiện toàn là liên hoa Thiên Nhãn đó là khoa bảng buổi Tam Kỳ của giới người tu, muốn đạt đạo phải thực thi tinh anh toàn hảo mới đúng với Tịch Đạo Thanh Hương của Đức Lý Giáo Tông.

Nên khi lập thành Hội Thánh căn cứ theo Pháp Chánh Truyền về nữ phái từ phẩm Lễ Sanh đến Nữ Chánh Phối Sư, mặc đạo phục khi hành lễ, đều thể hiện Thiên Nhãn với bông sen trắng. Còn bên nam phái từ phẩm Lễ Sanh đến Giáo Tông được tượng trưng Thiên Nhãn. Riêng ba Đầu Sư và Thái Chưởng Pháp không Thiên Nhãn chỉ có bửu vật. Riêng hai phẩm tột bậc Giáo Tông và Nữ Đầu Sư áo Đại Phục lại là bông sen vàng. Bởi sen là vật rất tinh khiết tuy sống dưới bùn mà chẳng nhiễm mùi bùn nên Phật dùng làm liên tọa với màu đỏ. Nhìn vào sự tiêu biểu đó chính nó là nguơn chất của thể phách người tu khi đạt vị mới phát xuất kết thành ngôi Tăng để làm tòa ngự cho Phật Pháp. Còn Thiên Nhãn tiêu biểu cho cái lý nhân bản về Thần cũng như phàm nhãn của chúng ta dầu một tí bợn trần cũng đừng cho dính. Nên trên Cung Đạo cũng có một Thiên Nhãn đó là cái cửa để khi nâng loan các đấng tiếp điển giáng trần, và dành khi cầu nguyện cho các Chơn Thần của người qui vị được nhập cảnh hằng sống vào Tam Thập Lục Thiên, nên Cung Đạo vòng hào quang bao quanh có 36 tia bằng kiếng thủy, còn Thiên Nhãn nơi Cung Đạo ta thấy đó chỉ có 16 tia hào quang tượng lý âm dương nếu chia ra là 2 con số bát, tức thị ngưỡng cửa của Nguơn Thần. Với nguyên nhân đó nên Đức Hộ Pháp mới ra lịnh bảo Bà Tư Giáo Sư Hương Hiếu cho nữ phái may một tấm phủ quan ở giữa có Thiên Nhãn, nhưng Bà rất ngần ngại. Trên là giá đèn dưới là quan tài mất sự tinh khiết.

Nếu nhận xét về triết lý đó là ngưỡng cửa dành khi Hành Pháp Độ Thăng và Đoạn Căn để cho Chơn Thần tiếp níu Chơn Linh, với một Thiên Nhãn thờ nơi hậu Khách Đình bên dưới Thánh Tượng chẳng có Long vị, không hình Tam Trấn để đại diện cho Tam Giáo Tòa nắm luật Pháp đặng áp dụng Thiên điều, kể như Đại Từ Phụ lẻn đến đặng dìu độ chúng ta trong cơ ân xá chỉ có siêu chớ không có đọa. Cho nên nơi thờø Đức Đại Từ Phụ ở giữa, còn hai bên là phòng xác của chư tín đồ nam nữ, hoặc chức sắc, chức việc với anh em công quả không gia cư kể như người hiến thân trọn đời cho đạo. Dầu ở phẩm Hạ Thừa không được tế điện nơi Báo Ân Từ, không được Hành Pháp Độ Thăng nơi Đền Thánh, nhưng mà một ân huệ lớn lao coi như Đại Từ Phụ trộm đến cùng chúng ta là một đám con tầng chịu thiệt thòi dốt nát. Nên cái nghi tẩn liệm được đặt ngay chính giữa trước Thiên Bàn nơi hậu Khách Đình, cho Đại Từ Phụ nhìn thấy những đứa con yêu ái biết hi sinh phụng sự vạn linh lần cuối cùng trước khi gói xác. Nhưng tại Đền Thánh cũng có một Thiên Nhãn không Tam Trấn thờ ở Thông Thiên Đài là nơi Đức Hộ Pháp chấp bút cầu Đức Chí Tôn giáng dạy những điều yếu nhiệm về Chơn Pháp, dầu các đấng thiêng liêng hay Chúa Quỉ cũng chẳng được quyền xâm nhập nơi đó, chỉ có Giáo Tông cần đến để thông công trước nhứt phải nhờ Hộ Pháp, kể như một ân huệ của Đức Chí Tôn dành riêng biệt cho hai Đấng lãnh đạo tối cao về mặt Tôn Giáo. Tôn Giáo là một tổ chức về hình thức có Tôn chỉ có Giáo điều nên gọi Tôn Giáo.

Còn mặt tiền Tòa Thánh bên ngoài Thông Thiên Đài có một Thiên Nhãn rất lớn, trước Thiên Nhãn là mô hình bảng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ trên có 3 Cổ Pháp, để mắt nhìn ở ngay hình Thiên Nhãn trước giữa Tòa lầu Hiệp Thiên Đài, để chứng tỏ cả loài người và Chư Thần Thánh Tiên Phật nơi mặt thế hướng vào đó trụ khối đức tin đặng tạo một linh đài ở bổn tâm để làm tòa ngự cho Đức Chí Tôn, giáp vòng Thiên Nhãn có 35 tia hào quang, cộng là 8, thể hiện bát phẩm chơn hồn ở trong Càn Khôn đều do Nguơn Khí của Đức Chí Tôn sản xuất. Đây là sự thể hình bên ngoài kỳ thật bên trong Thông Thiên Đài có thờ một Thánh Tượng. Còn 23 Thiên Nhãn ở giữa khung hình tam giác giáp vòng đôi bên ngôi Đền Thánh mặt trong cũng như ngoài tất cả là 46 Thiên Nhãn. Với triết lý Cao Đài "Thần vô phương" tin chắc chỗ nào cũng có mắt Trời để phúc báo việc dữ lành ở thế gian. Cho nên mọi hành tàng của chúng ta khó che giấu được với Thần linh.

Đó là trường hợp hai người con trai của ông A Dông anh là Caen dùng ngũ cốc hiến lễ mà Chúa Trời không nhận, còn em là Ơbên dùng con lừa làm của lễ mà được Đức Chúa Trời nhận, vì đó mà Caen tức giận Ơbên, nên tìm cách giết và thủ tiêu. Nhưng rồi Caen cứ thấy có một con mắt nhìn mình với vẻ trừng trợn nên Caen sợ quá vào phòng kín cũng thấy, mới đào hầm thật sâu xuống dưới ở trên có nắp đậy mà vẫn thấy. Sau cùng ra giữa bể cả cũng thấy. Đó là Thần lương tâm ta thấy mới khiển trách ta. Thần ấy tức là Trời vậy.

Với của lễ dầu ít hay nhiều tốt hay xấu ở con người tỏ ý kỉnh mà thiếu tâm thành thì ơn trên không chứng. Bởi chúng ta là phẩm tối linh trong bậc Tam Tài nên triết lý Cao Đài đã biểu tượng Thiên Nhãn giữa hình Tam Giác để tiêu biểu cho nguyên lý Thái Cực tức thị Nguơn Thần, mỗi Thiên Nhãn có 16 tia hào quang tượng thể 2 con số bát của lý âm dương hiệp nhứt là nơi phát xuất Nguơn Thần. Phần dưới có 7 tia phần trên có 9 tia, 7 tia tiêu biểu thất diệu của Đức Chí Tôn phổ chiếu làm cho Cửu Khiếu của nhơn loại hiệp Cửu Thiên.Với chân lý đạo đã thể hình mỗi Thiên Nhãn là 16 tia hào quang tiêu biểu Nguơn Khí cho ngôi Tam Tài.

Còn sen thể hiện phần Nguơn Tinh cho ngôi Tam Tài, nên trên dưới có hai góc tiêu biểu cho Lưỡng Nghi, 4 cái gương tiêu biểu cho Pháp Tứ Tượng, với vòng bọc tia hào quang hình chữ nhựt mỗi góc xắn bánh đút tiêu biểu cho Bát Quái, 10 cái lá tiêu biểu cho Thập Thiên Can, 12 cái ngó tiêu biểu cho Thập Nhị Địa Chi, còn 10 cái hoa tiêu biểu trên dưới cõi ta bà có 10 phương Phật. Với 1 Thiên Nhãn trên quả Càn Khôn ở trong hình Tam Giác của khung mây, nơi đây là chỗ để tứ thời chiêm ngưỡng và luyện Thần, còn ở chúng ta trung điểm là thiên đình khéo tu mới mở được con mắt Thiên Lương đó là ngưỡng cửa Hiệp Thiên, tất nhiên để người họp cùng Trời. nên khi lấy dấu Phật chí trán, dấu Pháp, dấu Tăng chí giữa khoảng mắt tai cả hai với trên thành hình tam giác. Phần đầu thể hiện cho Thông Thiên Đài mỗi bên có một cửa tả chữ Nhựt, hữu chữ Nguyệt, ở con người là đôi mắt, còn phần nội tâm ngôi Đền trong tứ thời hành lễ, ta định thần phóng hai lằn điển quang vào Thiên Nhãn thành cực nhỏ, còn ở phàm nhãn ta là cực lớn, với chơn pháp thống hợïp Tam Tài tức thị cây thước cân thần, chừng gom lần vào giữa trán hễ tán là khí, tụ là thần, coi như "Phá nhứt khiếu chi huyền quang" nên sự hành lễ tứ thời nơi nghi thờ chúng ta cũng thống hợïp Tam Tài với ba dấu Phật Pháp Tăng là tài của nguơn vô thỉ với ba điểm dương ở Thái Cực Lưỡng Nghi là tài của Cơ Khởi thỉ, chừng lạy hai ngón cái gác tréo, 2 ngón trỏ dụm lại là tài của phép định vị, ba điểm dương nơi Thiên Bàn là hiện thể Thái Cực sanh Lưỡng Nghi với hình tam giác, có ba chung rượu đựng một cái dĩa thễ hình tam giác về sự thờ cúng đức Chí Tôn lúc còn Tòa Thánh tạm trên hết là quả Càn Khôn, trước dưới cấp Bát Quái có cốt tượng Tam Giáo, Tam Trấn, Chúa Cứu Thế, Khương Thái Công, kế ngoài với 7 chiếc ngai của Chi Nhơn Đạo, y hình Thánh Tượng Ngũ Chi in kỳ nhứt có 3 chung rượu, trong 3 mà có 1, trong 1 thành 3, bởi 1 chung ngoài, 2 chung trong, đạo tượng lý tiêu biểu cho 3 nguơn khí của Đức Chí Tôn là Đấng Tạo đoan trong Cơ Khởi Thỉ Càn Khôn, Vạn Vật. Cũng như ngôi Đền Thánh 2 lầu chuông trống với Bát Quái đó là hiện thể Thái Cực của hình tam giác, ở giữa là nóc Nghinh Phong Đài Long Mã Phụ Hà Đồâ với nguyên lý trung điểm pháp âm dương ký tế đặng bảo tồn cơ sanh hóa.Với hình con linh vật sau nhỏng đuôi, trước ngoái đầu tiêu biểu cho một châu kỳ Hạ nguơn Tam chuyển với lý trung hòa là Hà Đồ.

Nếu ngoài giờ hành lễ chúng ta luyện Thần bằng cách nhìn Thiên Nhãn mà bản tâm thiếu sự thanh tịnh, tất nhiên sẽ mất cơ an định cho Thần, Bởi có một phần người quá vọng niệm để cầu Phật pháp, tự ngồi thiền nhìn Thiên Nhãn để tưởng niệm Đức Chí Tôn mà tâm tư vận hành pháp môn của giáo phái, kể như trái hẳn chơn truyền, với Hộ Pháp cấm tịnh luyện ai vọng niệm thì Đức Ngài cũng rộng quyền cho Pháp chủ đó dẫn dắt, tu gắng thiền tâm chẳng nên thiền thân. Thảng như ta ngồi yên một chỗ mà tư tưởng hướng theo ngoại cảnh tức thị tâm bị phóng, có khác nào ta mượn pháp môn ấy đóng lấy cái chuồng để nhốt con kỵ vật lại mà thôi, phép tu hành chẳng nên quyến niệm. Vì Tâm đã an định với phép thường trụ thường tại tức là vô biệt niệm, tuy không niệm mà chánh niệm đó là chơn niệm, còn vọng niệm biến thành tà niệm tức là ảo niệm, cứ tin ở sự mầu nhiệm thần ta được đối cảnh. Nhưng tất cả đều huyền ảnh do tâm xuất tướng mà thôi. Nên Đức Hộ Pháp cấm tịnh luyện. Đức Ngài phán mấy em đủ Tam Lập qua sẽ cân thần cho nhập Tịnh Thất, ở chúng ta sự tịnh luyện là cúng Thời. Mọi sự vật không mắc vướng trong tiềm thức là thiền, "thiền" có nghĩa là an định, an là thuận thiên mệnh, định là trụ phật tánh, chớ thiền thân mà tâm còn vọng niệm chẳng nên thiền, ví như ta tạo một thanh đao đặt nơi tôn nghiêm thể hiện cái oai linh là chánh pháp, bằng đem áp dụng vào việc khác nó là tà. Vì lẽ đó nên khó thống hợp được Tam Tài ở phần tượng lý của nguơn Vô Thỉ Đạo sanh nhứt là Phật, Nhứt sanh nhị là Pháp, Nhị sanh tam là Tăng; được thể hiện nơi Thiên đình, ở con người với hình Tam giác của 3 dấu niệm, Phật là Thần, Pháp là Khí, Tăng là Tinh. Nên phần bí yếu phá được huyền quang khiếu tức mở con mắt Thiên Lương giữa trán thì chơn tánh trụ lại với Thiên Lương của tâm là hiệp vô vi, còn "chi bí chỉ" là chỗ yếu nhiệm về pháp giới tâm linh chẳng còn sự hành động nhờ đắc tam diệu là hiện thể ở pháp tánh, còn "đắc tam bồ đề" là tác dụng của đạo tâm. Nên trước Thông Thiên Đài đã phát huy chân lý đó. Ta nhìn thấy có một Thiên Nhãn không phải mắt bên trái hay bên phải đó là ngôi điển khí Hư Linh, phản chiếu ở người là Huyền Quang Khiếu, ở Trời là Huyền Khung tức thị cửa Hiệp Thiên nơi thống hợp tam tài mà nền minh triết Cao Đài đã thể hiện 3 Cổ pháp: Xuân Thu, Phất Chủ, Bát Vu, thay vì Phật Pháp Tăng, trong trời đất vạn vật được hóa sanh do nguồn cội pháp của Đấng Cửu Thiên, ở con người vạn pháp qui nguyên nhờ khai thông đệ bát khiếu mới mở được con mắt giữa. Với cửa xuất nhập của Chơn Thần là Nê Hoàn Cung mới đủ 9 ở pháp định vị cho tiểu Vũ Trụ.

Chừng khởi thỉ ngôi tam tài là Thiên Địa Nhơn do pháp giới chúng sanh định danh là vậy. Nên mỗi kỳ hòa ước được thực hành chẳng phải ở chỗ Trời với người mà thôi có đất mới đủ tam tài. Trời là Thiên Thượng tức là Đấng Chí Linh, Người là Thiên Hạ với phẩm tối linh để đại diện cho vạn linh mỗi kỳ hòa ước. Nhưng cái lý trung hòa là đất làm phương tiện về chứng pháp cho bản văn kiện. Nếu loài người không thực hiện thì đất sẽ bị tang thương, vạn linh cũng chịu đau khổ, Trời cũng đổ lệ trong cơn gió thảm mưa sầu. Chớ đất cũùng có 4 cái đức lớn (Nguơn Hanh Lợi Trinh) Tẫn mã chi trinh, còn Đức của Trời gốc ở Thời, đức của đất gốc ở lợi, đức của người gốc ở hòa, đó là tam diệu đức. Buổi nầy càn khôn dĩ tận thức nhơn loại đã hiệp đồng, tiến theo trào lưu chẳng còn thuần phong mỹ tục. nên lòng con người mải tham dục say mê vật chất làm cho mất cái điểm linh. Cũng do nền văn minh khoa học, nhưng khoa học do gốc đạo học mà sinh, Đạo học chú trọng ở tâm linh, còn văn minh khoa học thiên về trí giác, bước cùng tột xuất phát vũ khí hạt nhân, Chừng nào tinh thần đó qui bổn thiện khoa học mới là phương tiện, nhờ đạo học cứu cánh. Nói về khoa học có thể chẻ sợi tóc làm 5 làm 7 đặng khám phá, còn Đạo học không phải ở sự tiềm tàng của vật thể, chừng mở được giác quan thứ 8 ở tâm linh thì thần trí sẽ nhìn thấy những gì còn sót lại, mà thế giới hiện đại cho là khoa học huyền bí.

Đạo học là cái dụng, Khoa học là cái thể, nên dùng viễn kính soi thái dương hệ mới soạn ra Dương Lịch, thứ của Chúa Trời, còn ngày giờ năm tháng của Chúa Cứu Thế, mục đích của khoa học để đếm ngày tính thứ âu cũng đem đạo Thánh phụng sự cho nhơn loại.

Còn Đạo Học nhìn vào sự tròn khuyết của ngôi thái âm mà soạn ra Âm Lịch. Có chu kỳ rất hữu ích cho đời về dịch lý âm dương. Năm tháng có can chi, ngày giờ cũng có can chi, có thạnh suy, có thời tiết, giúp cho con người để hiểu biết sự vận chuyển của ngũ hành. Trong nguơn niên có tứ quí, nên bản thân ta cũng là một tiểu thể vũ trụ, tức nhiên sự tuần hoàn chính pháp can chi nơi cơ thể, để tiến theo thời gian cho kịp pháp can chi của Tạo Hóa mới khỏi cái họa diệt vong của khoa học hiện đại. Nên Đức Chí Tôn đến hoằng khai nền Chánh giáo kỳ 3 với cơ ân xá cũng là một cứu tinh cho nhơn loại, nơi quả địa cầu nầy. Nên Đức Quyền Giáo Tông mới gởi một Thông Điệp cho chư vị Hoàng Đế, Quốc Vương quí vị Nguyên Thủ lãnh đạo các nước, Chư Vị Giáo lãnh các Tôn Giáo trên thế giới cũng kêu gọi Hòa Bình đó là cứu tinh thứ nhứt vào ngày 1-12-1931 và cùng ngày Anh Cả chúng ta cũng gởi cho vị Chủ Tịch nghiệp đoàn ký giả trên thế giới. Kế là Đức Hộ Pháp vị Giáo Chủ đạo Cao Đài viết với đề tài "PHẢI CHỌN MỘT CON ĐƯỜNG" Đó là Thông Điệp Vô Tuyến Truyền Thanh được phát đi trong dịp đầu Xuân Ất Mùi (1955) nhân danh Đấng Tạo Hóa (CAO ĐÀI BẤT DIỆT) gởi cho toàn thể nhơn loại trên quả địa cầu kêu gọi hòa bình trong tình nhơn loại phải thành thật thương yêu mới tránh khỏi cái họa diệt vong đó là cứu tinh thứ hai.


CẢM ĐỀ
Tuyên ngôn thế giới thuyết hòa bình,
"CHỌN MỘT CON ĐƯỜNG " bản cứu tinh.
Lấy sự Công Bằng gây hạnh phúc,
Dùng quyền Bác Aùi dứt đao binh.
Hưởng nguơn Thánh Đức đầy ân huệ,
Chung khối Thiên Lương đượm nghĩa tình.
Đấng háo sanh cầm cơ hoá dục,
Làm Cha nhơn loại điểm Chơn linh.

Cũng lúc Đức Ngài còn sanh tiền sang Miên vào năm Bính Thân (1956) có gởi cho Chánh Phủ 2 miền Nam Bắc Việt Nam và các cường quốc trên thế giới, phần nội dung bản Cương lĩnh nói lên đường lối cứu cánh của Chánh Sách Hòa Bình Chung Sống đề 26-3-56, được đài phát thanh Hà Nội truyền thanh mấy hôm. Còn Chánh quyền miền Nam do Mỹ, mà Ngô Triều mới thẳng tay đàn áp Cao Đài cho quí Chức Sắc tham gia hoạt động hòa bình theo đường lối, bị gán cái tội nối giáo cho Cộng, thành ra số người đó bị giam cầm tra tấn có vị phải bỏ mình nơi ngục thất. Kỳ thật mục đích của Tôn Giáo không phải hòa bình một nòi giống, không phải chung sống ở dân tộc mình mà phải trong tình nhơn loại đại đồng huynh đệ. Vì buổi Hạ Nguơn hầu mãn nhơn loại phải chịu trận thế chiến thứ 3. Thành ra cái cực điểm văn minh một phần lớn chỉ tạo cảnh điêu linh đồ thán cho con người, nên cái cứu tinh thứ 3 là ngày 10-4 Kỷ Hợi. Vị sáng lập ra đường lối Hòa Bình, đó là Đức Hộ Pháp Giáo Chủ Đạo Cao Đài đã Triều Thiên, được tờ tạp chí số 4 tháng 5 và 6- 1959, phổ biến tin "Nữ Đồng Tử Saral Barthel địa chỉ số 20 đường Alibert Paris cả anh em Thần Linh toàn thế giới nhìn thấy và được nghe tiếng nói ngoài vật thể, từ không trung vọng lại nơi tâm hồn hồi 7 giờ ngày 17-5-59 lúc 13 giờ 30 tại Cao Miên thuộc hộ đệ Ngũ, Châu Thành Nam Vang được mục kiến vị mặc Khôi Giáp đó là Phật Hộ Pháp Triều Thiên với cuộc lễ các Thiên Thần cầm lọng vàng đưa đón, và các hung thần bị xua đuổi ra xa tít hợp lại thành lằn đen xa thẳm.
Với những Đấng liễu đạo mặc Thiên phục vàng, lớp mặc Thiên phục xanh dương, lớp mặc Thiên phục đỏ, còn hàng ngàn mặc Thiên phục trắng, vị mặc Thiên phục trắng nói rằng "Tiết độ là mối tình thương yêu làm cho ta gìn giữ trong sạch những gì mà chúng ta yêu mến", vị Thiên Phong sắc phục xanh dương nói, "Thận trọng là mối tình thương yêu phân biệt được điều gì đưa đẩy đến chỗ thiện", điều gì có thể lôi kéo xa chỗ thiện. Vị Thiên Phục sắc vàng lúc bây giờ nói, "Công bằng là tình thương yêu đặt chúng ta vào con đường phục vụ cho tình bác ái", vị Thiên Phong sắc phục đỏ cũng tuyên bố, "Dõng lực là tình thương yêu của chúng ta đảm nhiệm mọi khó khăn cho cái gì chúng ta yêu mến".

Thượng Đế tiếng nói trong tâm hồn của mỗi người dầu ở Thiên giới hay Địa giới hay Trung giới tiếng nói ấy đã phán trong bốn mùa hiệp lại làm một. Đây là nhân bản lý số. Về phần nhân tố sử liệu xin phớt sơ. Nên sự Triều Thiên của Đức Ngài được các Đấng trên cõi Hư Linh tiếp nghinh Vị Hộ Pháp Đạo Cao Đài làm xong sứ mạng với chủ thuyết Hòa Bình trong tình thương của Thượng Đế.

Khiến chúng ta hồi tưởng lại lúc Đức Ngài sắp lưu vong mà không quên sứ mạng lo cho cơ qui nhứt Hòa Bình Tôn Giáo trước, rồi mới Hòa Bình Nhơn Loại, nên Đức Ngài mới tư quyền Tam Đầu Chế Cửu Trùng Đài cho vị Thánh Miến nhập môn bằng bút tích cũng như trường hợp của (. . . ?) ở Mỹ vậy.

Thánh Saint Conottantstabe có lập một Thánh viện với chức Giám Mục được nhiều môn đồ trên thế giới (1948) có lập một ngôi "Thề Giới Hòa Bình Tự " gởi thơ xin cùng Đức Hộ Pháp nhờ cho nhập môn theo Tôn Giáo Cao Đài. Thánh Miến cho Đấng Sem dạy chúng tôi rằng chỉ có một, một Đấng Tạo Hóa, một Chân Lý, một Vũ Trụ, một Loài Người, một Thịt, một Máu, một Linh Hồn, một Tư Tưởng, một Lẽ Sống, vị Thánh Miến nói đã có một nền Đạo Cao Đài đầu tiên ở Miến Điện.

Thánh Saint một cơ quan thống nhứt Tôn Giáo Thế Giới Semsthuose đường số 44, phòng số 11 Rangoon Borme, số 27 IUCL 19 Jame 55.

Nhưng trước Đức Hộ Pháp đã hồi đáp Văn thư số 1495 ngày 25 tháng 5 Ất Mùi (1955) Đấng Tạo Hóa có một, Chân Lý có một, Vũ Trụ có một, Loài Người có một, Xác Thịt có một, Máu có một, Tư Tưởng có một, Sự Sống có một, qủa là Chân Lý duy nhất và tuyệt đối của Cơ thể Tạo Đoan Vạn Vật luôn cả loài người nữa.

Nên Đức Ngài trả lời theo Thánh ý của Đức Chí Tôn. Trong buổi Tam Kỳ Cao Đài đang phổ truyền cơ qui nhứt để họp nhơn chủng với triết lý Tam Giáo đồng nguyên ở Đạo Trời.

Về chủ thuyết Hòa Bình Chung Sồng, nên Mỹ & cố TT Diệm cho đường lối đó có nghĩa là chống những cường quốc với ý đồ gây chiến tranh ở Việt Nam. Chừng Đức Ngài Triều Thiên, Đạo vừa được tin thì lịnh cố TT Diệm cấm không cho hành lễ tang, tôi mới cảm tác một vần thơ để tưởng niệm :
Hộ Pháp Triều Thiên Đạo được tin,
Báo tang Diệm cấm hủy chương trình.
Tất thành Thánh Thể đông tâm nguyện,
Giọt thảm nhơn sanh đượm nghĩa tình.
Buồn thấy lịnh ngăn vùng giáo hội,
Vui nghe lễ tiếp cõi Hư Linh.
Ngày về đức Phật cơ mầu hiện,
Đồng tử Saral đã biện minh.
Cả Thánh Thể cùng nhơn sanh với tấm chân thành gọi là tâm tang mà thôi.