5- DỊCH LÀ ĐẠO PHÁP


Đến đời Tây Châu, Đức Văn Vương ngồi tù nơi Vũ Lý bảy năm, nhầm con số Thất Diệu, định thần mở khiếu huệ quang để nghiên cứu cơ huyền nhiệm của vũ trụ. Khi về nước mới tìm lại những vạch ở Hà Đồ của Phục Hi, để lại gọi Tiên Thiên Bát Quái, và căn cứ Lạc Thư soạn ra Hậu Thiên Bát Quái, cũng lấy số tượng cho lý.

Đến Đức Khổng Phu Tử nhìn thấy cơ hành xử của Vũ Trụ nên phụ chú vào cho mỗi hào thêm sáng tỏ mới có sách gọi là Kinh Dịch, đây cũng bằng chứng cụ thể kể nòi giống Rồng Tiên mới là Thỉ Tổ của Dịch Lý, nên chuyện bánh chưng bánh dầy không ngoài ý nghĩa về minh triết của đạo pháp ở câu "Thiên viên Địa phương". Nếu có một nền triết lý trên tôn chỉ thiếu đạo pháp, thì nó chỉ để áp dụng cho bản thể nhị nguyên mà thôi, coi như ngày nào phục hồi được môi trường về tâm linh thì thế giới mới có hoà bình nhơn loại.

Với sự chiêm ngưỡng của tín đồ trong nền Đại Đạo, Toà Thánh Tây Ninh là nơi thờ Trời được thể hình pháp Địa Chi có mười hai cửa nội ô ra vào, còn ngôi thờ cũng biểu tượng ba đài Bát Quái là Phật, Hiệp Thiên là Pháp, Cửu Trùng là Tăng, để phát huy chơn tướng của Đạo. Cửu Trùng Đài là phần xác, Bát Quái Đài là linh hồn, Hiệp Thiên Đài là Chơn Thần, chẳng khác nào ở bản thân của con người chúng ta cũng có ba, một là Thân, hai là Tâm, ba là Tánh, y như ngôi Đền Thánh mà Đức Hộ Pháp đã tạo, Bát Quái Đài phần nguơn linh tức là Đạo, Hiệp Thiên Đài phần nguơn khí tức là Pháp, còn Cửu Trùng Đài phần nguơn Tinh tức là Thế. Mỗi đài đều có liên hệ ảnh hưởng cho nhau. Chẳng khác nào Thân Tâm và Tánh, Tánh là cái thể của Tâm, nhưng Tâm cũng là Tánh, Tánh để tiêu biểu mọi sắc thái về hành động, còn Tâm là cái trừu tượng xuất phát những tư tưởng cho Tánh, Tâm thay vì tòa Bát Quái, tánh ví như cửa HiệpThiên, Thân tượng thể ví Cửu Trùng, đó là phần xác của vạn linh được tiêu biểu đạo pháp của Càn Khôn tức là hình ảnh Chí Linh đó vậy.

Chính giữa Cửu Trùng Đài có Nghinh Phong Đài tức là Đài tiếp giá..., tầng dưới vuông tượng thể địa phương. Với qui luật công bình, bốn bên thể hình Thập Nhị Địa Chi bằng 12 ô chữ, nhưng thấy có 10, bởi bên trong Nghinh Phong Đài đông và tây đọc được hai chữ Lôi- Điển còn bên ngoài mười ô toàn là chữ triện hay cổ tự, chữ Lôi đỡ đầu đòn dông, Nghinh Phong Đài giáp với Bát Quái Đài hướng chánh đông, chớ kỳ thật bên ngoài Nghinh Phong Đài do hai nóc đền chập lại nên mất hết 2 ô chữ, còn phía trong Nghinh Phong Đài từ Hiệp Thiên Đài nhìn lại chữ Điểân đỡ đầu đòn dông phía chánh tây Nghinh Phong Đài. Như vậy chữ Lôi chánh đông tiêu biểu tiếng nổ là Đạo, còn chữ Điển chánh tây tượng lý tiếng vang về ánh chớp là Pháp. Bên trong nhìn cũng có mười ô chữ như bên ngoài, vì tô liền hướng Bắc hết một ô, hướng Nam một ô, chỉ thấy có mười ô coi như pháp Địa Chi phối hợp cùng Thiên Can tạo cơ hóa trưởng Càn Khôn.

Tầng trên Nghinh Phong Đài thì tròn tượng thể Thiên viên ở nguyên lý của sự bác ái với cái không chẳng có giới hạn, giáp vòng chỉ có mười ô chữ tiêu biểu cho Thập Thiên Can, nhưng ngay chánh tây bên ngoài đủ mười, nhưng bên trong tô kín chỉ còn có chín ô của Pháp định vị cho hai chữ Can Chi, Can Chi tượng lý âm dương ở Trời Đất. Chi là cành hệ thống ngang, Can là gậy hệ thống dọc, phần trên hình quả địa cầu nó tròn với bản viên dung ở lý đạo, còn vuông với định hướng bình phương về pháp.

Trên nóc địa cầu có hình Long Mã phụ Hà Đồ với tám cung Bát Quái, Càn trên Khôn dưới chính giữa là Thái Cực Đồ với hai điểm chấm hình bầu dục tạo sức hút đun đẩy mãi của lý Thái Cực tức châu kỳ Vô Cực, về đạo học là Thái Cực, với khoa học cái lý đồng nhất là"đi na mô" một đầu phát âm điện, một đầu phát dương điện, sở dụng là chỗ biến ra trung hòa điện. Đó là chân lý Đạo Trời mới tạo cho đời sự sống có ánh sáng mà Khoa Học thể hiện với điều kiện của Đạo Học ở cơ hóa dục quần linh. Còn Hà Đồâ tượng thể cho không gian và thời gian với triết lý tạo đoan cái không lẫn trong cái thời, cái thời chẳng rời cái không. Không gian là pháp an nhiên thời gian là cơ chuyển hóa, chuyển hóa ấy là Đạo, an nhiên ấy là Đức. Đạo có nghĩa là thời, thời có nghĩa là dịch, dịch có nghĩa là lý âm dương của trời đất. Hình Long mã đứng giữa quả địa cầu coi như chỗ Vạn Pháp qui nhứt giữa Tiên Thiên và Hậu Thiên hòa hợp nguơn khí của đạo pháp biến xuất can chi để vận hành cơ hóa trưởng của Vũ Trụ. Do đó, có tám rồng vàng đỡ quả địa cầu cất đầu bao quanh chia thành tám hướng tượng thể Bát Quái Tiên Thiên, thân kèo châu lại như tám đuôi rồng tại nóc trái đất ở bên trong, tất nhiên nằm ngay rúng Long mã. Long mã tiêu biểu Tiên Thiên Khí. Địa cầu tiêu biểu cho Hậu Thiên Khí, kể như pháp ký tế của trời đất buổi Hạ Nguơn của cơ tuần huờn Vũ Trụ.