BỒ TÁT QUÁN TỰ TẠI

Bồ Tát là một người đã tính thức (Bồ Tát từ chữ Boddhisattava mà ra, có nghĩa là con người tỉnh thức và đang giúp người khác tỉnh thức). Quán Tự Tại là tên đức Quán Thế Âm (Avalokiteshvara). Quán Tự Tại là dịch theo kiểu mới, ngày xưa dịch là Quán Thế Âm.

KHI QUÁN CHIẾU THÂM SÂU BÁT NHÃ BA LA MẬT
Khi Ngài thực tập một cách thâm sâu về Prajna Paramita, tức là thứ Trí tuệ có thể đưa chúng ta đến bờ bên kia.

TỨC DIỆU PHÁP TRÍ ĐỘ
Trí là sự hiểu lớn, Độ là có khả năng đưa ta vượt qua bờ bên kia.

BỖNG SOI THẤY NĂM UẨN ĐỀU KHÔNG CÓ TỰ TÁNH
Khi thực tập diệu pháp trí độ, Ngài phát hiện ra một điều là năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) đều không có tự tánh riêng biệt của chúng, cái này nương vào cái khác mà có, không thể nào mỗi cái tự mình mà có được. Điều đó rất quan trọng. Không có hiện tượng nào tự mình có thể phát sinh và tồn tại, mà phải nhờ những hiện tượng khác mới có thể hiện hữu.
Trong kinh A-Hàm, Bụt dạy: “Ví cái này có nên cái kia có đó, ví cái này không nên cái kia không, ví cái này sinh nên cái kia sinh, ví cái này diệt nên cái kia diệt” (Thử hữu tắc bí hữu, thử vô tắc bí vô, thử sinh tắc bí sinh, thử diệt tắc bí diệt). Những lời của Bụt tuy đơn sơ nhưng thâm thuý vô cùng. Đây là đạo lý nhà Phật về sự sinh trưởng và tồn tại của thế giới hiện tượng. Nếu đem nhận thức đó so sánh với nhận thức về sự sáng tạo thế giới của các tôn giáo, ta thấy đạo Bụt hoàn toàn khác biệt với các tôn giáo khác.

THỰC CHỨNG ĐIỀU ẤY XONG, NGÀI VƯỢT THOÁT TẤT CẢ MỌI KHỔ ĐAU ÁCH NẠN
Thực chứng tức là thấy một cách trực tiếp, chứ không phải thấy bằng học hỏi và suy luận. Thí dụ như khi chúng tôi mời quý vị ngồi ăn sầu riêng, một thứ trái cây mà trước kia quý vị chưa bao giờ thưởng thức. Tôi nói rằng: đây là trái sầu riêng, xin quý vị nếm. Quý vị trực tiếp nếm sầu riêng, biết được thế nào là mùi sầu riêng. Như thế gọi là thực chứng sầu riêng. Còn nếu quý vị chưa bao giờ nếm sầu riêng mà tôi cứ ngồi lải nhải, tả mùi vị sầu riêng như thế này, như thế kia, khác vị mít ở chỗ nào, giống vị cam như thế nào, thì dù tôi có nói suốt ngày, quý vị cũng không thực chứng được mùi vị trái sầu riêng. Trong đạo Bụt đó được gọi là hý luận, tức là lý luận suông. Thực chứng, vì thế, là phải thực sự sống và nhận thấy rõ mình không là một cá thể riêng biệt tách rời với những cái mà ta nghĩ “không phải là ta” như không khí, mặt trời, như rừng cây, như những người xung quanh ta và ngay cả những người mà ta xem là thù nghịch. Thực chứng cũng không có nghĩa là đứng bên ngoài và nói suông rằng những cái đó có liên hệ với ta. Thực chứng phải là tương nhập hẳn vào da thịt của người kia, là đồng nhất với hiện tượng đó. Thực chứng để tương nhập vào người nọ để hiểu những cảm thọ, những tri giác và những viên hành của tâm thức người ấy mà sống có hoà điệu không tạo thêm đau khổ cho mình, cho người ấy và cho vũ trụ vạn vật.
Sau khi tự quán chiếu năm uẩn, Ngài đạt được cái thấy trực tiếp về năm uẩn. Tất cả những khổ đau, tai nạn. Ngài đột nhiên vượt thoát hết và Ngài hoàn toàn giải thoát, sang tới bờ bên kia. Sở dĩ Ngài đạt tới bờ bên kia của sự giải thoát, của sự không sợ hãi, là chỉ nhờ Ngài thấy được một điều, một điều thôi: thấy được trong năm uẩn không có uẩn nào có tự tánh riêng biệt; năm uẩn nương vào nhau mà có.
Khi chứng nghiệm được chân lý cao siêu và mầu nhiệm đó. Ngài gọi thầy Xá Lợi Phất tới.
XÁ LỢI PHẤT là một trong những vị đại đệ tử của Bụt, tên tiếng Phạn là Sariputra, Ngài nói:

NGHE ĐÂY XÁ LỢI TỬ, SẮC CHẲNG KHÁC GÌ KHÔNG, KHÔNG CHẲNG KHÁC GÌ SẮC, SẮC CHÍNH THỰC LÀ KHÔNG, KHÔNG CHÍNH THỰC LÀ SẮC, CÒN LẠI BỐN UẨN KIA CŨNG ĐỀU NHƯ VẬY CẢ.
Ban đầu Ngài nói về Uẩn thứ nhất, tức là sắc, là thân thể của chúng ta. Sắc là tất cả những hiện tượng sinh lý, vật lý. Trong kinh văn, chữ gây khó khăn nhất cho nhiều người là chữ KHÔNG. Chữ không ở đây, tiếng Phạn là Sunyata, dịch tiếng Việt là trống rỗng. Dịch ra chữ không cũng được, nhưng chữ “không” lại một sự hiểu lầm: không có thể được hiểu là không có. Còn sự trống rỗng thì nó cũng là không, nhưng không phải có nghĩa là không có. Thí dụ chúng ta nói trái banh nó trống ở trong, nó rỗng ruột, đó là Sunyata. Nhưng mà có trái banh chứ. Có điều trái banh đó rỗng ruột mà thôi. Thành ra sau này nếu các học giả tương lai của Phật giáo Việt Nam đổi được chữ “Không” thành chữ “rỗng” sẽ giúp đỡ các thế hệ tương lai nhiều lắm. Chữ rỗng hay hơn chữ không. Tiếng Anh dịch là empty. Empty là rỗng. Thí dụ chén trà dù empty thì vẫn có chén trà. Cái chén không có trà vẫn là cái chén. Chữ empty (rỗng) không gây ra ấn tượng là chén trà không có mặt. Danh từ không trong tiếng Hán Việt cũng có nghĩa là rỗng. Như không tâm chẳng hạn. Không tâm tức rỗng ruột: ví dụ rau muống gọi là không tâm thảo, thứ rau không có ruột. Khi chuyển sang dùng tiếng Việt, chúng ta có thể hiểu lầm “không” này là “không có”.
Thí dụ như tờ giấy này đây, nó là một sắc pháp, một hiện tượng vật chất. Theo Quán Thế Âm Bồ Tát thì tờ giấy nó không, tức là nó rỗng. Nhưng chữ “rỗng” (chữ “không”) đó có nghĩa là gì?
Nhiều người không hiểu Phật pháp nói rằng tờ giấy này nó “không có”, tại vì tuy bây giờ nó có đó, nhưng mai mốt nó sẽ không có; hoặc nó bị đốt đi, hoặc bị mục đi thành đất, cho nên tuy nó có đó mà cũng như không có đó. Câu giải thích này hoàn toàn sai với giáo lý đạo Bụt.
Theo giáo lý đạo Bụt, nếu tờ giấy này nó “không” thì nó không ngay từ bây giờ chứ không phải sau này nó mới không. Danh từ là đương thể tức không. Giáo lý đạo Bụt cơ bản là giáo lý vô ngã: sự vật không có tự thể riêng biệt (separate entity). Nếu mình nhìn vào tờ giấy này với con mắt của một vị Bồ Tát biết nhìn sâu vào trong lòng tờ giấy để thấy cội nguồn của nó, mình sẽ thấy có một đám mây đang bay trong tờ giấy này. Mình cũng không cần là thi sĩ mới thấy được đám mây, vì mình biết nếu không có đám mây thì không có mưa, cây rừng sẽ không thể mọc lên được, do đó chúng ta không có bột giấy. Nhìn vào tờ giấy này ta còn thấy mặt trời, vì nếu không có mặt trời chiếu lên thì không có loài thực vật nào mọc được, cho nên nhìn vào tờ giấy này, ta sẽ thấy ánh mặt trời chói lọi trong đó. Rồi ta còn thấy rừng cây xanh mướt, thấy những chiếc lá rụng, mục đi để cây rừng tươi tốt, ta thấy những chất khoáng trong người tiều phu đã đốn cây đem về để làm bột giấy, thấy Ba Má của ông tiều phu (bởi vì nếu không có Ba Má ông tiều phu thì làm gì có ông tiều phu). Ta thấy luôn gạo lúa mà người tiều phu ăn hàng ngày để có thể đủ sức đi đốn cây.
Tóm lại, nhìn tờ giấy này bằng con mắt quán chiếu nhân duyên, ta thấy rằng không có hiện tượng nào trên vũ trụ mà không có mặt trong đó hết. Và tờ giấy này, nói cho đúng, nó đầy cả vũ trụ vạn hữu trong đó.
Khi dùng danh từ giấy, ta nên phân biệt hai thứ: Một là giấy và hai là thế giới không phải là giấy, những yếu tố không phải giấy. Ta có thể nói rằng: giấy được kết hợp bằng những yếu tố không phải giấy. Giấy là do những yếu tố không giấy tạo ra, giấy không thể tự có được. Giấy không có tự tánh hoặc tự thể riêng biệt.
Nó có là nhờ những cái không phải nó bắt tay nhau tập hợp làm ra. Tờ giấy này tuy rỗng không có tự tánh riêng biệt, nhưng nó lại đầy cả vũ trụ vạn hữu trong đó. Ví vậy chữ “không” trong Tâm Kinh Bát Nhã chỉ có nghĩa là không có một tự thể riêng biệt.
Khi chúng ta nói rỗng thì phải nói rỗng cái gì mới được (empty means empty of something). Thí dụ mình nói trái banh trống rỗng, nhưng mình biết nó trống rỗng gì. Nó trống rỗng chất nhựa trong lòng nó, song trái banh nó đầy không khí. Vậy rỗng phải là rỗng cái gì, đầy là đầy cái gì. Tờ giấy này tuy trống rỗng cái tự ngã riêng biệt, nhưng nó lại đầy cả pháp giới vạn hữu trong nó.
Một vị thiền sự Việt Nam đời Lý có hai câu thơ:
Càn khôn rút lại đầu sợi tóc,
Nhật nguyệt nằm trong hạt cải mòng.
Một sợi tóc tuy nhỏ mà mình có thể để cả trời và đất lên trên đầu nó. Một hạt cải tuy nhỏ nhưng mặt trăng và mặt trời có thể nằm gọn ở trong đó. Đây có nghĩa là bất cứ một hiện tượng nào, dù là một hạt cải, một sợi tóc chăng nữa, cũng chứa đựng toàn thể vũ trụ, vì một cái là do tất cả những cái khác làm thành. Mỗi người trong chúng ta đều do tất cả vũ trụ hợp tác nhau làm thành. Không một hiện tượng nào trong vũ trụ vạn hữu mà không có mặt trong ta.
Trong ta có dòng sông (nếu không có dòng sông thì làm sao ta có nước uống), có mặt trời (nếu không có mặt trời thì làm sao có sự sinh trưởng của cây trái để mình ăn), có rừng cây (tạo ra dưỡng khí kho mình thở)… Trong ta có đủ hết; vũ trụ vạn hữu đã nắm tay nhau để đưa chúng ta ra đời. Danh từ đạo Phật là Nhân Duyên Sinh, tức là những điều kiện phối hợp với nhau, cộng tác với nhau để làm cho mọi vật có mặt.
Uẩn nào trong năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) cũng không hết, ví uẩn nào cũng không thể tự mình tồn tại độclập. Uẩn nào cũng phải nhờ các uẩn khúc phụ giúp mới có thể có được.
Đồng xu có hai mặt: mặt trái và mặt phải. Sở dĩ có mặt phải là nhờ có mặt trái. Nếu một trong hai mặt mà không có thì mặt kia cũng không có luôn. Trái và phải nương nhau mà có. Con xúc xắc có sáu mặt, nhưng kỳ thực sáu mà là một. Mặt này có là nhờ mặt kia, và sáu mặt nương nhau mà có.
Năm uẩn cũng vậy, chúng nương nhau mà có, chứ không thể có một cái tách rời. Ngày xưa, hồi sáu tuổi đi học, trong bài giảng khoa học đầu tiên tôi nghe cô giáo dạy: thân thể người ta chia ra làm ba phần: đầu, mình và chân tay. Hồi đó tuy nhỏ, nhưng tôi thấy rất là kỳ. Thân thể của mình mà chia ra làm ba phần như vậy (đầu riêng, mình riêng, chân tay riêng) thì làm sao mà chia được?
Năm uẩn cũng không thể chia ra như thế. Chia là để tạm hiểu thôi, chứ năm cái đó không thể nào tồn tại độc lập với nhau. Trong con người chúng ta, có đủ tâm, can, tỳ, phế, thận; tuy chia ra năm cái nhưng kỳ thực nếu không có tâm thì can có thể tồn tại được không? Nếu không có tỳ thì phế có được hay không? Tuy rằng năm mà kỳ thực là một. Những cơ quan trong cơ thể ta không thể nào tồn tại độc lập, cái này nương cái kia mà có. Vì thế Bụt dạy rằng: Thử hữu tắc bí hữu. Cái này có mặt cho nên cái kia có mặt, cái kia có mặt cho nên cái này có mặt. Tất cả mọi hiện tượng trong vũ trụ đã phối hợp lại để làm thành một hiện tượng. Nguyên nhân vũ trụ không phải một mà rất nhiều, nhiều trùng trùng vô tận.
Quan niệm một vị thần linh sáng tạo ra vũ trụ không phù hợp với nguyên tắc nhân duyên sanh của đạo Bụt. Khi ta nói thần linh sáng tạo ra vũ trụ, ta nghĩ rằng vị thần linh này không cần ai và không cần gì sáng tạo ra hết; điều này trái với định luật nhân duyên sinh. Khi nghe đạo Bụt phân tích con người chúng ta làm năm yếu tố Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, chúng ta phải biết rằng đó là phân tích tạm để chỉ cho chúng ta phương thức tu học, chứ không phải nói rằng những yếu tố sắc, thọ, tưởng, hành, thức có thể tồn tại độc lập ngoài nhau.
Không sự vật nào trong vũ trụ có tự tánh riêng biệt hết. Đó là giáo lý căn bản của đạo Bụt.
Danh từ mà chúng ta lâu nay thường dùng trong dịp này là vô ngã.
Vô ngã tức không có sự tồn tại độc lập. Không có cái gì, không có ai tồn tại độc lập được. Vô ngã còn có nghĩa là vô thường.
Vô thường là biến chuyển. Nếu không có biến chuyển thì làm sao vạn vật có được. Thí dụ tờ giấy này. Nếu không vô thường và vô ngã, làm sao có tờ giấy có mặt? Nếu không vô thường thì cây làm sao mọc lên. Muốn mọc lên cây phải vô thường.
Nếu không vô thường thì con cháu chúng ta làm sao lớn lên, làm sao chúng đi học mà lại giỏi được?
Chúng ta cần vô thường lắm. Nếu không có vô thường thì làm sao gieo bắp mà hạt bắp mục thành cây bắp để rồi cho trái mình ăn? Cho nên ta đừng than khóc khi nghe hai tiếng “vô thường”.
Bụt đâu có nói rằng: Vạn vật vô thường, các con hãy khóc đi. Bụt chỉ nói rằng: Vạn pháp vô thường, các con phải biết điều đó để tránh những khổ đau, vì những khổ đau là do chỗ mình nhận cái vô thường làm cái thường, nếu mình biết vô thường là vô thường thì mình đâu còn đau khổ nữa.
Vô thường là một yếu tố tốt đẹp, rất căn bản, rất quan trọng, rất cần thiết cho sự sinh hoá của vạn vật. Và như vậy chúng ta phải chắp tay cám ơn vô thường.
Lâu nay chúng ta nói đến hai chữ vô thường với một tâm niệm bi quan, chán đời, than vãn, vì chúng ta chưa hiểu. Chính nhờ vô thường mà vạn vật sinh trưởng, tồn tại, và chúng ta có thể ngồi đây. Nếu không có vô thường, chúng ta chưa ra đời được đâu.
Và chữ “không” cũng vậy, nó hay lắm. Nếu tờ giấy này mà nó không không, nghĩa là nó có tự thể riêng biệt của nó, thì làm sao nó có được. Chính nhờ nó không có tự thể riêng biệt nên mặt trời, rừng cây, đám mây mới tạo ra được nó. Do đó, “không” là căn bản của tất cả mọi hiện hữu. Một triết gia Phật giáo nổi tiếng ở thế kỷ thứ hai, một vị tổ sư của đạo Phật, Ngài Long Thọ, đã tuyên bố một câu rất hay trong cuốn Đại Trí Độ Luận: Nhờ có không mà mọi pháp đều có mặt hết (Dĩ hữu không nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành). Quý vị phải xoá bỏ cái ấn tượng mà hai chữ vô thường để lại trong tâm chúng ta, xoá bỏ những cảm tưởng buồn bã, bi quan, chán đời. Và chúng ta biết rằng vô thường và không rất là cơ bản trong sự hiện hữu của vạn sự vạn vật trong vũ trụ.

NGHE ĐÂY LÁ LỢI TỬ: SẮC CHẲNG KHÁC GÌ KHÔNG
Nếu quý vị hiểu được không là gì rồi, thì khi nghe nói sắc chẳng khác gì không, mình sẽ cảm thấy vui sướng quá, vì biết rằng nhờ không mà có sắc. Và làm như nói sắc chẳng khác gì không chưa đủ nên Ngài lập lại: không chẳng khác gì sắc. Còn lại bốn uẩn kia, cũng đều như vậy cả.
Có hai em bé ở bên Canada, nghe bà nội đọc Tâm Kinh, ngang đó không hiểu nên tìm tới hỏi ba: “Thưa ba, bà nội đọc “sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc…” tụi con chẳng hiểu gì hết”. Ba chúng mới ráng sức cắt nghĩa: “Này con, ví dụ bàn tay mình có năm ngón, đây là ba, đây là má, đây là bà nội, đây là hai con. Đứa con lớn tên là Mây Bay, đưa con nhỏ tên là Quyên Quyên. Giả dụ như ba bịnh thì tất cả mọi người trong gia đình đều buồn khổ hết phải không? Nếu con bị sốt thì tất cả gia đình cũng đau khổ. Nếu chị con thi hỏng thì tất cả đều buồn. Vì vậy nên tuy năm mà là một. Cái gì xảy ra cho một người là xảy ra cho tất cả mọi người. Sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính thực là không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính thực là không, không chính thực là sắc có nghĩa là tất cả chúng ta đều có trách nhiệm đối với nhau”.
Bé Quyên Quyên nói rằng: “À, như vậy là đúng rồi mỗi khi chị Hai đánh con tức là chi Hai đánh chị Hai phải không ba?” Ba nó nói: “Đúng như vậy, khi chị Hai đánh con tức là chị Hai tự đánh chị Hai và chị Hai đánh tất cả những người trong gia đình. Vậy cho nên, nghe đây con: “Mây Bay tức là Quyên Quyên, Quyên Quyên tức là Mây Bay, Quyên Quyên chẳng khác gì Mây Bay. Mây Bay chẳng khác gì Quyên Quyên, còn lại bà nội, ba, má tất cả đều như vậy”. Ông ta nói giống hệt như trong Tâm Kinh. Quyên Quyên bảo: “Như vậy con phải học thuộc câu thần chú này, mỗi khi chị Hai sắp sửa đánh con thì con nói: “Nghe đây chị Hai, Quyên Quyên chẳng khác gì Mây Bay, Mây Bay chẳng khác gì Quyên Quyên, Quyên Quyên chẳng khác gì ba, ba chẳng khác gì Quyên Quyên…”.