CHÚ THÍCH
1. Đình Ái: Hoàng Đình Ái (1527-1607), quan Thái Úy, ông có học thức rộng, thông binh pháp, cầm quân nghiêm chỉnh, trong thì tham mưu cho vua, ngoài thì đánh dẹp binh biến, tự mình trải vài trăm trận, đánh đâu được đấy, làm cả tướng võ, tướng văn, không phân biệt thứ bậc, uy quyền, ưu đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ. Mọi người đều phục.
2. Đền Rồng: triều đình.
3. Bỉnh Khiêm: Nguyễn Bỉnh Khiêm.
4. Lục thông: 6 phép thần thông bao gồm:
- Thiên nhãn thông (nhìn không bị trở ngại bởi khoảng cách)
- Thiên Nhĩ Thông (nghe được mọi âm thanh trên thế gian)
- Tha Tâm Thông (biết được suy nghĩ của người khác)
- Thần túc thông (khả năng biết được căn, kiếp của mình và người khác)
- Thần cảnh thông (khả năng xuất hồn vào mọi cảnh giới)
- Lậu tận thông (khả năng làm chủ bản thân tuyệt đối)
Khi đã chế ngự 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) không bị ô nhiễm, tâm sẽ không động, không còn vọng tưởng.
5. Bạch Vân cư sĩ: Sau khi cáo quan năm 1542, Nguyễn Bỉnh Khiêm về quê nhà xã Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, nay là xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, dựng Trung Tân Quán là nơi đàm đạo thơ văn và Bạch Vân Am để tụng kinh niệm Phật, và lấy hiệu Bạch Vân Cư Sĩ.
6. Trào ca: triều đình.
7. Nước Cam Lồ: nước phép vi diệu, trong mát và thơm ngọt, có tác dụng trị liệu tâm hồn và thể xác con người, được xem như nước Tiên, nước Thánh.
8. Chốn Bệ tiền: triều đình.
9. Kinh Bát Nhã: Bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh, cũng được gọi là Ma-ha-bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh, Huệ đáo bỉ ngạn kinh, nghĩa là Kinh với trí huệ đưa người qua bờ bên kia, là một bộ kinh bao gồm khoảng 40 bài kinh Đại thừa được gọi dưới tên chung, với nội dung hướng dẫn hành giả đạt được trí Bát-nhã, thành tựu Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Bộ kinh này được ghi từ thế kỉ thứ nhất trước Công Nguyên đến khoảng thế kỉ thứ 5. Ngày nay, phần lớn kinh này chỉ còn trong dạng chữ Hán hoặc chữ Tây Tạng, không còn dạng Phạn ngữ.
10. Ngũ uẩn: cũng gọi là Ngũ ấm, khái niệm của Phật giáo là năm yếu tố tạo thành con người, gồm: sắc, thụ, tưởng, hành, thức. ...
11. Tam bành: tham, sân, si.
12. Lục tặc: sáu tên giặc theo khái niệm của Phật giáo chính là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Khi sáu căn bị sai khiến thì tác hại khủng khiếp và phiền não cũng bắt đầu phát khởi.
13: Ma ha: cõi Phật.
14. Sóng gió ba đào: nhiều khó khăn, trắc trở.
15. Động đào Thiên thai: nơi ở của thần tiên.
16. Chúa Mạc: vua Mạc.
17. Năm ả: năm người vợ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đang ở dinh Tiết Chế, kinh thành Thăng Long.
18. Trạng Nguyên: Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng Nguyên năm 1535, khoa thi do nhà Mạc tổ chức.
19. Thái Uý: chức quan của Hoàng Đình Ái.
20. Quốc Công: tước của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
21. Ngự muội: vua Mạc xem các người vợ của Nguyễn Bỉnh Khiêm như anh em.
22. Chiếu Ngôi Trời: chiếu vua, sắc lệnh của vua.
23. Bệ giai: bệ hạ.
24. Nguyễn Quốc Công: Nguyễn Bỉnh Khiêm.
25. Kính Điển: Mạc Kính Điển (? - 1580) là con thứ ba của Mạc Đăng Doanh, cháu Mạc Đăng Dung, là đại công thần có công lớn trong việc gìn giữ cơ nghiệp nhà Mạc, được nhà Mạc phong tước Khiêm vương.
26. Ngọc Điệp: công chúa con vua Mạc Đăng Doanh. Mạc Đăng Doanh hứa gả cho Hoàng Đính Ái, nhưng Thái Thượng Hoàng Mạc Đăng Dung đã hứa gả Ngọc Điệp cho quan Thừa tướng Lý Hùng.
27. Khi quân: xem thường lệnh vua, bị ghép tội phản nghịch phải chém đầu.
28. Oanh Vàng: công chúa Lê Oanh Vàng, em gái vua Lê Chiêu Tông, được Hoàng Đình Ái thương thầm nhớ trộm.
29. Trào đàng: triều đình, phép biến âm đạt vần.
30. Đi phăng: đi ra nơi tiền phương, đánh giặc.
31. Đoạn miêu tả lời tấu của Mạc Kính Điển rất đúng với tính cách của Mạc Kính Điển, đại công thần có công lớn trong việc gìn giữ cơ nghiệp nhà Mạc.
32. Thượng Hoàng: Mạc Đăng Dung lên ngôi vua lập ra nhà Mạc, niên hiệu Minh Đức, trị vì được 2 năm thì nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh vào năm 1530, để lui về làm Thái Thượng hoàng.
33. Khôi hài: hình hài tinh khôi, thanh lịch.
34. Bím nhẻ: đeo bám, làm phiền hà.
35. Bệ đơn: ngai vua.
36. A hoàn: người hầu gái. Ý mạt sát.
37. Vương nhi: lời Thái Thượng Hoàng Mạc Đăng Dung gọi vua Mạc.
38. Mặc dù Lê Oanh Vàng là công chúa của nhà Lê nhưng được nhà Mạc trọng vọng, xem như người của dòng họ Mạc. Truyền thống nhà Mạc được sử sách ghi nhận đã mạnh dạn sử dụng quan lại cũ của nhà Lê, điển hình là 4 trạng nguyên thời Lê sơ như: Nguyễn Giản Thanh, Hoàng Văn Tán, Ngô Miên Thiệu, Trần Văn Tất, ngoài ra cũng thu phục nhiều tướng giỏi của nhà Lê như Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Vũ Hộ, Phạm Gia Mô... Các cung phi nhà Lê vẫn được đãi ngộ như trước.
39. Võ đao: các quan võ.
40. Chập bì: một loại công cụ hình phạt thời xưa.
41. Liêu trai: hẹn hò, tình tứ.
42. Tứ hôn: giao kết chuyện hôn nhân.
43. Thương: một trong những loại binh khí đao, thương, kiếm, kích.
44. Trình Quốc Công: Nguyễn Bỉnh Khiêm.
45. Se tơ: kết duyên.
46. Nói màu: nói đặt điều, tô vẽ không đúng sự thật.
47. Ngự thiện: mâm cơm tiến vua.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks