CHÚ THÍCH

1. Vua Trang Tông: vua Lê Trang Tông (1515-1548), tên thật là Lê Duy Ninh, con vua Lê Chiêu Tông. Năm 1533, Nguyễn Kim bí mật lập hậu duệ của nhà Lê là vua Lê Trang Tông lên ngôi, xây dựng căn cứ tại Ai Lao (nước Lào ngày nay), chuẩn bị chiêu quân mãi mã đánh nhà Mạc, phục hưng nhà Lê.

2. Trịnh Kiểm (1503–1570): là người có tài cầm quân đánh trận, được Nguyễn Kim gả con gái là tiểu thơ Ngọc Bảo và giao cho Trịnh Kiểm nhiều trọng trách. Về sau, trở thành người đầu tiên lập nên các dòng Chúa Trịnh, thời kỳ Vua Lê - Chúa Trịnh.

3. Ngọc Bảo: con gái đầu lòng của Nguyễn Kim, vợ của Trịnh Kiểm.

4. Tiền đường: Trịnh Kiểm.

5. Mỹ nhân nhành vàng: tiểu thơ Phạm Bảo Châu, em gái Phạm Thế Thượng. Phạm Thế Thượng là vợ của Nguyễn Hoàng.

6. Nguyễn Hoàng (1525–1613): con trai thứ của Nguyễn Kim. Về sau trở thành người đầu tiên của chín dòng Chúa Nguyễn.

7. Tùng nhi: Trịnh Tùng (1550-1623): con thứ của Trịnh Kiểm.

8. Cung Hoàng: vua Lê Cung Hoàng (1507-1527), tên thật là Lê Xuân, là vua thứ 11 nhà Hậu Lê, lên ngôi từ 1522 đến 1527.

9. Bảo Ngọc: quan Phạm Bảo Ngọc.

10. Họ Hoàng: Hoàng Đình Ái. Trước đây quan Phạm Bảo Ngọc hứa sẽ gả tiểu thư Phạm Bảo Châu cho Hoàng Đình Ái. Sau đó Trịnh Kiểm ép gả cho con trai mình là Trịnh Tùng.

11. Phạm thị: tiểu thơ Phạm Bảo Châu.

12. Trịnh Kiểm đã có 2 vợ trước, sinh ra Trịnh Cối và Trịnh Tùng. Vợ thứ ba là Ngọc Bảo, con gái của Nguyễn Kim.

13. Ý nói quên đường kiếm, đường quyền.

14. Nhạc phụ: Nguyễn Kim, cha vợ Trịnh Kiểm.

15. Thế Thượng: Phạm Thế Thượng, chị gái Phạm Bảo Châu.

16. Thân liễu bồ: thân cây liễu bồ, hay cây bồ liễu, rất mềm, dễ uốn, chỉ người con gái mảnh mai, chân yếu tay mềm.

17. Phô: giải thích, phát biểu ý kiến.

18. Mụ gia: mẹ chồng.

19. Hoàng Đình Ái (1527-1607): Quan Thái Úy, ông có học thức rộng, thông binh pháp, cầm quân nghiêm chỉnh, trong thì tham mưu cho vua, ngoài thì đánh dẹp binh biến, tự mình trải vài trăm trận, đánh đâu được đấy, làm cả tướng võ, tướng văn, không phân biệt thứ bậc, uy quyền, ưu đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ. Mọi người đều phục.

20. Nguyễn Kim (1468-1545), tướng giỏi nhà Hậu Lê, giúp vua Lê chống lại nhà Mạc. Năm 1533 Nguyễn Kim xây dựng căn cứ tại Ai Lao (nước Lào ngày nay), phò vua Lê Trang Tông. Nguyễn Kim được vua phong làm Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công chưởng nội ngoại sự, chức quan cao nhất. Nguyễn Kim về sau được coi là thủy tổ của chín đời Chúa Nguyễn, nhà Nguyễn truy tôn ông là Triệu tổ Tĩnh hoàng đế.

21. Nghĩa tế: cách Nguyễn Kim gọi Trịnh Kiểm.

22. Bạch Vân Am: Sau khi cáo quan, Nguyễn Bỉnh Khiêm về quê nhà xã Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, nay là xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, dựng Trung Tân Quán là nơi đàm đạo thơ văn và Bạch Vân Am để tụng kinh niệm Phật.

23. Bạch sĩ: tu sĩ của Bạch Vân Am, tức Nguyễn Bỉnh Khiêm.

24. Trà thành phần chính là Bạch Liên Thảo, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, kháng viêm, có ngâm thêm Táo Tầu, có vị ngọt, tác dụng an thần.

25. Lục thông: 6 phép thần thông bao gồm:
- Thiên nhãn thông (nhìn không bị trở ngại bởi khoảng cách)
- Thiên Nhĩ Thông (nghe được mọi âm thanh trên thế gian)
- Tha Tâm Thông (biết được suy nghĩ của người khác)
- Thần túc thông (khả năng biết được căn, kiếp của mình và người khác)
- Thần cảnh thông (khả năng xuất hồn vào mọi cảnh giới)
- Lậu tận thông (khả năng làm chủ bản thân tuyệt đối)

26. Đức Bửu Sơn: thầy tu Bửu Sơn Kỳ Hương, là một đạo giáo cứu thế (religion messianiste) đã được khai sinh ở vùng Ðông Nam Á từ thế kỷ thứ XVI trở đi. Bửu Sơn Kỳ Hương dùng một số giáo lý của Phật giáo, nhưng không phải là một tông phái của Phật giáo.

27. Quốc Công: tước của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

28. Cửa Đà: cửa Phật.

29. Thuyền Bát Nhã: chặng cuối đường sang Tây Thiên Trúc, Ðường Tăng được hóa thân Phật dùng chiếc thuyền Bát Nhã (không đáy) chở qua sông mê đến bờ bên kia của Phật cảnh. Trong Phật Pháp, Chánh pháp được ví như chiếc thuyền Bát nhã chở chúng sinh qua khỏi bến mê.