CHÚ THÍCH

1. Nguyễn Bỉnh Khiêm làm quan cho nhà Mạc được 7 năm, sau đó ông xin cáo quan năm 1542. Nguyễn Bỉnh Khiêm về quê nhà xã Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, nay là xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, dựng Trung Tân Quán là nơi đàm đạo thơ văn và Bạch Vân Am để tụng kinh niệm Phật.

Khi về trí sĩ, ông lấy hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy học cạnh sông Hàn Giang, do đó còn có tên Tuyết Giang và học trò gọi ông là "Tuyết Giang Phu tử". Học trò của ông có nhiều người nổi tiếng như Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan một nhà ngoại giao, Nguyễn Dữ tác giả Truyền kỳ mạn lục, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyền.

2. Đình Ái: Hoàng Đình Ái (1527-1607): Quan Thái Úy, ông có học thức rộng, thông binh pháp, cầm quân nghiêm chỉnh, trong thì tham mưu cho vua, ngoài thì đánh dẹp binh biến, tự mình trải vài trăm trận, đánh đâu được đấy, làm cả tướng võ, tướng văn, không phân biệt thứ bậc, uy quyền, ưu đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ. Mọi người đều phục.

3. Đàn na: tiếng Phạn Dāna, nghĩa là cúng dường.

4. Quốc Công: tước của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

5. Trạng: Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông đỗ Trạng nguyên năm 1535 thời Mạc Đăng Doanh.

6. Thái Uý: chức quan của Hoàng Đình Ái.

7. Chúa Mạc: vua Mạc Đăng Doanh.

8. Tiết Chế: chức quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

9. Công Bộ: hay còn gọi là Bộ Công, coi việc xây dựng thành hào, cầu cống đường sá, việc thổ mộc, thợ thuyền, tu sửa xây dựng, thi hành lệnh cấm về núi rừng, vườn tược và sông ngòi.

Bộ Công là một trong sáu bộ (Lục bộ), sáu cơ quan chức năng cao cấp trong tổ chức triều đình phong kiến Việt Nam, gồm Bộ Lại, Bộ Lễ, Bộ Hộ, Bộ Binh, Bộ Hình và Bộ Công. Đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng thư (Bộ trưởng), giúp việc có Tả thị lang, Hữu thị lang, hoặc Tham tri (Thứ trưởng.

10. Năm ả: năm người vợ của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

11. Quốc Trạng: Nguyễn Bỉnh Khiêm.

12. Vùa hương: bát hương trên bàn thờ. Vùa hương cùng với bát nước là hai vật không thể thiếu trên mọi bàn thờ.

13. Từ đường: gian nhà thờ cúng.

14. Miếu võ: gian nhà thờ cúng. Các công trình tâm linh gồm có: đình, chùa, miếu, võ và lăng tẩm.

15. Cửu huyền: Cửu Huyền Thất Tổ, tổ tiên, thế hệ khai sinh ra dòng họ.

16. Trì trai: ăn chay. Trì trai và Trì giới (giữ giới luật) là nhiệm vụ của người tu hành.

17. Môn nha: chốn quan trường, cửa quan, ý nói triều đình.

18. Duyên tấm mẳn: Tấm là hạt gạo vỡ, mẳn là hạt gạo nát, luôn đi đôi với nhau. Ý nói duyên vợ chồng sớm tối có nhau.

19. Trào ca: triều đình.

20. Tam cang: Tam cương, phép biến âm đạt vần.
Tam Cương là ba mối quan hệ: Quân thần (vua tôi), Phụ tử (cha con), Phu thê (chồng vợ).
Ngũ Thường là năm điều phải có ở đời: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
Tam cương và Ngũ thường là luân lý đạo đức của Nho giáo do Khổng tử đề ra.

21. Kỳ Hương: Bửu Sơn Kỳ Hương là một đạo giáo cứu thế (religion messianiste) đã được khai sinh ở vùng Ðông Nam Á từ thế kỷ thứ XVI trở đi. Bửu Sơn Kỳ Hương dùng một số giáo lý của Phật giáo, nhưng không phải là một tông phái của Phật giáo.

22. Thái Ất: Thái Ất Thần Kinh, là một trong ba môn học xếp vào tam thức (Thái Ất, Độn Giáp, Lục Nhâm đại độn). Thái Ất về Thiên, nghiên cứu sự chuyển động của các tinh tú ảnh hưởng đến Trái Đất, đến con người. Theo một số sách kinh điển, Thái Ất là tôn thần của Thiên đế, ở trước sao Bắc thần, chủ sai khiến 16 thần. Sao Thái Ất chủ về dự đoán gió mưa, hạn hán lụt lội, chiến tranh, đói rét, bệnh tật, xem tình hình trong nước, sao Thái Ất chủ sự hưng vong, lịch số dài ngắn.

Theo sử sách ghi rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm học Nho, Y, Lý, Số từ thầy dạy là cụ Bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Cụ Lương Đắc Bằng là người nổi tiếng văn chương quán thế, từng được đi sứ sang nhà Minh, và cụ đã học được sách Thái Ất Thần Kinh của Trung Hoa.

Tuy nhiên ở đây cung cấp thêm một chi tiết nữa về sách Thái Ất Thần Kinh do thầy Bửu Sơn Kỳ Hương giao cho Hoàng Đình Ái tìm người xứng đáng của nước Nam trao lại. Hoàng Đình Ái đã gặp và trao bộ sách này cho Nguyễn Bỉnh Khiêm để tỏ lòng qúy mến và kết nghĩa huynh đệ. Đây là sách bảo bối gia truyền của gia đình Hoàng Đình Ái, được mang từ Trung Hoa sang. Bộ sách đã giúp ích cho Nguyễn Bỉnh Khiêm rất nhiều sau này, mà có lẽ Sấm Trạng Trình do ông biên soạn cũng bắt đầu từ đây.

23. Quy ninh: hồi gia.

24. Ma ha: cõi Phật.

25. Tây an: Tây phương, Tây Thiên Trúc, ý nói quê hương của Phật.

26: Tiền khiên túc trái: oan trái, món nợ kiếp trước.

27. Bạch sĩ: Tu sĩ của Bạch Vân Am, tức Nguyễn Bỉnh Khiêm.

28. Bá niên tiền hậu: sách Thái Ất giúp biết được sự việc xảy ra trước và sau 100 năm.

29. Thiên cơ: ý của Trời.

30. Lục thông: 6 căn trong kinh Phật: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Khi đã chế ngự 6 căn không bị ô nhiễm, tâm sẽ không động, không vọng tưởng. Lục Thông (6 phép thần thông) bao gồm:
- Thiên nhãn thông (nhìn không bị trở ngại bởi khoảng cách)
- Thiên Nhĩ Thông (nghe được mọi âm thanh trên thế gian)
- Tha Tâm Thông (biết được suy nghĩ của người khác)
- Thần túc thông (khả năng biết được căn, kiếp của mình và người khác)
- Thần cảnh thông (khả năng xuất hồn vào mọi cảnh giới)
- Lậu tận thông (khả năng làm chủ bản thân tuyệt đối)

31. Sấm Trạng: sấm do Trạng Trình viết. Sấm, hay sấm ký là sách ghi chép những lời tiên tri sẽ xảy ra trong tương lai. Sấm Trạng Trình còn lưu giữ hiện nay có 488 câu thơ.

32. Hạ san: xuống núi. Ý nói từ cõi Phật Tiên xuống cõi trần gian.

33. Thánh Hoàng: vua Mạc.