CHÚ THÍCH
1. Oanh Vàng: Công chúa Lê Oanh Vàng, em gái vua Lê Chiêu Tông. Hoàng Đình Ái thương thầm nhớ trộm Oanh Vàng.
2. Yến anh: chim yến (chim én), chim anh (chim oanh), hai loài chim về mùa xuân, thường hay ríu rít từng đàn. Ý nói vui vẻ, quyến luyến với nhau.
3. Chúa Mạc: vua Mạc Đăng Doanh.
4. Xe dê: Tấn Vũ Đế sống xa hoa, có rất nhiều cung tần mỹ nữ. Đêm đêm nhà vua thường dùng xe có dê kéo trong hậu cung, cho dê kéo đi đâu thì đi. Các phi tần biết vậy, thường lấy lá dâu rắc trước cửa phòng mình. Dê thích ăn lá dâu sẽ ngừng xe lại và người cung phi ấy sẽ may mắn được gặp gỡ và đựơc Tấn Vũ Đế ân sủng.
Trong văn học “dương xa” (xe dê) chỉ việc đưa đón, ái ân.
5. Đình Ái: Hoàng Đình Ái (1527-1607): Quan Thái Úy, ông có học thức rộng, thông binh pháp, cầm quân nghiêm chỉnh, trong thì tham mưu cho vua, ngoài thì đánh dẹp binh biến, tự mình trải vài trăm trận, đánh đâu được đấy, làm cả tướng võ, tướng văn, không phân biệt thứ bậc, uy quyền, ưu đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ. Mọi người đều phục.
6. Hoàng Đình Ái muốn làm quan cho nhà Mạc, để đưọ7c gần gũi với công chúa Lê Oanh Vàng. Trái ngang thay vua Mạc Đăng Doanh kết tình huynh đệ với Oanh Vàng, sau đó gả Lê Oanh Vàng cho Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nên Hoàng Đình Ái gọi là oan gia với nhà Mạc.
7. Hoàng cô: công chúa Oanh Vàng. Hoàng Đình Ái giả làm tỳ nữ của Oanh Vàng.
8. Lệnh ngôi Trời: vua.
9. Dinh Tiết Chế: dinh quan Tiết Chế Nguyễn Bỉnh Khiêm.
10. Thái Úy: chức quan của Hoàng Đình Ái.
11. Điền điệp: ở nơi xa xôi.
12. Thứ phi: vợ thứ của vua Mạc Đăng Doanh. Do Mạc Đăng Doanh kết nghĩa huynh đệ với Lê Oanh Vàng nên thứ phi đối xử như chị em trong gia đình.
13. Quốc Công: Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm.
14. Trào ca: triều đình.
15. Kim Cang: Kinh Kim Cương, hay Kim cương bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh, là một bộ kinh quan trọng thuộc hệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh, được lưu truyền rộng rãi vùng Đông Á. Đây là một bộ kinh Phật rất thịnh hành, phổ biến rất rộng trong các kinh điển đại thừa, từ xưa đến nay không những các vị tăng trụ trì ở nơi chùa chiền, am viện đều tụng hằng ngày, mà ngay đến các thiện nam tín nữ, bạch y cư sĩ cũng lấy cuốn kinh nầy làm công khóa để tụng đọc.
16. Địa Tạng: Kinh Địa Tạng. Bồ Tát Địa Tạng đã hiếu thảo với cha mẹ mình hết kiếp này sang kiếp khác, do đó Kinh Địa Tạng gọi là Hiếu kinh trong Phật giáo. Bộ kinh này đề cập về nhân duyên trong quá khứ, công đức và những việc làm của vị Bồ Tát này, cũng như những lời ngài dạy chúng sanh tùy theo căn cơ của họ.
17. Phổ Môn: Kinh Phổ Môn. Tên gọi thông thường của bài kinh này là Phẩm Phổ Môn, hay kinh Quán Thế Âm, và tên gọi đầy đủ là Quan Thế Âm Bồ-tát Phổ Môn Phẩm. Đây là kinh nói về công đức cứu độ chúng sanh của Bồ-tát Quan Thế Âm, và thông qua đó, giới thiệu cách quán chiếu cuộc đời để đạt được giác ngộ và giải thoát.
18. Pháp Hoa: Kinh Pháp Hoa, hay còn gọi là Diệu pháp liên hoa kinh, là một trong những bộ kinh Đại thừa quan trọng nhất, được lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng và Việt Nam. Bộ kinh chứa đựng những quan điểm chủ yếu của Đại thừa Phật giáo, đó là giáo pháp về sự chuyển hoá của Phật tính và khả năng giải thoát.
19. Di đà: Kinh A Di Đà. Kinh này Phật giảng cho ông Xá Lợi Phất và những vị khác, ca ngợi cảnh Tây Phương do Đức Phật A Di Đà làm giáo chủ, còn có tên là cõi Cực Lạc.
20. Chú huyền: câu chú, thần chú.
21. Trạng Nguyên: Nguyễn Bỉnh Khiêm.
22. Tam cung lục viện: nơi dành cho phái nữ trong triều đình, như mẹ vua, hoàng hậu, cung tần, mỹ nữ …
23. Ngàn là núi rừng, truông là đầm lầy, ý nói vượt qua khó khăn gian khổ.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks