@Tất cả các bạn,
Mình thấy bài này hay hay có thể dùng đọc lúc thư giản, hy vọng các bạn chấp nhận

Dùng đúng nghĩa từ Hán - Việt

Từ Việt Gốc Hán
Phụng Nghi

Trong thời kỳ sơ khai, dân Việt Nam có tiếng nói nhưng chưa có chữ viết riêng của mình. Một vài nhà nghiên cứu tìm dấu vết chữ Việt thời Hùng Vương (2879-258 trước Công nguyên). Người ta đặt giả thuyết, hể có tiếng nói thì trước sau gì tổ tiên ta cũng sáng chế ra chữ viết. Tuy nhiên, chưa có ai khám phá điều gì mới mẽ, thuyết phục về chữ Việt thời đó.
Dưới thời Bắc thuộc dân ta dùng chữ Hán (cũng gọi là chữ Nho, chữ Tàu) trên 2000 năm, nhưng đọc theo âm Việt, có nghĩa là nói trại ra giọng khác. Vì không có chữ riêng, nên ta gọi chữ Hán là "chữ ta", là "quốc ngữ" và Hán văn trở thành hẳn một thứ quốc văn. Trong tiếng Việt hiện nay, ngoài thành phần thổ âm (tức là tiếng thuần Việt, theo các nhà thống kê, có trên 70% từ gốc là tiếng Hán. Trước khi nước ta có chữ quốc ngữ La tinh, hầu hết các từ ngữ mà những nhà cựu học sử dụng đều rặt là Hán văn. Những tiếng đầu môi thường dùng là: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, tam cang, ngũ thường, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ...

Ta mượn tiếng Hán bằng hai cách:

1.Trong ngôn ngữ văn chương, ta mượn những từ trừu tượng và chuyên môn: tự do, độc lập, hạnh phúc, trừu tượng, cụ thể, mục đích, thế giới, xã hội, hải ngoại, đệ nhất, phu nhân, trực thăng.

2. Trong ngôn ngữ nói, ta mượn một phần tiếng Quan thoại (cũng gọi là Phổ Thông hay Bắc Kinh) và phần lớn là tiếng Quảng Ðông, lý do là tỉnh Quảng Ðông của Trung Quốc ở sát biên giới nước ta. Sau đây là một số tiếng Việt xuất xứ từ tiếng Quảng Ðông, mà các âm nghe gần giống như nhau:

Việt: nhất, nhị, tam, lục, thất, bát, cửu, thập, đa tạ, đệ nhất, đối diện, huynh đệ, phi cơ, quân nhân, tiên sanh.

Quảng Ðông: dách, dì, xám, lục, tsách, pạt, cẩu, xập, tố chè, tài dách, tươi mìn, hính tài, phi ki, cún dành, xin xan.

Ngày nay có rất nhiều từ dùng thường ngày, quá quen thuộc, mà nếu ta không để ý và tìm hiểu thì không biết đó là xuất xứ từ tiếng Hán:

Việt : ca, cao, chợ, dễ, hỏa, học, lễ, nhựt, nguyệt, tiên, xưa, yêu...

Hán Việt : ca, cao, thị, dị, hỏa, học, lễ, nhựt, nguyệt, tiên, sơ, ái.

Quảng Ðông : ca, cú, xị, dị, phổ, học, lị, dạch, duỵt, xin, xơ, ôi...

Sau một thời gian dài sử dụng, tổ tiên ta đã đồng hóa nhiều từ Hán thành từ Việt, nhờ vậy mà tiếng Việt ngày thêm phong phú. Ðây là một hiện tượng bình thường. Ngôn ngữ Pháp, Anh, Ðức, Tây Ban Nha... cũng đã mượn nhiều từ La tinh và Hy Lạp.


Vào giữa thế kỷ này, khoảng sau ngày Việt Nam giành được độc lập (2-9-1945) đã "cải cách" một số từ Hán Việt thành từ thuần Việt và thay đổi luôn cấu trúc ngữ Pháp theo lối Việt, đối với một số từ. Sau ngày 30-4-75 việc cải cách này thực hiện cả nước để tiếng Việt bớt "lai căng".

Tuy nhiên...

1. Tùy từng trường hợp, từng bối cảnh mà ta chọn các loại từ thích hợp. Trong ngôn ngữ văn chương ta dùng : thổ lộ tâm can, tình cốt nhục, nội chiến huynh đệ tương tàn... thay vì : thổ lộ tim gan, tình xương thịt, nội chiến anh em tàn sát lẫn nhau. Mặc dầu hai loại từ hoàn toàn đồng nghĩa.

2. Dùng từ Hán Việt để tránh né cảm giác "ghê sợ"... Ta nói: cháo huyết, trung tâm tiếp huyết... nhưng không nói: cháo máu, trung tâm tiếp máu...

3. Những trường hợp mà từ Hán Việt ngắn gọn, ý nghĩa súc tích nhưng ta không có tiếng Nôm tương ứng. Ta nói: tự do, độc lập, hạnh phúc, bình đẳng, nhân loại... thay vì : sự thong thả, đứng một mình, sự may mắn, sự bằng nhau, các loài người...

Trên đây là ý kiến chủ quan của chúng tôi, khó tránh khỏi sai sót. Rất mong được quý vị độc giả cao minh góp ý.

Tập quán, trong cách nói trang trọng, ta dùng những từ văn vẽ, thanh cao. Những từ đó thường là từ Hán Việt. Trái lại trong cách nói bình dân, ta dùng những từ thông tục thường dùng của đại chúng. Những từ đó thường là tiếng Nôm.

Từ xưa đến nay, ta thường gọi : Tổng Thống phu nhân, Chủ Tịch phu nhân, Thủ Tướng phu nhân, Ðại Sứ phu nhân... không nghe ai gọi: vợ Tổng Thống, vợ Chủ Tịch, vợ Thủ Tướng, vợ Ðại Sứ..., mặc dầu vợ và phu nhân là đồng nghĩa. Ðây là một trong những điểm độc đáo của tiếng Việt.

4. Trực thăng sửa lại là máy bay lên thẳng.

Lúc đầu, dân ta dịch Hélicoptère của Pháp thành nhóm từ máy bay trực thăng. Về sau, theo quy luật rút gọn, ta chỉ nói trực thăng. Tuy về mặt định nghĩa và cú pháp từ trực thăng không chính xác, nhưng dùng quen rồi nó đã thành từ chuẩn. Sửa lại máy bay lên thẳng không phải là sai, nhưng muốn nói rút gọn, nói lên thẳng thì không có ưu điểm gì hơn trực thăng. Gần đây, trong nước, trên sách báo, dân ta sử dụng trở lại từ trực thăng.

5. Thủy quân lục chiến sửa lại lính thủy đánh bộ.

Sao không đổi luôn là lính nước đánh bộ ? Ngoài ra còn rất nhiều từ cùng loại, có nên sửa hết không, cho được thống nhất? chẳng hạn như : môn đăng hộ đối, nhập gia tùy tục, tùy cơ ứng biến, vạn bất đắc dĩ, Vạn Lý trường thành...

6. Hồng thập tự sửa lại là chữ thập đỏ.

Sao không sửa luôn là chữ mười đỏ? vì sửa như vậy là bị khựng, tức bị vướng chướng ngại vật rồi. Chữ thập viết theo chữ Hán là cái thập giá, trái lại chữ mười thì khác xa. Ngoài ra còn rất nhiều từ cùng loại, sao không thấy nhắc tới. Chẳng hạn như : Ðại Tây dương, hợp thức hóa, kim tự tháp, thượng nghị viện, tối hậu thư, thập tự giá, ủy nhiệm thư...

7. Cao cấp sửa lại là cấp cao.

Hai từ nầy trong một vài trường hợp không đồng nghĩa.

a. Hội nghị cấp cao được xem như đồng nghĩa với hội nghị cao cấp. (ở đây, ta hiểu hội nghị cấp cao tức là hội nghị ở cấp cao)

b. Tôi muốn tham gia ở cấp cao - Tôi muốn tham gia ở cao cấp (Câu sau vô nghĩa)

8. Nỗ lực sửa lại là ra sức.

Nỗ lực là một biến từ, dùng như động từ hoặc danh từ đều được. Trái lại, ra sức là một động từ. Cho nên trong một số trường hợp, ra sức không thể thay thế nỗ lực được:

Anh A có nhiều nỗ lục nên mới thành đạt vẻ vang.

Anh A có nhiều ra sức nên mới thành đạt vẻ vang (câu này sai)

Từ lâu, trong nước, dân ta đã sử dụng trở lại từ nỗ lực.

9. Hạ thủy sửa lại là cho xuống nước.

Cho vào một câu văn thì nghe không xuôi tai: Làm lễ cho xuống nước chiếc tàu sông Hương. Việc sửa đổi này không được hưởng ứng. Sau ngày 30-4-75, giới báo chí miền Nam đã có áp dụng "từ ngữ mới" trong một thời gian, nhưng về sau đã trở lại với từ cũ.

10. Phát ngôn viên sửa lại là người phát ngôn.

Còn rất nhiều từ cùng họ hàng, nhưng người chủ trương cải cách không đá động tới. Xin lượt kê một số từ thông dụng :

a. Từ gồm ba từ tố:

Báo cáo viên, biên tập viên, bình luận viên, cảnh sát viên, chính trị viên, chỉ đạo viên, chiêu đãi viên, điều tra viên, giám sát viên, hiệu thính viên, huấn luyện viên, hướng dẫn viên, mậu dịch viên, nông trang viên, phiên dịch viên, quản trị viên, thông dịch viên, thông tín viên, tiếp đãi viên, tuyên truyền viên, ủng hộ viên, ứng cử viên, xướng ngôn viên...

b. Từ gồm hai từ tố:

- Chuyên viên, đảng viên, điệp viên, đoàn viên, giáo viên, hội viên, nhân viên, phóng viên, sinh viên, thành viên, thuyền viên, ủy viên, xã viên...

- Công viên, điền viên, hoa viên...

Sửa làm chi chỉ có một từ và "bỏ rơi" tất cả những từ khác?

11. Trục trặc (kỹ thuật) sửa lại là sự cố (kỹ thuật)

Ðây là một ngoại lệ mà người chủ trương đã dùng từ Hán Việt để thay thế tiếng Nôm (?) thường dùng của ta.

Sự cố, một từ Hán Việt, có nghĩa là: "cái cớ sinh ra việc biến" (Hán Việt Từ Ðiển, Ðào Duy Anh, 1949) hay "Hiện tượng bất thường và không hay xảy ra trong một quá trình hoạt động nào đó" (Từ Ðiển Tiếng Việt, Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam , 1992).

Hiện nay (1997), hai đài phát thanh BBC (British Broadcasting Corporation) và RFI (Radio France International), trong chương trình tiếng Việt, đang sử dụng từ "sự cố" này.

Công tâm mà nói...Trong việc cải cách, cũng có một vài sửa đổi, rất ít thôi, xét hợp lý và ngắn gọn, cho nên dân ta, nhất là những người ở trong nước, dầu muốn dầu không đã ít nhiều sử dụng: mặt, quí, tàu sân bay, sự cố... thay vì: phương diện, tam cá nguyệt, hàng không mẫu hạm, trục trặc...
Những người chủ trương làm cuộc "cách mạng" trong việc loại bỏ những từ Hán Việt trong tiếng Việt nêu lý do là muốn giữ tiếng Việt được "trong sáng". Chúng ta hiểu, "trong sáng" có nghĩa là làm cho tiếng Việt không lai căng, không "lệ thuộc" nước ngoài. Thiển nghĩ, những từ Hán Việt mà dân ta đã sử dụng từ mấy ngàn năm nay, từ đời này qua đời khác, hiện đã được hoàn toàn Việt hóa. Ta có thể gọi những từ Việt gốc Hán là "tiếng Việt" (ngắn gọn) cũng không sai. Những tiếng vốn đã được "vay mượn" từ xưa, nay đã có một chỗ đứng vững vàng trong tiếng Việt và đã làm cho tiếng nước ta được phong phú.
Phụng Nghi
http://edu.net.vn/forums/t/56857.aspx