Trong thời gian qua trên các diễn đàn tâm linh đã có nhiều bài viết bàn luận về các vị nữ hành giả tu hành chứng đắc các năng lực tâm linh như bà Vô Định, bà Năm Hậu và thời gian trước đây cũng có bà Thanh Hải Vô Thượng Sư gây chấn động ở Mỹ và dân tình cũng đã có nhiều quan điểm tiếp nhận vấn đề này khác nhau rất nhiều góc độ từ khen đến chê, từ xây dựng đến bài bác nhưng hình như trong các bài phản biện đều thiếu tính công bằng với các trang nữ lưu này. Trong phạm vi bài viết này tôi muốn trình bày quan điểm riêng cá nhân tôi về vị trí và tài năng của người phụ nữ từ lĩnh vực thần thánh tới lĩnh vực đời sống thường ngày để mọi người, nhất là những ai vốn tự hào mình là trang nam nhi, nam tử Hán đại trượng phu, đấng phu quân, gia trưởng, đấng mày râu, đấng tu mi nam tử chuyên quyền tề gia trị quốc bình thiên hạ có dịp soi lại bản thân để không hổ thẹn với những bậc nữ lưu hồng quần đã và đang thầm lặng ghi tên mình vào lịch sử trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Bài viết này tôi lấy cảm hứng từ người mẹ kính yêu của tôi, suốt đời tảo tần sớm hôm nặng nợ thân cò, một đời vì chồng vì con mà tôi thì chưa làm được cái gì để làm bà mát lòng. Tôi cũng gởi bài này tới các diễn đàn Tamlinh.tk, Thegioivohinh.com, Bachduongky.com để các thành viên tham khảo và có cách nhìn thiện cảm hơn với các bậc nữ lưu đang tiến tu trên con đường tâm linh, và cũng mong quý bà, quý cô cũng nhìn lại mình, cải thiện chính mình mà đóng góp khả năng cho nền đạo pháp nước nhà, đặng khi quy tiên cùng về cõi cực lạc, cõi thiên đường, cõi niết bàn đồng nhau cả thảy!
Trước hết xin được bày tỏ tấm lòng trân trọng những thành tựu của các Bà Vô Định, Năm Hậu, Thanh Hải… cho dù xuất phát điểm của các Bà là từ môn phái, hệ phái nào với phương tiện tu hành, tông chỉ là gì chăng nữa thì cũng xin kính bái quý Bà ba bái, vì theo thiển ý của tôi công trình tu tập từ một người bình thường chưa biết gì cho đến khi hấp thụ những ấn chứng đầu tiên là cả một chặng đường kham khổ, ấy vậy cho tới khi thành tựu pháp hành thì càng cao quý hơn nữa, bởi không phải ai tu nhiều tu lâu cũng thành cho dù là những vị có sẵn hột giống bồ đề, đầy đủ ba la mật mà không gặp thời cũng không dễ thành tựu quả vị. Có những pháp môn rất khó, đòi hỏi người tu phải trải cả đời mình mà học hỏi thực hành, có những pháp môn đòi hỏi người tu phải từ bỏ cả công danh sự nghiệp, duyên tình mà trải nghiệm, phải hy sinh rất nhiều thứ không chỉ dừng lại ở của cải vật chất mà nhiều khi cả linh hồn của mình nữa thì thử hỏi nếu không thành tựu được thì có phải uổng công quá lớn không? Vậy mà khi thành rồi thì ít người biết đến, muốn trổ tài cho người ta biết tới công trình tu tập khổ công của mình mấy chục năm trời mong để kết thân, để gieo duyên hoặc để thực hiện ước nguyện ban đầu khi nhập môn mà ít gặp người ủng hộ lại gặp toàn sự dèm pha, khinh chê, phỉ báng thì thử hỏi có đau lòng không chứ? Giá trị của một pháp môn đâu phải chỉ dừng lại ở chỗ bề nổi là vài ứng dụng thần thông mà còn cả một khối băng chìm phía dưới nữa, vậy mà người đời chỉ theo sự hiểu biết cá nhân, đặt cái lối suy tưởng cảm quan thông thường của mình vào các sự kiện nghe thấy trên văn tự vô hồn trong các diễn đàn – giống như xem qua một món hàng bày bàn ngoài chợ rồi trả giá một hai mà không biết được là hành động đó đã gây ra bao sự đau đớn tan nát cõi lòng của những bậc nữ lưu dành cả cuộc đời cho lý tưởng đạo pháp của họ. Sao không tự nghĩ nếu quý vị là họ, thử đặt mình vào vị trí của họ thì quý vị sẽ thấy thế nào khi bao nhiêu công sức của mình bị người ta chà đạp không chút thương tiếc? Nếu quý vị tự nghĩ mình là nam tử đại trượng phu chí cao cả tại bốn phương mà hè nhau đàn áp, dập vùi những đoá hoa đang hé nhuỵ khoe hương kia thì có phải mồm nam mô mà bụng một bồ dao găm, khẩu phật tâm xà chăng ? Tại sao không ngồi xuống dùng lời ái ngữ thấu tình đạt lý mà đóng góp xây dựng cho người ta, cớ chi dùng kiến thức con chữ vô tri và ngay cả dùng thần lực tu tập mà vùi dập, ám sát người ta dữ vậy ? Quý vị có quen thói đàn áp phụ nữ, thói gia trưởng áp đặt người vợ của quý vị phải luôn luôn đội lên đầu bốn chữ “tòng phu, tòng tử” rồi lên diễn đàn thấy người ta là phụ nữ thì đánh hội đồng người ta tan nát hương hoa mà cứ giương cao biểu ngữ từ bi trí tuệ, nào là cải ác tùng thiện, nào là hàng ma phục yêu, nào cho là cư sĩ thì không được cái quyền thuyết pháp, nào là tại gia phàm tục không được viết kinh vô tự. Làm toàn những chuyện ruồi bu kiến đậu, nhìn vô chẳng tự hào nổi mình là nam tử đại trượng phu ! Chắc quý vị sợ mấy bà này mai mốt thành Phật lên chiếm hết mấy toà sen nhựa của quý vị hết nên bới lông tìm sẹo, kiếm đủ chuyện chống báng họ xấu xa để thiên hạ thấy quý vị cao thượng mà lễ bái cúng dường? Ngày nay quả thật đáng buồn, số lượng người nữ tu hành nhiều hơn người nam rất nhiều, thử nhìn lại mà coi trong nhà của quý vị, các bà các cô đi chùa lễ Phật, ăn chay làm phước nhiều hơn các ông các chú. Nếu đến các chùa chiền, am tự thì sẽ thấy số lượng chúng ni cao hơn chúng tăng, ở các nhà thờ tu viện thì số lượng nữ tu đông hơn số lượng linh mục, nam tu sĩ cộng lại. Nếu đến xem các trung tâm dưỡng sinh thì quý bà luôn chiếm lượng đông đảo, quý ông trở thành hàng hiếm. Nếu tính tới lĩnh vực buôn bán bình dân thì giải vô địch vẫn nằm chắc trong tay chị em phụ nữ, các hàng rau cá, thức ăn luôn là của các bà các cô, các quán ăn nhà hàng thì tiếp viên luôn là các chị các em xinh xắn. Nếu nhìn kỹ vào văn tự từ ngữ tiếng Việt thì dễ dàng nhận thấy từ “Cái” tức là Mẹ, hay nói đúng hơn là phái nữ, ví dụ: cái cân, cái roi, cái bàn, cái ghế, sông cái, đường cái… Chúng ta có thể điểm qua một số lĩnh vực mà người phụ nữ hay thuộc tính Âm chiếm lĩnh vị trí ưu tiên như sau:
1- Đạo Thần, đạo Mẫu, đạo Cao Đài (thuộc về đạo Tiên) có các danh hiệu như sau:
- Tây Vương Mẫu, Hoàng Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu, Địa Mẫu Vô Cực Chí Tôn (*)
- Lê San Thánh Mẫu, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoãi,
- Cửu Thiên Huyền Nữ, Liễu Hạnh Công Chúa, Tiên Dung Công Chúa,
- Thiên Hậu Nương Nương, Cửu Vị Nương Nương, Tam Nương…
- Mẹ Sanh Mẹ Độ, 12 Bà Mụ chăm sóc hài nhi, ...
(*) Chúng ta thấy từ Hán Việt: “Mẫu” = Mẹ. “Nương nương” = chức danh của các vị phu nhân, công nương, quý phi trong cung cấm, hàng quý tộc, thuộc về phái nữ. “Mụ” = Bà, bà già. “Công Chúa” = tước vị của người con gái ruột của một vị vua thời phong kiến.
2- Đạo Thiên Chúa (thuộc về đạo Thánh): Đức Mẹ Maria – Mẹ của Ngôi Hai Thiên Chúa và hệ thống các Thánh trinh nữ như Thánh Clara (Sơ Tổ dòng Phan Sinh), Thánh Theresa Hài Đồng Giêsu và Thánh Theresa Avila (dòng Cát Minh), Thánh Bernadeta (chứng nhân Đức Mẹ Lộ Đức), Thánh Foustina (chứng nhân Lòng Thương Xót Chúa Giêsu), Thánh Labouré (chứng nhân Đức Mẹ Ban Ơn, dòng Nữ Tử Bác Ái Thánh Vinh Sơn)…
3- Đạo Phật:
a) Bồ tát: các vị nam Bồ tát chuyển thành thân nữ để thể hiện tính từ bi, gần gũi chúng sanh như mẹ gần con dễ tế độ vì theo tâm lý con người là đa số người mẹ thường gần con cái hơn người cha. Ví dụ như:
- Quan Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Chuẩn Đề mà nhất là Quan Âm với vô số ứng thân và các hoá thân trong lịch sử nhân loại như Quan Âm Thị Kính (người Hoa gọi là Quan Âm tống tử), Quan Âm Nam Hải, Quan Âm Diệu Thiên, đặc biệt Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn đều là hiện thân người nữ.
- Nhật Quang Biến Chiếu, Nguyệt Quang Biến Chiếu, Dược Vương, Dược Thượng,…
- Ni sư Huỳnh Liên (Sơ Tổ hệ phái Nữ Khất Sĩ)
- Kinh Diệu Pháp Liên Hoa: Long Nữ chuyển hoá thành nam nhân và thành Phật ngay trước tứ Thánh chúng và phá bỏ kiến chấp “phụ nữ phải tu chuyển kiếp thành nam nhân rồi mới thành Phật được”.
b) La Hán - Thinh Văn:các vị được gọi là “ái nữ của Như Lai” là các vị thánh ni và thánh nữ cư sĩ như là:
- Liên Hoa Sắc (tối thượng thủ và đệ nhất Thần thông phái nữ, so với Mục Kiền Liên là tối thượng thủ và đệ nhất thần thông phái nam), Khema (tối thượng thủ và đệ nhất trí tuệ phái nữ so với Xá Lợi Phất là tối thượng thủ và đệ nhất trí tuệ phái nam). Hai vị nữ thánh La Hán này và hai vị Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất họp lại được gọi chung là Tứ tối thượng đệ tử của Đức Như Lai Thích Ca. Một vị Phật thường có 4 tối thượng đệ tử La Hán như thế.
- Tỷ phú Visakha (Tỳ xá khư) là đệ nhất thánh nữ cư sĩ về hạnh Bố thí, xây dựng Đông Phương Tịnh Xá sánh với Cấp Cô Độc xây dựng Kỳ Viên Tịnh Xá. Vị thánh nữ này còn nổi tiếng với công hạnh được Đức Phật thọ ký cho ra ngoài quy luật 7 lần tái sinh của vị thánh Sơ Quả Nhập Lưu và kết quả là bà được tha hồ tận hưởng phước báu nhân thiên và điểm kết thúc sẽ ở tầng cao nhất của cõi Ngũ Tịnh Cư thiên – tầng trời Sắc Cứu Cánh, bà sẽ đắc La Hán quả tại tầng trời ấy tức là thời gian ‘dạo chơi’ bằng cách tái sinh qua các cõi của bà từ Đao Lợi thiên lên tới Sắc Cứu Cánh thiên sẽ trải qua thời kỳ Đức Phật Di Lạc giáng thế mở hội Long Hoa. Hiện nay trong các kinh sách Nam Tông cho biết bà đang làm Thiên Hậu của một vị Vua trời trong cõi Đao Lợi (cõi có 33 tầng trời hay còn gọi là cõi Tam Thập Tam Thiên). Trong thời Phật tại thế, bà đắc quả Nhập Lưu khi lần đầu tiên nghe Đức Phật thuyết pháp lúc bà 7 tuổi, bà sống tới 120 tuổi mới mất, bà có đủ tài sản giàu có không thua các vua thời ấy là bao, có sức khoẻ khoảng 10 con voi gộp lại, sắc đẹp như tiên nữ độ tuổi 16 và đặc biệt là sắc đẹp và tóc không bị lão hoá cho tới 120 tuổi thọ. Bà là em bà con với Tỷ phú Cấp Cô Độc.
4- Vua chúa, quý tộc, nguyên thủ quốc gia:
- Trung Quốc - Lã Hậu (thời Xuân Thu).
- Nữ Hoàng Võ Tắc Thiên (nhà Đại Chu kế nhà Đại Đường) – Nữ hoàng duy nhất trong 600 vị Hoàng đế Trung Quốc.
- Hoàng Thái Hậu Từ Hy (nhà Mãn Thanh)
- Anh Quốc: - Nữ Hoàng Victoria (đặt tên cho cảng Victoria ở HongKong, tên bang Victoria ở Úc)
- Nữ Hoàng Elizabeth đệ Nhị (in hình trên đồng Bảng Anh và các đồng xu Úc) – Nữ Hoàng có thời gian trị vì lâu nhất trên thế giới thời nay.
- Ngôi báu của các nước trong khối Liên Hiệp Vương Quốc Anh đa phần đều là các Nữ Hoàng trị vì như Tây Ban Nha, Đan Mạch, Hà Lan, Anh Quốc.
- Việt Nam: - Hai Bà Trưng xưng Vương hay là Trưng Nhị Vương (chiến thắng quân Nam Hán)
- Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan hai lần làm Nhiếp chính (thời Lý Thánh Tông)
- Lý Chiêu Hoàng (cuối đời Lý), vị nữ hoàng duy nhất được truyền ngôi của các triều
đại VN.
- Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (mẹ vua Tự Đức, nhà Nguyễn), vị Thái Hậu tiêu biểu cho tấm
gương mẫu mực của người mẹ thời phong kiến.
- Hoàng Hậu Nam Phương (triều Vua Bảo Đại, nhà Nguyễn), vị Hoàng Hậu duy nhất và cuối cùng được tấn phong chức Hậu ngay khi thành hôn với nhà vua, trong khi còn sống, “Hậu” vốn là danh vị chỉ được tôn xưng sau khi băng hà.
- Các nước Chi Lê, Philippines, Đức, Úc, Ucraina: Nữ Tổng Thống và Nữ Thủ tướng.
5- Võ tướng, quân đội: Việt Nam thời phong kiến: Bà Lê Chân (tướng của Trưng Nhị Vương), Bà Bùi Thị Xuân (tướng của Vua Quang Trung), Bà Nguyễn Thị Định (người phụ nữ đầu tiên được phong hàm Đại Tướng của Quân đội Nhân dân VN), Bà Nguyễn Thị Minh Khai (Liệt sĩ, tên được đặt cho trường nữ sinh vốn trước đây mang tên của vị vua khai sáng triều Nguyễn – vua Gia Long, nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai)
6- Thơ ca, văn hoá: Việt Nam thời phong kiến: nữ thi sĩ Đoàn Thị Điểm (đồng tác giả Chinh Phụ Ngâm), nữ thi sĩ Bà Huyện Thanh Quan (tác giả bài Qua Đèo Ngang), nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương (đệ nhất thơ ca trào phúng).
Qua một vài dẫn chứng sơ lược ở sáu lĩnh vực tôi biết trên đây nói về tầm vóc bậc nữ lưu trong quá khứ cũng như trong hiện tại, tôi muốn minh chứng là người phụ nữ nếu có được cơ hội sẽ rất thành công và khi họ đã thành công thì hãy tạo cho họ một chỗ đứng xứng đáng với những gì họ đã dày công vun đắp. Hãy trân trọng thành quả của họ và hãy khuyến khích họ hướng tới chỗ hoàn mỹ hơn là đàn áp họ. Quý vị nam tử đại trượng phu hãy noi gương chư Phật thế nào mà ủng hộ chư Bồ tát hoá hiện ra thân nữ để đem chúng sanh tới gần cõi niết bàn mà bằng chứng là vô số hoá thân của Quan Âm Bồ tát, ở VN rất nhiều người gọi Ngài là “Mẹ Quan Âm”. Ngoài chư Phật, Thiên Chúa Trời Jehovah cũng chọn người nữ là Đức Mẹ Maria làm người sinh thành và nuôi dưỡng Ngôi Hai Nhập Thể làm người mà đem Mầu Nhiệm Nước Trời cho loài người đang lầm than dưới ách ma quỷ tội lỗi, hơn nữa nhờ người nữ này mà con cái Eva đã được vinh danh không thua kém thần thánh là mấy, được ghi tên vào sổ thánh của thiên đình. Đức Cao Đài Tiên Ông cũng vinh danh chư vị Thánh Mẫu trong các danh hiệu Cửu Thiên Huyền Nữ, Cửu Vị Tiên Nương, Diêu Trì Phật Mẫu, Địa Mẫu Vô Cực… Có một nét tinh tế trong văn hoá thờ phượng mà nhiều người không biết như chi tiết để tang cha ba năm có từ xa xưa nhưng để tang mẹ cũng ba năm như cha chỉ bắt đầu có từ thời Nữ Hoàng Võ Tắc Thiên vì Bà cho rằng “nam tôn, nữ ty” người phụ nữ có vai trò không thua kém đàn ông trong thiên chức làm cha mẹ, trong xây dựng gia đình và xã tắc, người đàn ông làm vua được thì người phụ nữ cũng xưng đế được, chỉ vì quan niệm hẹp hòi của nhà Nho nên mới chế ra lắm điều bôi nhọ danh tiếng của Bà, và chế ra tục “trọng nam khinh nữ” như câu nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô dịch là có 1 con trai thì viết có, dù sinh ra 10 con gái cũng viết là tuyệt tự không người hương khói – đó là sự phi lý của người xưa ảnh hưởng tới nay. Bà xưng Nữ Hoàng Đế, tự sáng chế mão Hoàng Đế có 24 dãi ngọc trước sau như mão của các vua Trung Quốc thời trước thường đội khi thiết triều, mà ngày nay chúng ta thấy như mão của Ngọc Đế ; sau này người ta y theo đó mà tạo ra mão Thánh Mẫu Hoàng Đế để tôn vinh các vị Thánh Mẫu như Địa Mẫu, Thiên Hậu, Bà Chúa Xứ…trên mão có một hay hai dãi ngọc giống như rèm phía trước mặt của tượng thờ, ít ai biết được nguồn gốc của những chiếc mão vốn đó xuất phát từ chiếc mão thiết triều ngày xưa của Nữ Hoàng Võ Tắc Thiên.
Nếu chúng ta tự xem mình là đệ tử Phật Tiên thì phải sáng suốt nhìn nhận vấn đề, đừng theo vết đổ của người đi trước dù là có lợi cho mình mà sống bất công với người nữ là không tốt, chư Phật chư Tiên đã nhìn thấy cái dở đó nên đã bày ra hình tướng người mẹ cho chúng ta hàng ngày chăm chỉ lễ bái phụng thờ. Trong sự khai sáng thế giới vũ trụ cũng có sự tác hợp hai luồng khí Âm – Dương, mà thần linh hoá là Đức Địa Mẫu Chí Tôn và Đức Ngọc Đế Chí Tôn. Tương tự trong mối quan hệ vợ chồng cũng có sự hợp tác bình đẳng giữa người nữ và người nam thể hiện qua câu “phu thê giao bái” rất nhân văn của người Hoa xưa, nếu không có người nữ chịu cực nhọc, hy sinh thân thể ngọc ngà mang nặng đẻ đau chín tháng mười ngày thì đâu ra thế giới con người này. Nếu không có sự hợp tác của người nữ thì đâu có những ông Phật Thích Ca, ông Bồ Tát Địa Tạng, ông Thánh Khổng Tử cho người đời lễ bái cúng dường, chí đến việc thị hiện của Thiên Chúa Ngôi Hai xuống trần gian mà không có sự ưng thuận cộng tác của người nữ là Đức Mẹ thì làm sao mà Nhập Thể cho được, lấy gì mà thị hiện giữa thế giới vật chất này? Bởi thế nên chư Phật hằng tôn vinh chư Phật Mẫu, sau khi thành đạo chư Phật địa cầu thường thân hành bay lên cung trời Đao Lợi thuyết bộ Luận Tạng Vi Diệu Pháp độ cho chư Phật Mẫu đắc quả Nhập Lưu – thánh quả tuy thấp nhất trong bốn quả giải thoát nhưng lại là cao thượng nhất đối với các cõi chúng sanh chưa phải là thánh nhân, vì quả vị này đảm bảo cho dù không có Phật bên cạnh thì chư Phật Mẫu không bao giờ bị thoái hoá xuống các cõi thấp hơn cõi trời hiện tại là cõi Đâu Suất, các vị thánh Nhập Lưu chỉ có tiến lên trong vòng 7 lần tái sinh nữa để thành tựu quả vị Tứ Quả La Hán. Trong các pháp tu của Mật Tông Tây Tạng cũng có hình tượng Phật Mẫu phối ngẫu với chư Phật cùng ngự trên toà sen bảy báu mang ý nghĩa hài hoà âm dương, có thể nói Từ bi thuộc Âm và Trí tuệ thuộc Dương, chư Phật mà chỉ có Trí tuệ thì lạnh lùng khô cứng chúng sanh chẳng dám gần, phải có Từ bi thêm vào thì mới là đại dương bao la từ ái cho chúng sanh nương tựa. Thiên Chúa Ba Ngôi tôn vinh người phụ nữ vốn là một tạo vật lại trở thành Mẹ Thiên Chúa quyền uy trên chín phẩm thiên thần và làm nữ hoàng các đẳng cấp Thiên Thần, các Thánh Tông đồ, Thánh truyền giáo, Thánh nam nữ đồng trinh…Vậy tại sao chúng ta là những đấng mày râu mà không theo chư Phật chư Tiên để tập sống công bằng, trân trọng thành quả của các bậc nữ lưu ấy. Hơn nữa xét về nhân quả thì không phân biệt giới tính, ai tu đúng sẽ thành ví như trong Bát tiên có một vị tiên nữ đấy thôi. Trong hàng Thinh Văn vẫn có người nữ, đâu phải tu thành người nam mới thành Thánh được đâu, trí tuệ liễu sanh tử đâu chỉ dành cho phái nam mà hẹp hòi, ngăn cản, phỉ báng người nữ. Sở dĩ hai quả vị Duyên Giác và Toàn Giác đòi hỏi phải ở thân người đàn ông là vì ở các quả vị ấy phải tự dấn thân tu tập vất vả nơi núi rừng mà ít có sự giúp đỡ của gia đình, lại phải đi truyền giáo dạy đời rày đây mai đó nên năng lực người nữ không đủ đáp ứng cho các công việc nặng nhọc đó, cho nên để đả phá quan niệm này trong lĩnh vực tu thành Phật các Tổ sư viết kinh Diệu Pháp Liên Hoa đã khéo léo tạo hình Long Nữ có thể thành Phật ngay trong kiếp làm người nữ mà không cần chuyển hoá thành người nam.
Bên cạnh đó xin gởi đến vài lời đề nghị cho những ai là đệ tử của các quý Bà thì không nên vì sự tôn kính, thương mến, ngưỡng mộ của mình mà tôn xưng vị Thầy của mình lên hàng ngũ thần thánh, cho dù vị Thầy của mình có là Bồ tát thật đi nữa mà làm như vậy tức là hãm hại Thầy của mình một cách gián tiếp. Tại sao tôi nói vậy? Ngày xưa khi tự viện nào có chư Thánh tăng xuất hiện đều có thiên long hộ pháp bảo vệ rất nghiêm ngặt và không để cho phàm nhân được phép lai vãng gây mất thanh tịnh, nếu có ai biết được vị Thánh đó là ai thì thông thường vị Thánh đó liền biến mất hoặc đi chỗ khác vì tránh sự xáo động không cần thiết cho sự tu hành của họ. Làm như vậy không phải các Ngài ích kỷ chỉ biết hưởng thanh tĩnh cho riêng mình nhưng các Ngài muốn dành thời gian cho tu hành và hoàn thiện thêm những gì chưa hoàn thiện, chư Thánh nhân không khi nào tự thoả mãn với những gì đạt được nên luôn tìm cho mình một nơi thanh vắng để tham thiền nhập định như Đức Như Lai ngày nào mà không nhập đại định, Đức Chúa Giêsu ngày nào mà không cầu nguyện chiêm niệm vừa làm gương tu hành cho chúng sanh vừa phát triển những phẩm chất lành thánh của các Ngài. Ngoài công việc giảng dạy cho người thế gian vốn dĩ rất mệt nhọc tâm trí và thân thể, các Thánh lại thường phải dành thần lực để giáo hoá người âm và chư thiên vì hầu hết ai đắc quả đều được Bề Trên linh thiêng giao nhiệm vụ độ đời nên khi nào có chút thời gian rãnh rỗi là các Ngài nhập định ngay. Cho nên ngày nay nếu một vị nào tu hành đắc Thánh cho dù là quả vị thấp nhất họ cũng không muốn bị phàm phu tiết lộ vì không muốn cuộc sống bị đảo lộn, nổi tiếng như các ngôi sao ca nhạc thì cũng chắc gì cuộc sống êm đềm như người thường, làm gì cũng bị săm soi, dòm ngó, suốt ngày bận lo tiếp khách, bận rộn bên ngoài thì làm sao còn thời giờ đâu mà tu với hành. Hơn nữa pháp tánh tự nhiên của các Thánh là ưa thanh tĩnh, ít mong cầu giao tiếp, ít muốn người ta biết đến mình trong khi bản thân tự xét còn quá nhiều hạn chế, cũng không chắc mình làm gì được cho chúng sanh mà chúng sanh càng biết càng đến với mình nhiều thì còn cách là ‘biến đi mất cho yên thân’. Do đó nếu quý vị đệ tử vì muốn ép Thầy mình vào chỗ khó xử thì cứ việc tôn vinh Thầy một cách rầm rộ, làm như vậy sẽ có cái lợi là marketing cho ‘thương hiệu’ của Thầy, nhưng đồng thời cũng ngầm giúp cho thiên hạ có cớ để làm khó dễ vị Thánh đó bằng cách tha hồ chửi mắng, xiên xỏ, bới móc, ca ngợi một cách quá đáng vì họ nghĩ phải thử coi bà đó Thánh tới đâu hay chỉ là ảo danh thôi? Hậu quả là chia phe bênh vực hoặc chia phe để đàn áp, nếu như vị Thầy của quý vị là Thánh thứ thiệt thì quý vị cũng vô tình tạo duyên cho phe đàn áp lãnh tội ác khẩu đoạ lạc các cõi khổ tuỳ mức độ nặng nhẹ của thâm ý trong lời chửi mắng xiên xỏ đó, và nếu những người chửi mắng quý Thầy bị đoạ thì quý vị cũng đâu được bình an lên thiên đàng đâu, cũng bị họ kéo lôi cho xuống giống như họ. Nếu vị Thầy của quý vị chưa phải là Thánh thì với những trận đấu khẩu này sẽ càng làm cho vị ấy sanh tâm cao ngạo, thổi bùng lửa sân cháy khét toà sen công đức của vị đó, mà hệ quả là đã có bao nhiêu trận đấu phép bày ra rồi, như vậy cả thầy lẫn trò đều tự nhuộm mình trong màu chiến tranh, tang tóc chỉ vì chút hư danh, chút lửa bên ngoài của thiên hạ quăng tới cho quý vị lượm! Hiện nay đã có quá nhiều hệ phái, nhiều tín ngưỡng, nhiều danh hiệu thế thì việc đặt thêm cho các vị Thầy các danh xưng cao trọng nữa thì phải chăng chỉ làm khổ cho họ vì làm như vậy là càng làm cho họ mắc kẹt vào vòng danh lợi, vòng thù nghịch đối đãi đúng sai, tạo ra cho họ nhiều kẻ ganh tỵ thù oán. Tại sao không để tự người biết đến bằng danh thơm tiếng tốt, mà cho dù không ai xưng tán thì các bậc Thầy có chứng đắc thật sự cũng không thể che giấu ai được vì phong cách, diện mạo, ngôn từ, cách cư xử của các vị luôn tạo cho người đối diện sự kính trọng, thương mến một cách tự nhiên, chư thiên và các vị khuất mặt cũng tìm cách đưa hương thơm thánh thiện bay ngược gió đến nhiều chân trời xa thẳm, đâu cần PR theo kiểu thầy bà này nọ không những không làm cho các vị ấy lành thánh hơn mà còn có nguy cơ mang đến chiến tranh hệ phái thì tội cho công trình tu tập của các vị ấy lắm. Xin những ai tự hào làm đệ tử của các vị ấy hãy nhìn lại mình và nhìn cho thầy của mình, đừng để chư Bồ tát phải ngậm ngùi biến mất (Bồ tát không thành mà lại biến thành Bò tót thì quả là khổ đế!). Làm như vậy là làm hại thầy chứ đâu có thương thầy, nếu là đệ tử nên tôn vinh thầy bằng cuộc sống của mình, mình áp dụng cái gì hay ho từ thầy để vận dụng vào đường tu hành của mình, khi người khác nhìn thấy lối sống của mình tự động người ta có nhận xét về vị thầy của mình là thế nào, Chúa Giêsu từng nhắc nhở các môn đệ là nếu ai thương mến ta thì hãy đem lời ta mà vận dụng vào cuộc sống, không phải cứ gọi Lạy Chúa, Lạy Chúa mà được vào nước Trời. Nếu ngưỡng mộ ai mà không hiểu biết người thì chẳng phải là phỉ báng người ấy sao? Nếu có khen thầy của mình hay thì hãy khen cho tinh tế, khéo léo để cho chư Bồ tát không tủi phận mà người đời cũng không có cớ mà sa ngã! Từ bi đâu, trí tuệ đâu mà nỡ đẩy vị thầy của mình vào vòng tục luỵ như thế ?
Kính thưa các Bà Vô Định, Năm Hậu, Thanh Hải và kính thưa tất cả những quý Bà quý Cô nào tu hành nghiêm chỉnh, thanh tịnh, trang nghiêm, tôi với tuổi đời chưa tới 30 tuổi nên không dám xem thường quý vị mà ngược lại luôn để tâm kính trọng quý vị như mẹ tôi vậy. Vì Phật dạy, người nữ lớn hơn mình phải xem như chị, cô, dì chí đến mẹ của mình để trong tâm không khi nào khởi lên tư tưởng cống cao ngã mạn. Hơn nữa, các vị là bậc tu hành dù nhiều dù ít đều có giới luật nghiêm chỉnh, hạnh nguyện rõ ràng, đường lối đàng hoàng để mỗi ngày mỗi giờ tu hành khắc khổ cho ngày nay nở hoa kết trái thì tôi không thể khinh thường quý vị được, đó là tinh thần của Bồ tát Thường Bất Khinh trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Trong ngàn người tu thì có được mấy người thành tựu, đó là chưa kể những kẻ thất bại dọc đường. Người ta sánh đường tâm linh là đường hẹp và đi ngược đường thế tục nên rất ít và khó có người đi đông đảo, nên khi thành rồi rất là cao quý. Còn về phương diện chánh tà, đúng sai cũng chỉ là tương đối vì xét cho cùng thì vấn đề có hai mặt như tờ giấy, đồng xu nên rất khó để phân chánh tà, có chăng là đường hướng nào đem lại lợi ích cho phần đông chúng sanh, ít làm thiệt hại cho lợi ích chúng sanh. Tuy nhiên đã đi theo hướng nào thì sẽ phải chấp nhận quả báo đi kèm xu hướng đó, là quy luật tất yếu. Khi đắc pháp mà có thần lực chỉ mong quý Bà hãy học thêm cách sử dụng thần thông đó sao cho phù hợp, cho đúng đắn nhất thì hãy thực hiện chớ đừng làm theo suy tưởng của mình mà sau này rước hoạ thì tuyệt đối không nên, như việc đánh điển lực thì cũng giống như người đời bắn súng nhưng bắn súng đã nguy hiểm hàng trăm thì đánh bằng điển lực thần thông còn có hậu quả gấp hàng tỷ lần vì súng đạn mua bằng tài sản, còn năng lực mua bằng phước báu. Phước báu làm chủ tài sản, sinh mạng và mọi thứ hiện diện trên cuộc đời này cho đến các cõi trời vô hình. Nếu không có phước báu làm sao tu thiền định, làm sao gặp cơ hội làm ăn, làm sao gặp minh sư dạy bảo bí kíp, những huyền cơ không thể đổ xuống cho kẻ không chút phước lận lưng, mà khi tung đòn ra là mình đang xài phước báu tích tụ đó của chính mình chứ đâu phải của ai khác. Các bổn tôn, bổn sư chỉ hổ trợ chứ không thể cho nếu bản thân tín đồ không tự có phước báu vì Đức Phật từng nói “các đấng Như Lai chỉ là các ông thầy dẫn đường (đạo sư), các con phải tự mình thắp đuốc mà đi.” Đức Chúa Giêsu cũng nói tương tự là “Thầy là đường, là sự thật, là ánh sáng, ai theo Thầy thì sẽ không chết, các con phải vác thập giá mỗi ngày mà theo Thầy.” Thánh giá có nặng hay Đuốc Tuệ có sáng thì đều do chính mình nỗ lực hay buông xuôi mà thôi, nếu mình buông xuôi theo điều bất thiện thì Thánh giá của mình sẽ thành cái máy giết người, giết mình chết chứ ai, như vậy là tắt đuốc tối thui, còn ngược lại cải ác tùng thiện thì Thánh giá nở bông hoa và Đuốc Tuệ sáng ngời soi đường giải thoát cho mình, nên Chúa Kytô khuyến khích chúng ta trở thành Con Cái Ánh Sáng; Đức Phật nói có người đi từ Ánh sáng đến Ánh sáng, đi từ Bóng tối ra Ánh sáng là như vậy. Chân lý hay Giáo Pháp chỉ có Một, đâu có Hai bao giờ. Nếu có Hai là vì có tranh đấu, phân biệt, đặt cái suy tưởng phán xét theo phiền não của mình vào sự vật sự việc, rồi bóp méo hay vo tròn nó thôi. Ngay cả hành động thiện hay bất thiện cũng chính là Chân Lý, là Pháp nên tại sao quả báo thiện hay bất thiện không sai chạy với nhân tạo tác trước đó. Thêm nữa, tại sao các Bà vì cớ chi mà khó đoàn kết lại với nhau hơn các ông, nhất là trong lĩnh vực quyền lợi và danh dự? Tôi nghe thiên hạ đồn đại nếu mà bà Vô Định và bà Năm Hậu mà bắt tay nhau thì sẽ còn tồi tệ hơn mười bà Thanh Hải gộp lại cùng lúc, đó, các bà thấy mấy ông lo sợ sự lợi hại của phụ nữ quý bà không, cớ gì cùng có nhân duyên cung cõi trên mà khi xuống đây lại quên nhân duyên xa xưa mà trở thành những kẻ đối nghịch nhau vậy ? Tôi có nghe Sư tỷ của tôi vốn cũng là một bậc tu hành chốn thiền tịnh than rằng sao bà Năm Hậu không nhớ khi xưa cũng là cung tiên bây giờ tu thành rồi lại quên tình bạn cũ mà đi đấu pháp, nắn gân nhau chi vậy? Thi thố cái gì đây, quay qua, quay lại cùng là thân thuộc mấy kiếp xa xưa. Tại sao khi có một vị đắc pháp, các vị khác không dùng điển quang chiếu đến như là chúc mừng và mời gia nhập hội các vị nữ hành giả đắc pháp, như truyền thống của chư Phật Độc Giác khi có vị nào vừa đắc quả thì các vị trước đều gởi hào quang đến chúc mừng và vị Tân Độc Giác sẽ bay về nơi cư ngụ của chư Độc Giác để cùng sum họp. Cuối cùng chỉ mong các Bà noi gưong chư Phật chư Thánh xưa kia, trước khi làm việc gì cũng nhập định rồi hãy trổ lực thần thông, hãy chịu khó định tĩnh nội tâm mà quan sát nhân duyên để tránh chuốc ưu phiền bà con bạn bè giày đạp lẫn nhau, nếu có muốn đánh cho đỡ ngứa ngáy tay chân thì hãy cùng nhau họp lại mà đánh mấy ông chồng ham hố quyền gia trưởng, ỷ mạnh hiếp yếu, ỷ mình tu hành lâu năm có phép thuật chuyên đi lừa gạt đàn bà con gái cả tin mê tín, đánh mấy kẻ không ra gì mà mở mồm xưng thần thánh chớ đừng vì chuyện xích mích con cỏn, đừng vì những câu chữ vô tri trên các diễn đàn mà chị em đánh nhau làm trò vui, trúng kế ly gián của kẻ địch thì không sáng suốt chút nào, vừa mệt xác mệt tâm mà uổng phước tu tập nữa, chi bằng dùng năng lực của mình vào chuyện lớn của thiên hạ tu hành giải thoát sanh tử luân hồi, chớ để uổng phí thần thông thần lực mà còn tích đức đặng thành Chánh quả sau này nữa.
Kính mong !
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)




Bookmarks