III. NGHI THỨC THÀNH PHỤC & KINH TẾ LỄ

A. Lễ Thành Phục

1. Dâng Sớ

- Có nhạc và Lễ Sĩ. (1)
- Cúng Đức Chí Tôn trưc, có Thượng Sớ (khi đốt Sớ đốt luôn Sớ Cầu Đạo người chết).
- Bài vị người quá cố được đặt trước Thiên Bàn và tang quyến quỳ sau bài vị (bài vị day mặt vô bàn thờ).

2. Cáo Từ Tổ Phụ

Cúng dâng Sớ xong thì đem bài vị và mâm tang phục đặt trước bàn thờ Cửu Huyền để làm lễ Cáo Từ Tổ Phụ.

- Đọc Kinh Cầu Tổ Phụ Qui Liễu (3 lần)
- Đọc Kinh Cứu Khổ (3 lần)
- Tang chủ lạy 3 lạy

3. Cúng Vong và Phát Tang

Cáo Từ Tổ xong, đem bài vị và lư hương trở lại bàn vong, Mâm tang phục cũng được đặt trước bàn Vong và Chức Việc hữu trách mặc Đại phục đứng ra phát tang.

Cúng vong có nhạc và 2 Lễ Sĩ chấp sự. Tang chủ quỳ tế, tay bắt ấn Tý. Đồng nhi đọc một bài Kinh Thế Đạo tuỳ theo quan hệ giữa người chết và tang chủ: Vợ tế chồng hoặc chồng tế vợ, Con tế cha mẹ, Em tế anh chị…

B. Tế Lễ

1. Chánh Tế hay Lễ Đăng Điện

- Có 6 Lễ Sĩ hiến lễ.
- Tang chủ quỳ chánh tế, tay bắt ấn Tý.
- Đọc KINH THẾ ĐẠO tùy trường hợp

2. Phụ tế

- Sau chánh tế của tang gia là đến phần tế lễ của thân bằng cố hữu
- Có nhạc và 2 Lễ Sĩ chấp sự
- Đọc 1 bài Kinh Thế Đạo.

C. Cúng Sáng, Chiều

1. Cúng trước bàn vong có nhạc và 2 Lễ Sĩ chấp sự
2. Đọc 1 bài Kinh Thế Đạo
3. Tụng DI LẶC CHƠN KINH

(1) Lễ Sĩ: người được Hội Thánh đào tạo để thực hiện nghi lễ cúng tế.

D. Các Bài Kinh Thế Đạo Dành Cho Tế Lễ

Kinh Cầu Tổ Phụ Đã Qui Liễu

(Giọng Nam Ai)

Giọt máu mủ lưu truyền tại thế.
Con những mong truyền kế lửa hương,
Nguyện cùng Thất Tổ xin thương,
Cho bền gang tấc noi đường thảo ngay.
Xưa chẳng đặng phước may gặp Đạo,
Nay phò trì con cháu tu tâm.
Dâng gươm huệ kiếm xin cầm,
Chặt lìa trái chủ đặng tầm ngôi Thiên.
Dầu tội chướng ở miền Địa giới,
Dầu oan gia ở ngoại Càn khôn.
Dầu mang xác tục hay hồn,
Nhớ cầu Từ Phụ CHÍ TÔN cứu nàn.
Dầu đoạt vị ở an Thiên cảnh,
Dầu tái sanh mở cảnh siêu phàm.
Nương thuyền Bát Nhã cho an,
Dìu chừng con cháu vào đàng nghĩa nhân.
Kìa lố bóng hồng ân bao phủ,
Cả thế gian đầy đủ đạo mầu.
Âm dương đôi nẻo như nhau,
Cửu Huyền Thất Tổ giữ câu thọ trì.
Chốn Tây phương đường đi thong thả,
Cõi Diêm cung tha quả vong căn.
Tiêu diêu định tánh nắm phan,
Do theo Cực lạc đon đàng siêu thăng.
Nhớ nỗi hiếu khó ngăn nét thảm,
Tưởng nguồn ân đốt nắm tâm hương
Tấc lòng đòi đoạn đau thương
Chơn mây vái với hương hồn hiển linh.
ĐOÀN THỊ ĐIỂM


Kinh Tụng Cha Mẹ Đã Qui Liễu
(Giọng Nam Ai)

Ơn cúc dục cù lao mang nặng,
Lỡ thân côi mưa nắng khôn ngừa.
Âm dương cách bóng sớm trưa,
Thon von phận bạc không vừa hiếu thân.
Đầu cúi lạy... (1) linh hiển,
Lễ muối dưa làm miếng hiếu tâm,
Ven Trời gởi chút tình thâm,
Động lòng thương nhớ tuôn dầm lệ sa.
Xin có tưởng ruột rà máu mủ,
Cõi Hư linh bao phủ ân hồng,
Cảnh Thiên noi bước Hóa Công,
Nắm phan Tiếp Dẫn vào vòng Như Lai.
Chốn Hư linh chờ ngày hội hiệp,
Dầu căn xưa quả kiếp dường bao.
Thà cam vui chốn động Đào,
Đừng vì nhớ trẻ trở vào phàm gian,
Nuốt tiếng than đôi hàng lã chã,
Tưởng đến điều nhơn quả mà đau.
Xem thân tuổi hạc càng cao,
E ra tử biệt Thiên Tào định phân.
Nối hương lửa nhơn luân đạo trọng,
Con gìn câu chết sống trọn nghì.
Sấp mình cúi lạy Từ Bi,
Tiền khiên phụ mẫu Tam Kỳ xá ân.
Xin ... (2) định thần, định tánh,
Noi khuôn linh nẻo Thánh đưa chơn.
Thong dong cõi thọ nương hồn,
Chờ con lập đức giúp hườn ngôi xưa.
Chung ly biệt con đưa tay rót,
Mối thương tâm chưa ngớt đeo sầu.
Cha ở đâu, mẹ nơi đâu?
Tâm tang kính gởi một bầu lệ châu
ĐOÀN THỊ ĐIỂM
(1) (2) mẫu thân hay phụ thân

Kinh Tụng Khi Thầy Qui Vị

Đường công danh càng nhìn quảng đại,
Nghĩa Thầy trò, nghĩ lại khó quên.
Vái cùng Sư Phụ linh thiêng,
Chứng lòng đệ tử đáp đền ơn xưa.
Dầu hoạn lộ chưa vừa sở nguyện,
Dầu cửa quyền trọng tiếng chăn dân.
Ơn cha sanh hóa ra thân,
Ơn Thầy giáo huấn cũng gần như nhau.
Khoa võ môn dầu nhào qua khỏi,
Trương vi rồng học hỏi nơi ai?
Đẹp mình với vẻ cân đai,
Công Thầy tô điểm từ ngày ấu xuân.
Cõi Hư vô nay gần phước Thánh,
Xin châu toàn đường hạnh môn sinh.
Cõi Thiên xin gởi chút tình,
Rót chung ly hận gật mình đưa thương.


ĐOÀN THỊ ĐIỂM

Kinh Tụng Khi Chồng Qui Vị

(Giọng Nam Ai)
Niềm ân ái thân hòa làm một,
Nghĩa sơ giao khắc cốt ghi xương.
Nhắn mưa gởi gió đưa thương,
Từ đây thiếp tỏ đoạn trường với ai?
Càng nhớ đến những ngày hội ngộ,
Càng ngổn ngang mối nợ tình chung.
Đã đành bẻ gãy chữ đồng,
Hiển linh chứng chiếu tấm lòng tiết trinh
Dầu sống sót cũng đành gọi thác,
Vui chi còn man mác tơ duyên.
Thiệt thòi cam phận thuyền quyên,
Chứa chan giọt lệ Cửu tuyền cuộn trôi.
Chàng đã đặng phủi rồi nợ thế,
Xin hiển linh giúp kẻ góa thân.
Chở che khỏi kiếp phong trần.
Gìn gương liệt nữ hồng quần để soi.
Chàng dầu đặng thảnh thơi cảnh trí,
Hộ dâu con giữ kỹ nhơn luân.
Chàng dầu vinh hiển cảnh Thần,
Gởi trong giấc mộng đặng gần cùng nhau.
Chàng dầu hưởng Thiên Tào quyền phép,
Đỡ đường trần chật hẹp thân côi.
Chàng dầu cung Ngọc an ngôi,
Xin thương thân thiếp nợ đời còn mang.
Gởi hồn phách cho chàng định số,
Gởi kiếp căn chàng mở dây oan
Thiếp cam bao tóc thờ chàng,
Rót chung ly biệt đôi hàng lụy sa !

ĐOÀN THỊ ĐIỂM


Kinh Tụng Khi Vợ Qui Liễu
(Giọng Nam Ai)

Tưởng tơ tóc cùng nhau trọn đạo,
Theo tùng phu sửa áo nâng khăn.
Âm dương đôi nẻo chia phân,
Túy sơn vân mộng mới gần đặng nhau.
Khi để bước phòng đào lạnh ngắt,
Mảnh tàn y dường nhắc nghi dung.
Thấy cơn tử biệt não nùng,
Hương thề tắt ngọn lạnh lùng tơ duyên.
Càng nhớ đến lời nguyền buổi trước,
Thẹn non sông chưa ngớt tình nồng.
Phụ phàng chi bấy Hóa công,
Lòng nào mà lại cắt lòng không đau.
Nối Tông Tổ biết bao nghĩa trọng,
Cơ nghiệp còn lưu mộng tang du,
Mập mờ nhắn nguyệt đêm thu,
Kẻ còn người mất, ai sầu hơn ai?
Vói nhắn khách Dạ đài có tưởng,
Vậy bóng hình để tướng nơi nao?
Hay là lạc bước nguồn đào,
Để thương cho mặt anh hào đeo mang.
Ngồi quạnh quẽ đèn tàn một bóng,
Chịu góa thân tuyết đóng song thu.
Bước Tiên nàng đã ngao du,
Đoái tình thương kẻ ôm cầu khóc duyên.
Hay nàng đặng nhập miền Cực Lạc,
Đoái tưởng người chưa thoát trầm luân.
Ngước trông níu ngọn phất trần,
Chổi Tiên quét sạch nợ nần oan gia.
Dâng mảnh tâm gọi là của lễ,
Chén ly tình là lệ ái ân.
Dầu chi cũng nghĩa chí thân,
Khối tình còn có một lần đấy thôi.


ĐOÀN THỊ ĐIỂM


Kinh Tụng Huynh Đệ Mãn Phần

(Giọng Nam Ai)

Niềm thủ túc đã đành vĩnh biệt,
Càng nhớ nhau càng tiếc tình nồng.
Thân nhau từ buổi lọt lòng,
Chén cơm miếng cá cũng đồng chia nhau.
Câu chọc ruột còn đau đớn bấy,
Huống âm dương hết thấy mặt nhau.
Rẽ phân cốt nhục đồng bào,
Cảnh Thiên cõi tục lẽ nào không thương.
Thương những thuở huyên đường ôm ấp,
Thương những khi co đắp chung mền.
Thương hồi thơ bé tuổi tên,
Thương cơn khôn lớn giữ bền nghĩa nhau.
Rủi Thiên số Nam Tào đã định,
Giải căn sinh xa lánh trần ai.
Khá tua theo bóng CAO ĐÀI,
Nương mây thoát tục ra ngoài Càn Khôn.
Khối tình ái hương hồn dầu nhớ,
Tránh oan gia giải nợ trầm luân.
Viếng thăm hôm sớm...(1)
Trọn câu thần tỉnh ân cần cung Tiên.
Gởi Tổ Phụ... (2) hiền cung phụng,
Gởi sắp em còn sống nơi đời.
Rót chung ly biệt lưng vơi,
Mảnh lòng tha thiết đưa người bạn xưa

ĐOÀN THỊ ĐIỂM

__________________
(1) : Song thân, mẫu thân hoặc phụ thân đã qui vị
(2) Anh hay chị em đã mãn phần


Kinh Cầu Bà Con Thân Bằng Cố Hữu Đã Qui Liễu

(Giọng Nam ai)
Khi dương thế không phân phải quấy,
Nay hư linh đã thấy hành tàng.
CHÍ TÔN xá tội giải oan,
Thánh, Thần, Tiên, Phật cứu nàn độ căn.
Đã từng chịu khó khăn kiếp sống,
Định tâm thần giải mộng Nam kha.
Càn khôn để bước Ta bà,
Đoạt cơ thoát tục tạo nhà cõi Thiên.
Ơn Tạo hóa tha tiền khiên trước,
Đưa linh phan tiếp rước nguyên nhân.
Tiên phong phủi ngọn phất trần
Liên đài đỡ gót đến gần Tây phương.
Cửa Cực Lạc đon đường thẳng tới,
Tầm không môn đặng đợi Như Lai.
Hào quang chiếu diệu CAO ĐÀI,
May duyên nay đã gặp ngày siêu sinh.
Trụ nguyên tánh hồn linh nhàn lạc,
Cõi Đào nguyên cỡi hạc thừa long.
Lánh xa trược chất bụi hồng,
Cung Tiên sớm tối vui vòng thung dung.
Nơi cung Ngọc học thông Đạo cả,
Chốn Hư Vô Tạo Hóa tìm cơ.
Trên đường Thánh đức lần dò,
Trường sanh mầu nhiệm nơi lò Hóa công.
Khá từ bỏ xa dòng bể khổ,
Diệt trần tình Cam Lộ tẩy nhơ.
Ngân Kiều Bát Nhã qua bờ,
Đưa duyên để bước kịp giờ siêu thăng.

ĐOÀN THỊ ĐIỂM


Kinh Cứu Khổ


Nam mô Đại Từ, Đại Bi Quảng Đại Linh Quan Thế Âm Bồ Tát (đọc 3 lần)

Nam mô cứu khổ, cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát, bá thiên vạn ức Phật, hằng hà sa số Phật, vô lượng công đức Phật. Phật cáo A Nan ngôn, thử kinh Đại Thánh, năng cứu ngục tù, năng cứu trọng bịnh, năng cứu tam tai bá nạn khổ. Nhược hữu nhơn tụng đắc nhứt thiên biến, nhứt thân ly khổ nạn, tụng đắc nhứt vạn biến, hiệp gia ly khổ nạn.

Nam mô Phật lực oai, Nam mô Phật lực hộ, sử nhơn vô ác tâm linh nhơn thân đắc độ, Hồi quang Bồ Tát, Hồi thiện Bồ Tát, A Nậu Đại Thiên Vương chánh điện Bồ Tát, ma kheo ma kheo thanh tịnh tỳ kheo, quan sự đắc tán tụng sự đắc hưu, chư Đại Bồ Tát, ngũ bá A La Hán, cứu hộ đệ tử... (I) nhứt thân ly khổ nạn, tự ngôn Quan Thế Âm anh lạc bất tu giải, cần đọc thiên vạn biến tai nạn tự nhiên đắc giải thoát, tín thọ phụng hành tức thuyết chơn ngôn viết: Kim Ba Kim Ba Đế, Cầu Ha Cầu Ha Đế, Đa La Ni Đế, Ni Ha La Đế, Tì Lê Ni Đế, Ma Ha Dà Đế, Chơn Lăng Càn Đế, Ta Bà Ha.

Tụng xong 3 lần, rồi niệm câu chú: Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)