TÂY AN CỔ TỰ Ở LONG KIẾN
Chính nơi đây Đức Phật Thầy giáng thế cứu đời phát phù trị bịnh cho vạn dân bá tánh. Nguyên trước khi Ngài đến thì chỗ này đã có một cái cốc. Cái cốc ấy vốn của ông đạo Kiến lập lên để ở và độ thuốc cứu bịnh cho dân trong làng. Hồi Đức Phật Thầy đến đây thì quang cảnh cái cốc gần như điêu tàn bởi ông đạo Kiến đã hóa ra người thiên cổ. Ngài cho tu bổ lại, trang bị thành một cơ cấu tôn giáo.
Chính ở đây lần đầu tiên Đức Phật Thầy chỉ dạy các nghi tiết thờ phượng lễ bái cùng cách thức tu hành cho môn nhơn đệ tử. Thế cho nên người ta có thể nói tấm trần điều được đặt nơi ngôi Tam Bảo thay thế cho tượng Phật, chính là ở chùa này trước hơn hết. Một khi hiểu được cách thờ phượng ở chùa này, người ta dễ phân biệt chùa nào còn noi theo chơn truyền của Đức Phật Thầy và gia đình Phật tử nào là môn nhơn đệ tử của Ngài.
Khi Đức Phật Thầy bị đòi lên tỉnh An giang, thì cái chùa này cũng chưa có đặt tên. Mãi cho đến năm Bính Thìn (1856) trước khi Ngài tịch bảy ngày, Ngài mới chịu cho hiệu chùa ở núi Sam là Tây An tự và đồng thời Ngài cho người xuống Kiến Thạnh đặt hiệu cho cái cốc của ông đạo Kiến cũng là Tây An tự. Nhưng muốn phân biệt chùa ở Kiến Thạnh với chùa ở Núi Sam cũng đồng một tên Tây An, về sau người ta gọi chùa ở Long Kiến là Tây An Cổ Tự, bởi ngôi chùa nầy lập trước ngôi chùa ở Núi Sam.
Cứ theo những người cố cựu trong làng thì khi Đức Phật Thầy từ đình Kiến Thạnh dời về cái cốc của ông Kiến, lúc đó đã có ông cai Bồng theo hầu rồi. Khi Đức Phật Thầy lìa khỏi cái cốc này thì việc nhang khói giao lại cho cha con ông cai Bồng truyền nhau săn sóc.
Khi ông cai Bồng qua đời, con ông là ông Tám Vẹn nối nghiệp cha mà gìn giữ ngôi chùa. Sau ông Vẹn thì có em rể của ông là ông Tám Chữ thay thế; rồi sau đến sư Huynh. Và sau chót hết là ông Trần Văn Tại.
Năm 1918, cây dầu trồng ở phía trước chùa bị đốn đi để làm cầu và cất trường học, sau một thời gian sống sáu mươi năm, gốc nó lớn hơn một thước. Đến năm Đinh Mão (1927) chùa bị phát hỏa làm cho ba cây dầu trồng ở phía sau chùa cùng bị cháy theo nên chết hết.
Theo lời các vị bô lão thì khi chùa phát hỏa, có lắm người cảm tử quyết xông vô, giành lại những bửu vật của Đức Phật Thầy để lại mà người coi chùa, trên một thế kỷ thay phiên nhau nâng niu cất giữ. Những bửu vật ấy chẳng chi khác hơn là một cái cơi trong đó đựng một mớ tóc rối của Đức Phật Thầy, một cây quạt lông, ba tàn thuốc lá đã bị mọt ăn lủng lỗ và một quyển kinh. Mặc dầu họ tận tâm cứu chữa, nhưng vô hiệu quả. Ngôi chùa bị cháy rụi không còn sót một vật gì.
Đến năm Nhâm Thìn (1952) ông Nguyễn Giác Ngộ cùng anh em đồng đạo các nơi đồng tâm hiệp lực chấn chỉnh trùng tu thành một ngôi chùa rất phong quang, uy nghiêm hùng vĩ như ngày nay. Lễ khánh thành đã cử hành vào ngày rằm tháng giêng năm Quí Tỵ (1953).
Chùa Tây An Cổ Tự ở Long Kiến - Chợ Mới, An Giang
Người ta có thể nói ngôi chùa này là cổ nhất và còn giữ được cách thờ phượng đúng với chơn truyền của Đức Phật Thầy, nghĩa là thờ trần điều, tượng trưng lòng bác ái đối với tất cả chúng sanh.
Trong một phiên giảng ứng khẩu ở chùa này, ông Thanh Sĩ, một hậu thế lỗi lạc của Bửu Sơn Kỳ Hương, đã có đoạn làm nổi bật cái đặc trưng chơn truyền ấy, với những câu:
Ai có đến Tây An Cổ tự,
Cũng lấy làm lạ mắt mọi điều;
Sự phượng thờ hay cách biểu nêu,
Đều có chỗ vô vi huyền bí.
Mong ai có để lòng suy nghĩ,
Nhắc người không quên chữ trần điều.
Tuy vật khinh mà giá cao siêu,
Hãy thành kính chớ lời khinh bội.
CHÙA TÂY AN Ở NÚI SAM
Từ thị xã Châu Đốc vô Núi Sam khoảng 5 cây số. Khi đi đến ngã ba nơi chân núi, thì trước mặt sừng sựng một cảnh chùa nguy nga, kiến trúc nửa tân, nửa cựu. Trước chùa có một cái cửa chánh trên có đề một hàng chữ nho: Tây An môn ; nhưng ngỏ này không vào ra gì được. Chỉ có cái cửa có đề ba chữ Việt: Tây An tự là vào được mà thôi. Muốn vào chùa, phải bước trên mười nấc thang lót gạch. Vượt qua cửa và vòng hàng rào rất kiên cố là đến sân, ngó qua phía đông có ba ngôi tháp cao vọt khỏi nóc chùa.
Chùa Tây An, núi Sam
Nếu là khách thập phương đến hành hương lần thứ nhứt, khi thấy ngôi tháp đồ sộ này thế nào cũng đinh ninh rằng: Trong mấy ngôi tháp ấy thế nào cũng có ngôi mộ của Đức Phật Thầy. Nhưng người ta đều lầm.
Đó là mấy ngôi tháp của những vị hòa thượng trụ trì từ ngày Đức Phật Thầy tịch trở lại đây. Còn chính ngôi mộ của Ngài thì lại khiêm nhượng nằm trên triền núi, ẩn phía sau giải tháp nguy nga ấy. Ngôi mộ này do thiện nam tín nữ chung nhau tu bổ hồi tháng sáu năm Kỷ mão (1939). Bên ngoài mộ có một vòng thành bề dài lối 5 thước, bè ngang lối 4 thước. Ngả vào có hai cánh cửa, sáng mở ra cho thiện nam tín nữ vào lễ bái, tối đến thì đóng khóa lại. Hai trụ cửa có hai câu đối:
Phách vãng Tây phương, bật thảo điêu tàn chu vị tử,
Hồn qui thọ vức, đàm hoa lạc khứ hữu dư hương.
Phía ngoài cửa, một bên vách có khắc ba bài thơ bát cú như vầy:
Tây An Phật cảnh Cao cung
Nam mô nhị tự chánh liên hoa,
Di Đà cứu khổ niệm tam thinh.
Phật truyền nhơn nguyện tà tâm giải,
Khẩn niệm Như Lai Phật độ sanh.
Tụng đắc hàng ma trừ yêu quái,
Tâm trung tưởng niệm diệt thanh niên.
Gia trạch bình an viên công niệm,
Thường hành tế độ phước lai tâm.
***
Dạ đoản canh sơ, sơ canh trường,
Cộng ngâm thị nhã cộng bình trường.
Bá vạn thiết thiết tâm mưu vọng,
Vạn lý bôn lai sơ hải cường.
Quá khứ vi lai thiên cổ tích,
Phàm nhơn tụng niệm diệc thanh cường.
Tâm thường bình đẳng nhàn cộng niệm,
Cứu khổ tai ương bất ngộ ương.
***
Lòng ở từ bi đã bấy chầy,
Thanh nhàn cực lạc chốn Phương Tây.
Năm hằng đạo đức hằng vui vẻ,
Sáu ngả luân hồi chẳng chuyển xoay.
Lặn lội theo người xa bể khổ,
Dắt dìu cứu kẻ bước thang mây.
Đã nguyền tế độ cơn lâm nạn,
Vì việc nhơn gian mới đến đây.
Tương truyền mấy bài thơ này là của Đức Phật Thầy giáng bút từ lâu, nên được khắc vào đây làm kỷ niệm.
Trước mộ có một tấm bia, khắc như vầy:
Nguơn sanh Đinh mão niên, thập ngoạt, thập ngũ nhựt, ngọ thời chú sanh.
Tự Lâm tế gia chư thiên phổ tam thập bát thế, thượng pháp hạ tạng tánh Đoàn, pháp danh Minh Huyên, đạo hiệu Giác Linh chi miễn tọa.
Tịch ư Bính thìn niên, bát ngoạt thập nhị nhựt, ngọ thời thị tịch diệt.
Mộ không có đắp nấm cao lên như các mộ khác, vì trước khi tịch, Đức Phật Thầy đã di giáo làm như vậy.
Ngoài ngôi mộ, Đức Phật Thầy còn để lại một di tích nữa là cái giếng nước ở lưng chừng giữa triền núi cách mộ lối 200 thước. Chỗ đó trước kia là một cái khe nước chảy rỉ rả, nhưng từ ngày được Ngài khai vét thành một cái ao nhỏ thì quanh năm nước chứa xài không hết. Từ ngày Ngài tịch về sau, có một độ dân chúng xem nó như cái suối ở thành Lourdes bên Pháp. Những người có bịnh đến múc nước ấy, lượm vài lá xoài, lá mít rụng bên mộ Ngài đem về nấu nước uống, thế mà cũng hết bịnh.
Mộ không đắp nấm mộ
Chỉ mới đi vòng ngoài chùa Tây An, người ta đã gặp bao nhiêu di tích của Đức Phật Thầy. Ai cũng tưởng khi vào phía bên trong chùa, thế nào cũng còn được thấy nhiều bửu vật của Ngài nữa. Nhưng người ta không khỏi ngạc nhiên khi bước qua ngưỡng cửa, thấy trong chùa thờ la liệt những tượng cốt, khác hẳn nghi thức thờ phượng mà Ngài đã truyền lại ở Tây An Cổ tự. Càng ngạc nhiên hơn nữa là ngày cũng như đêm, trong những thời khóa tụng, vang lên những tiếng chuông mõ, đọc tụng ó la.
Đứng trước cảnh tượng ấy, người hiểu đạo của Đức Phật Thầy không khỏi băn khoăn tự hỏi: Sao người ta nói chùa nầy là chùa chánh của Đức Phật Thầy mà lại nghi thức thờ phượng không trần thiết đúng với chơn truyền?
Có hiểu qua lịch sử chùa Tây An mới biết sự khác biệt ấy. Nhắc lại khi Đức Phật Thầy được triều đình nhìn nhận sắc phong, và muốn Ngài lập một cảnh chùa như bao chùa khác tại tỉnh thành An Giang, nhưng Ngài không muốn. Sau khi xem địa thế, Ngài vào Núi Sam lập một ngôi chùa cột săng lợp lá. Đương nhiên chùa này phải là chùa công. Mà đã là chùa công thì nghi thức thờ phượng phải nhất trí và cùng một hệ thống với chùa công khác. Chừng như khi cất xong chùa, nhà cầm quyền có phái một vị hòa thượng đến hiệp cùng Đức Phật Thầy trong công việc trần thiết nhứt trí ấy.
Sau khi Đức Phật Thầy tịch, chùa Giác Lâm ở Chợ lớn lại phái sư cụ Nguyễn Nhứt Thừa lên thế cho Ngài mà trụ trì chùa Tây An.
Một bằng chứng là trong bài vị Đức Phật Thầy thờ ở chùa Tây An, có câu: “Tự Lâm Tế Gia Chư Thiên Phổ Tam Thập Bát Thế Thượng Pháp Hạ Tạng... “.
Lâm Tế là một trong năm giáo phái ở Tàu truyền qua nước ta như: Lâm tế, Tào động, Qui ngưỡng, Vân môn và Pháp nhãn. Chùa Giác lâm ở Chợ lớn là một chùa theo phái Lâm tế và được triều đình chính thức nhìn nhận. Chừng như lúc bấy giờ, các chùa trong miền Nam đều đặt dưới sự chi phối của chùa này, nên chi khi Đức Phật Thầy tịch thì sư cụ Nguyễn Nhứt Thừa đương chức Yết Ma chùa Giác Lâm được phái lên chùa Tây An thay thế. Có lẽ vì thế mà trong bài vị, người ta gáng Đức Phật Thầy vào phái Lâm Tế.
Từ ngày Đức Phật Thầy tịch, chùa Tây An hoàn toàn thuộc vào phái Lâm Tế, do sư cụ Nguyễn Nhứt Thừa trụ trì. Về sau sư cụ được thăng lên chức hòa thượng và tịch năm Giáp Thân, tức năm 1884, thọ 50 tuổi. Tháp của ông rất lớn, nằm kế bên chùa.
Người thứ nhì thừa kế sư cụ Nguyễn Nhứt Thừa là sư cụ Nguyễn văn Khiêm, pháp danh Hoàng Ân, cũng là một nhà sư của chùa Giác lâm phái lên. Sư Hoàng Ân tịch năm Giáp dần (1914), nghĩa là trụ trì được 30 năm.
Khi sư cụ Nguyễn Văn Khiêm tịch thì trưởng tử là Nguyễn Trang Nghiêm, pháp danh là Huệ Quang lên thay thế. Rồi tiếp đó là ông Nguyễn Thuần Hậu ở Hà Tiên được mời về trụ trì. Sau ông Hậu thì có ông Ngô Văn Hòa là người ở tại chùa từ nhỏ được đưa lên kế vị.
Cứ xem đó cũng đủ thấy chùa Tây An, từ hồi Đức Phật Thầy tịch cho đến nay, các nhà sư Lâm Tế liên tiếp nối nhau trụ trì.
TRẠI RUỘNG Ở THỚI SƠN
Muốn vào trại ruộng ở Thới Sơn, phải đi theo con lộ trải đá ở Núi Sam vô Nhà Bàng độ 10 cây số. Từ Nhà Bàng vào trại ruộng Thới Sơn là con đường truông đi quanh co trong rừng dưới chân núi đầy cát trắng. Khi vào gần tới chùa, bên phía tay mặt có thấy một cây lâm vồ to cỡ năm sáu người ôm. Tương truyền cây lâm vồ này là của Đức Phật Thầy Tây An trồng khi trước.
Ngày nay, nhờ có đường lộ bằng thẳng cho nên từ Núi Sam đi vào trại ruộng Thới Sơn kể ra cũng không khó, chớ còn hồi thời Đức Phật Thầy, từ châu thành An Giang đi vào Núi Sam cũng đủ thấy khó nhọc lắm rồi, nữa là từ Tây An tự đi vào trại ruộng Thới Sơn, vì rằng lúc bấy giờ còn rừng hoang cỏ rậm, không có đường xá, lại thêm thú dữ rất nhiều. Nếu có việc cần phải đi, người ta hiệp nhau thành đoàn và phải có người võ nghệ cao cường theo hộ tống. Thế nên, từ ngày con kinh Vĩnh Tế thông thương người ta thường dùng ghe xuồng đi vô ngang núi, rồi đổ bộ đi lên, nhưng đi như thế cũng khó khăn không thua gì đi bộ từ tỉnh thành vào Núi Sam.
Có hiểu những nổi khó khăn trong việc đi đường lúc bấy giờ, mới hiểu tại đâu Đức Phật Thầy không chịu cất chùa ở tỉnh thành mà lại vào cất ở Núi Sam và tại đâu lập trại ruộng ở Thới Sơn. Ngài vào Thới sơn lập trại ruộng để tổ chức việc thờ phượng theo đúng giáo pháp của Ngài. Con đường đi vào Thới Sơn là con đường đầy hiểm trở thì chắc rằng những người không có tâm đạo sẽ không mấy khi lặn lội đi đến, Ngài gọi tên cái chùa ấy là trại ruộng!
Khi Đức Phật Thầy đến Thới Sơn lập trại ruộng, thì dân cư rất là thưa thớt chẳng được mấy người, làng xóm chưa tổ chức, vì địa thế hiểm trở mà thú dữ cũng nhiều không ai dám ở. Sau khi Ngài đến ở, phát rẫy làm ruộng và cứu dân độ bịnh thì lần lần dân chúng mới kéo đến.
Tương truyền rằng từ ngày Ngài đến Thới Sơn thì thú dữ không còn phá hại dân cư nữa, mà trái lại nó trở nên hiền lành. Có lẽ nhờ phép huệ linh của Ngài mà chúng nó thuần phục chăng? Nhờ đó, dân chúng mới dám đến ở, mở mang rừng bụi, làm rẫy, làm ruộng, trồng đủ các loại cây trái. Cũng có người cho rằng dân cư đông đúc nên thú dữ phải vào chốn sâu để sinh sống.
Đã mang tên là trại ruộng thì cũng phải mua sắm nông cụ, Đức Phật Thầy còn nuôi hai con trâu mà Ngài đặt tên là: con Sấm, con Sét. Một điều mà ai cũng lấy làm lạ là chỉ có Đức Phật Thầy điều khiển thì chúng mới chịu làm, còn ngoài ra thì không ai sai khiến gì được. Có lẽ vì thế mà người ta kêu tôn hai con trâu ấy là ông Sấm, ông Sét.
Bàn thờ trần điều
Cách trần thiết bên trong nơi thờ tự thì hoàn toàn đúng theo nghi thức mà Ngài đã trang bị cái cốc ở Xẻo Môn. Thế cho nên ở đây, mặc dầu là một nơi hẻo lánh, môn nhơn đệ tử của Ngài qui tụ rất đông, nhứt là hàng đại đệ tử, như anh em ông Đình Tây, ông Đạo Lập, ông Đạo Xuyến.. .
Trại ruộng Thới Sơn nằm trong hệ thống của dẫy Thất Sơn là chỗ hoang vắng, chung quanh bao bọc những núi, rất tiện cho các môn đệ lên đó tu luyện. Khi hoàn thành trại ruộng ở Thới Sơn, Đức Phật Thầy cũng không ở đây thường trực. Ngài chỉ tới lui trông nom, còn mọi việc thì Ngài giao cho anh em ông Đình Tây coi sóc. Có phải vì thế mà Ngài thị tịch ở Chùa Tây An, con anh em ông Đình Tây thì tịch ở Thới Sơn.
Từ ngày anh em ông Đình Tây tịch về sau, trại ruộng được tu bổ và mở rộng qui mô thành một cảnh chùa. Phía trước có đào ao sen và trồng một hàng dương. Đến năm Tân Tỵ (1941), chùa được sùng tu nguy nga to tác như nền chùa còn thấy hiện nay. Nhưng đến ngày 23 tết năm Bính Tuất (1946) chùa bị phóng hỏa trong một cuộc hành binh.
Mặc dầu ngày nay trại ruộng Thới Sơn đã cháy rụi, nhưng ở đây Đức Phật Thầy còn lưu lại vài di tích đáng quí. Ngài còn để lại một mớ tóc cho ông chủ Dương, nhà ở gần bên chùa. Hiện nay, vì tình thế bất ổn, con của ông này đã dời về tỉnh thành Châu đốc và vẫn còn giữ kỹ bảo vật ấy.
Thới Sơn Tự
Còn mấy dụng cụ của Ngài rèn, như lưỡi mun, lưỡi câu, sợi dây, hai cây độc để cho ông Đình Tây trị “ông năm chèo” (cá sấu) sau này, thì hiện nay rể ông Đình Tây là ông ba Hương còn cất giữ.
Ngày nay khách thập phương có đến viếng chùa Thới Sơn là để chiêm ngưỡng ngôi mộ ông Đình Tây và anh của ông là ông Tăng. Hai ngôi mộ ấy chôn gần bên chùa.
TRẠI RUỘNG Ở LÁNG LINH
Láng Linh thuộc về làng Thạnh Mỹ Tây, tỉnh Châu Đốc, nay thuộc huyện Châu Phú, An Giang. Nó nằm cách sông Hậu Giang gần 10 cây số, từ kinh xáng Vịnh Tre đi vô.
Ở đây Đức Phật Thầy còn lưu lại hai di tích: một là trại ruộng, hai là cây thẻ mà người ta thường gọi là ông thẻ. Đây là một cây thẻ trong bốn cây thẻ mà Đức Phật Thầy cho trồng chung quanh vùng Thất Sơn. Hiện nay, chừng như vì thấy nó hư nứt, nên người nhổ lên, rồi làm một nơi để thờ phượng. (Sẽ có bài viết riêng về các ông Thẻ của Phật Thầy Tây An).
Cũng như ở Thới Sơn, ở Láng Linh Đức Phật Thầy lập một trại ruộng bằng tre lá. Cách xếp đặt vẫn cùng một thể thức như trại ruộng ở Thới Sơn đúng theo giáo pháp vô vi của Ngài, nghĩa là tượng trưng lối thờ trần đỏ.
Điều đáng để ý là Đức Phật Thầy đặt hiệu cho trại ruộng nầy là Bửu Hương Các. Đây là lần đầu tiên Ngài nêu giáo phái của Ngài cho người đời thấy. Từ lâu, mỗi khi có một tín đồ nào đến xin qui y thì Ngài phát cho một lòng phái trong đó vỏn vẹn có bốn chữ “Bửu Sơn Kỳ Hương”. Cái lòng phái này mỗi tín đồ của Ngài đều giữ kỹ, sống chết gì cũng phải giữ cho còn, không hề trao cho ai.
Từ ngày cất xong Bửu Hương Các, Đức Phật Thầy thường lên xuống Láng Linh và giao phó trại ruộng này cho ông Cố Quản Trần Văn Thành, một đại đệ tử của Ngài coi sóc.
Về sau khi ông bà Cố Quản tịch, người con là cậu hai Trần Văn Nhu đứng ra cất một ngôi chùa gần Bửu Hương Các, cách độ 200 thước. Thể theo ý của Đức Phật Thầy, cậu Hai mượn danh hiệu của trại ruộng mà đặt tên cho ngôi chùa ấy là Bửu Hương Tự.
Mãi đến năm 1941, Bửu Hương Các, rồi sang năm 1942 Bửu Hương Tự, được sùng tu chấn chỉnh, qui mô rộng lớn như nền chùa còn thấy hiện nay.
Cuộc sùng tu hai ngôi chùa này là do ông Nguyễn Văn Tịnh cũng gọi là ông Năm Tịnh, một điền chủ ở Bình Thủy, thuộc tỉnh Cần Thơ, phát tâm làm công đức. Ông là một môn đệ của Cậu Hai. Cái cao cử của Cậu Hai trong công cuộc cất Bửu Hương Tự, nêu lại cho ông một tấm gương trong sáng để noi theo trong việc sùng tu hai ngôi chùa ấy.
Sau khi Bửu Hương Tự được chỉnh đốn nguy nga đồ sộ, ông tư Nhạn có viết bốn câu liễn đầy ý nghĩa, mãi đến nay còn truyền tụng trong nhân gian:
Bửu điện Long Châu khải triệu Nam Phương, Phật pháp hòng khai huyền bí,
Sơn xuyên Hưng Thới cơ đồ Bắc khuyết, thiền môn chiếu diệu anh linh,
Kỳ nguyện thiên nhiên, vạn tải lưu phương, Phật giáo sùng tu cổ tự,
Hương dương địa thới thiên thu phổ đức, sư truyền đạo lập tân dân.
Đại ý như vầy:
- Điện báu Long Châu khai mở ở Nam phương, Phật pháp hoằng khai huyền bí,
- Nơi chốn núi sông Hưng Thới là cơ đồ ngôi báu, cửa thiền chói rạng anh linh.
- Kỳ nguyện với thiên nhiên muôn thuở lưu danh, Phật giáo sùng tu chùa cổ,
- Hương dậy đất yên, ngàn năm phổ đức, noi theo chơn truyền của Thầy đem đạo lập tân dân.
Long Châu là tên của Đức Phật Thầy đặt cho đất Láng Linh; như ngày nay tại Láng Linh có dựng lên một cái chợ gọi là chợ Long Châu. Còn Hưng Thới là tên đặt cho vùng núi Voi trước kia.
Bửu Hương Tự
Năm 1948, Bửu Hương Các cũng như Bửu Hương Tự đều bị triệt hạ trong lúc binh biến. Mặc dầu trong cuộc triệt hạ này, ông Năm Tịnh mất hết hai người con trai yêu quí của ông, nhưng ông vẫn không nao núng. Nên chi liền sau đó, ông dọn dẹp đống gạch ngói ngổn ngang, rồi xếp từ miếng gạch này lên miếng gạch khác làm thành vách, trên thả đòn tay lợp ngói mà dựng lại Bửu Hương Các vừa đủ chỗ làm nơi thờ phượng cho thiện nam tín nữ đến lễ bái. Còn ông tạm dựng cái nhà cao cẳng ở phía sau.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)










Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks