Ngoại cảm là các khả năng cảm nhận ngoài các giác quan thông thường (Ngũ quan) của con người. Trong khi khoa học hiện đại lại dùng các thiết bị thực nghiệm dựa trên sự quan sát và cảm nhận thông qua cac giác quan thông thường của con người nên bế tắc là tất yếu. ĐKC đã thần tượng hoá khoa học để phản bác ngoại cảm một cách khẳng định như vậy thì chắc chắn là một dạng MÊ TÍN không hơn không kém.
Tôi cũng thấy buồn cười khi cứ nghe ở đâu có hiện tượng lạ là các cán bộ khoa học của ta mang máy đo "từ trường", máy đo "trọng lực" tới đo. Khi không thấy có dị thường thì hét toáng lên là không có gì lạ!!!!. Lấy cái đã biết để tìm cái chưa biết thì cũng đúng như ta hình tượng bằng việc dùng toán lớp 4 giải vi phân vậy.
Nói là để phản biện lại TS. ĐKC thì tôi không có ý đó, vì đã là người MÊ TÍN thì có phản biện họ đâu có ích gì trong khi cách đây hơn 2000 năm Lão tử đã cho ta biết một thực tế là "Đạo khả Đạo phi thường Đạo..." có thể hiểu tổng quát là không thể giải thích được "Đạo" bằng bất kỳ ngôn ngữ nào. Toán học, Vật Lý Học... cũng chỉ là các ngôn ngữ của khoa học mà thôi thì làm sao diễn tả được. Ngay vật lý hiện đại có mô tả về vật chất nhưng đó chỉ là một góc nhìn thôi chứ đâu đã diển tả hết được thế giới vật chất (Tôi chưa muốn nói tới lĩnh vực sâu xa hơn là tinh thần). Xét ra Lão tử "khoa học" hơn Tiến Sĩ ĐKC nhiều, vì đã chỉ ra một giới hạn mà chính ĐKC vướng phải. Trong trường hợp này "Ngoại cảm” chỉ là một khả năng cảm nhận mở rộng của con người thôi chứ chưa thể là "Đạo".
Một ví dụ nữa cho chúng ta thấy giới hạn của của con người khi xây dựng mô tả về thế giới: Toàn bộ thế giới quan của con người được xây dựng qua việc cảm nhận thông qua các giác quan, tức là cảm nhận một cách thụ động. Ví dụ mắt nhìn được thế giới thông qua sự phản xạ ánh sáng mặt trời hoặc các nguồn sáng như đèn rồi lại phụ thuộc vào giới hạn của các tế bào mắt do đó việc tạo ra một thực tại “ảo” là rất dễ dàng. Điển hình là trò ảo thuật chẳng hạn. Những việc ảo mà con người luôn cảm thấy như thật vậy. Đó cũng chính là lý do tại sao việc tự kỷ ám thị lại có tác dụng. Chỉ cần một người ám thị có đồng xu nóng đỏ trên tay thì có thể gây bỏng rộp chỗ đặt đồng xu đó (mặc dù đồng xu không hề nóng).
Đó cũng chính là lý do mà đinh cao tu tập của các tôn giáo, các môn phái hầu như đều dẫn tới trạng thái Thiền, tức là ngắt hết các giác quan, ngắt hết tư duy để cho có chỗ cho việc cảm nhận trực giác.
Quay lại về Phương Đông, các bậc thầy đã cảm nhận thế giới như thế nào??
Học thuyết Âm Dương, Ngũ Hành, Dịch là nền tảng triết lý Phương Đông còn ứng dụng của nó được thể hiện qua việc thành công của các Thuật như Võ thuật, Y thuật, Dược thuật, Tử vi, Phong thủy, Tướng thuật, Ẩm thực, Âm nhạc, Hội họa, Quân sự, Chính trị…
Để minh chứng tôi lấy Đông Y làm ví dụ, vì có thể các thuật khác dễ bị coi là Mê tín dị đoan. Và hiện nay Đông Y đã được nhiều nước Phương Tây ghi nhận và đã đưa vào hệ thống bảo hiểm Y tế.
Qua Đông Y cho ta thấy cách xây dựng triết học của phương Đông rất rõ
- Nhin nhận cơ thể con người trên quan niệm một khối thống nhất không chia chẻ và với nguyên tắc Thiên Nhân hợp nhất thì con người có cùng bản chất với Tự nhiên (Đạo).
- Không chia tách con người thành các bộ phận riêng rẽ mà thành những khối chức năng phân loại theo Âm Dương (Biểu- lý, Tạng – Phủ) và theo Ngũ hành Mộc, Hỏa , Thổ, Kim, Thủy (Can, Tâm, Tỳ, Phế, Thận…).
-
Rõ ràng ở đây Phương đông đã giải quyết việc không thể diễn đạt được những khái niệm quá trừu tượng của Đạo bằng cách tạm gán cho nó những cái “tên” hay cái “nhãn” đỡ trừu tượng hơn và khi nắm được quy luật vận hành của chúng thì cũng chẳng làm gì nhiều mà chỉ đơn giản là kéo nó trở về với quy luật để trở về cân bằng. Trình độ của các Thầy thuốc sẽ lớn lên cùng với quá trình “hiểu dần” các khái niệm đã gán "nhãn" đó hay nói cách khác là quá trình các khái niệm đó càng ngày càng gần với thực tế. Để hiểu rõ các khái niệm các Thày phải thông qua các giai đoạn chiêm nghiệm hoặc các phép tu như là Thiền định chẳng hạn. Qua các quá trình tu tập trực giác tới giúp các vị Thày hiểu rõ hơn về các khái niệm lúc ban đầu rất sơ khai thô thiển đó.
Với Phương Đông, đọc sách chỉ là quá trình học sơ khởi nắm bắt các nguyên tắc đầy tượng trưng rồi bằng thực hành các phương pháp tu tập (Khí công, Thiền...) người Thầy sẽ hiểu được thực tại bằng trực giác. Từ đó các khái niệm mà họ có qua sách vở sẽ ngày càng được hoàn thiện (mặc dù ngôn từ không thay đổi). Nghĩa là Ngũ Hành, Kinh Dịch của người đắc đạo khác hoàn toàn với người mới học mà không thể giải thích được.
Chính ban đầu do việc hiểu Phương Đông một cách thô thiển nên các hoc giả Phương Tây đã dè bửu triết học Phương Đông là lạc hậu khi thấy họ định nghĩa thế giới bằng năm “nguyên tố” (Ngũ hành) trong khi Hóa học Phương Tây tìm ra hơn trăm nguyên tố khác nhau.
Hay nói cách khác Phương Đông và Phương Tây đã tiếp cận theo 02 hướng hoàn toàn khác nhau. Một bên là chia chẻ cố tìm ra bản chất của sự vật và xây dựng các mô hình mô tả bản chất đó (là các lý thuyết), rồi từ cách mô hình đã xây dựng dự báo ra các mô hình mới (hoàn toàn do biện luận của con người dựa trên các lý thuyết đã có) rồi cố gắng dùng thực nghiệm chứng minh. Cách tiếp cần này chỉ xây dựng được mô hình gần đúng của thực tế.
Còn một bên cố gắng hiểu nguyên lý tổng quát của vũ trụ và thông qua các phép thực hành để hòa nhập vào nguyên lý tổng quát đó để nắm được thông tin (đến bằng trực giác), còn các thuật chỉ là hệ quả. Đó cũng chính là lý do một người khi đã “đắc đạo” thì thông làu Y Thuật, Bốc Dịch… cách tiếp cận của Phương Đông là tới trực tiếp toàn bộ “Thực tế” (bằng trực giác).
Với hai cách tiếp cận đó cũng dẫn tới việc Khoa Học Phương Tây được lưu trữ với hàng núi sách vở còn Phương Đông thì chỉ vài Đồ Hình, Một ít sách gốc (Đạo đưc kinh có chưa đầy 5000 chữ) và quan trọng nhất là chính những vị Thày đắc đạo vẫn liên tục kiên trì truyền thụ qua các thế hệ học trò.
Do đó việc sử dụng sách vở, thực nghiệm để kiểm chứng những giá trị Phương Đông là đã thể hiện sự thiếu hiểu biết về Phương Đông rất rõ. Và việc một số cá nhân cố chứng minh Dịch Số Lạc Việt là mô hình toán học tổng quát của tương lai theo tôi cũng lại lặp lại cái nhầm lẫn của Phương Tây mà thôi (Kèm theo hơi hướng chủ nghĩa Dân tộc cực đoan nữa) vì đơn giản “Đạo” không thể mô tả. Trong Hỏa cũng có Thủy và thông tin đó chỉ có thể cảm nhận bằng trực giác không thể bằng suy luận. Nếu đã dùng tới suy luận chỉ cho ta kết quả gần đúng mà thôi.
Các vị Thày quyết hướng vào trong nội tâm con người để thông hiểu vũ trụ thì không thể làm hỏng quá trình đó bằng 50 triệu đô giải thưởng đâu. Nên việc không có ai tới “thi thố” cũng là điều dễ hiểu.
Tóm lại Tôi không chứng minh là có ngoại cảm hay không, mặc dù qua những sự kiện tôi gặp phải giúp tôi tin là có nhưng tôi chỉ coi đó là Duyên, Nghiệp của riêng tôi mà thôi. Nhưng nghững ai như TS. ĐKC dùng sở học nhỏ bé của mình (tôi chưa là TS nhưng vẫn thấy nhỏ bé), những góc nhìn hạn hẹp của mình để phủ nhận phần còn lại (phần chưa hiểu) của thế giới là một hành động không Khoa học, mang nặng yếu tố “Mê tín Dị đoan” (theo đúng nghĩa của từ này).
Việc chứng minh, mô tả thực tại chỉ là ham muốn của con người chứ không liên quan gì đến thực tại. Nhớ lại trận sóng thần năm 2004 khi hơn 250 triệu người bị chết thì rất nhiều muôn thú đã biết trước mà di cư (muôn thú đâu có bằng Tiến sĩ), điều đó càng cho ta thấy nếu tôn trọng và hòa đồng với thiên nhiên thì tồn tại, không cần phải chứng minh.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)



Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Bookmarks