Trang 317 trong 318 Đầu tiênĐầu tiên ... 217267307311312313314315316317318 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 6,321 tới 6,340 trên 6343

Ðề tài: GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ

  1. #6321
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

    Mặc định


    A short chanting of the powerful mantra Oṃ Siṃhamukhī Hūṃ Phaṭ Svāhā



    https://www.tiktok.com/@sw4436/video...nder_device=pc


    https://www.tiktok.com/@sw4436/video...90608426913044







  2. #6322
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

    Mặc định


    TỊNH HÓA NGŨ ĐẠI CHÂN NGÔN

    Truyenphatgiao.com
    https://daitangkinh.truyenphatgiao.com › Mat-Tong
    PDF
    L: 0LD: 447KI: n/awhoissourceRank: 10,7M
    A YAṂ VAṂ RAṂ LAṂ ŚUDDHE ŚUDDHE ŚUDDHANAYE SVĀHĀ. Thần chú này có thể ... OṂ A VAṂ RAṂ HAṂ KHAṂ MAṆI PADME HŪṂ. ❖ Kinh CÚNG DƯỜNG MƯỜI HAI TRỜI ĐẠI UY ...



    https://daitangkinh.truyenphatgiao.c...oa-ngu-dai.pdf






  3. #6323
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

    Mặc định


    PHÁP TỊNH HÓA NĂM ĐỘC

    Truyenphatgiao.com
    https://daitangkinh.truyenphatgiao.com › Mat-Tong
    PDF
    AS:0
    Visits: 0Pages/Visit: 0Avg. Visit: 0Bounce rate: 0
    Get domain authority, visits and engagement data with a free Semrush account - Connect
    L: 0LD: 447KI: n/awhoissourceRank: 10,7M
    OṂ GAGANA SAMA ASAMA SVĀHĀ (3 Lần). 2) Do sự mù quáng sâu thẳm của Vô Minh mà con phải lang thang trong vòng sinh tử luân hồi. Nay nương theo ánh sáng xanh ...




    https://daitangkinh.truyenphatgiao.c...oa-nam-doc.pdf







  4. #6324
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

    Mặc định


    PHẬT NÓI ĐẾ THÍCH BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH
    Vien Giac Pagode
    https://kinh.viengiac.info › DaiChanhTanTu
    PDF
    L: wait...LD: 45I: n/awhoissourceRank: 6,69M
    SIDDHYANTU MĀṂ BHAGAVATI _ SARVA AṄGA SUNDARĪ BHAKTI. VATSALE PRAVĀRITA ... TADYATHĀ: OṂ AROLIK SVĀHĀ. (ND: Bát Nhã Liên Hoa Bộ Tâm Chú). _Nẵng mô bát-la ...



    https://kinh.viengiac.info/DaiChanhTanTu/no-249.pdf






  5. #6325
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

    Mặc định


    🪷The Blessing of the Speech🪷
    Firstly there is the blessing of the speech. The syllables OṂ, ĀḤ and HŪṂ are the essence of the enlightened body, speech and mind. They purify obscurations of speech and bless your own ordinary body, speech and mind with the enlightened body, speech and mind. Upon your tongue faculty is a bright syllable RAṂ, from which arises a fire, consuming all defilements and obscurations of speech. The fire transforms into a three-spoked vajra of red light. In its centre, or belly, are the vowel and consonant mantras, and around them is the Essence of Dependent Origination. The syllables are like a string of pearls. From them stream out five-coloured rays of light with countless offering substances at their tips, to the buddhas and bodhisattvas of the ten directions, thereby pleasing them. Then as the rays of light converge back, the letters of the vowel and consonant mantra and the Essence of Dependent Origination descend like rain and dissolve into your speech chakra, purifying all your obscurations of speech. And through this, all the blessings and siddhis of the vajra speech of the buddhas and bodhisattvas are obtained. If you recite the vowel and consonant mantras and the Essence of Dependent Origination seven times, or three times, at dawn before anything else, it is said that the power of your speech will be multiplied one hundred million times.
    🎋The Blessing of the Speech
    ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྂ། ལྕེ་དབང་རྂ་ཡིག་ལ ་བྱུང་མེས་བསྲེགས ནས། །
    Oṃ āḥ hūṃ! From the syllable raṃ (in my speech centre) arises fire, consuming my tongue,
    འོད་དམར་རྣམ་པའི་ ྡོ་རྗེ་རྩེ་གསུམ་ ྦུབས། །
    Which is transformed into a three-spoked vajra of red light.
    ཨཱ་ལི་ཀཱ་ལིའི་མཐ ་སྐོར་རྟེན་འབྲེལ སྙིང་། །
    In its centre are the vowels and consonants, and around them the mantra of ‘The Essence of Interdependent Origination’:
    མུ་ཏིག་ཕྲེང་བ་ལྟ བུའི་ཡིག་འབྲུ་ལས །
    Their syllables are like strings of pearls. From them,
    འོད་འཕྲོས་རྒྱལ་བ སྲས་བཅས་མཆོད་པས་ ཉེས། །
    Light streams out, making offerings to the buddhas and bodhisattvas, and pleasing them.
    སླར་འདུས་ངག་སྒྲི ་དག་ནས་གསུང་རྡོ་ ྗེའི། །
    As it converges back, all the obscurations of my speech are purified, and
    བྱིན་རླབས་དངོས་ག ུབ་ཐམས་ཅད་ཐོབ་པར འགྱུར། །
    I obtain all the blessings and siddhis of vajra speech.
    🎋The Vowel Mantra
    ཨ་ཨཱ། ཨི་ཨཱི། ཨུ་ཨཱུ། རྀ་རཱྀ། ལྀ་ལཱྀ། ཨེ་ཨཻ། ཨོ་ཨཽ། ཨཾ་ཨཿ
    a ā, i ī, u ū, ṛ ṝ, ḷ ḹ, e ai, o au, aṃ, aḥ
    ལན་བདུན།
    7 times
    🎋The Consonant Mantra
    ཀ་ཁ་ག་གྷ་ང་། ཙ་ཚ་ཛ་ཛྷ་ཉ། ཊ་ཋ་ཌ་ཌྷ་ཎ། ཏ་ཐ་ད་དྷ་ན། པ་ཕ་བ་བྷ་མ། ཡ་ར་ལ་ཝ། ཤ་ཥ་ས་ཧ་ཀྵཿ
    ka kha ga gha ṅa, ca cha ja jha ña, ṭa ṭha ḍa ḍha ṇa, ta tha da dha na, pa pha ba bha ma, ya ra la va śa ṣa sa ha kṣa
    ལན་བདུན།
    7 times
    🎋Mantra of the Essence of Interdependent Origination
    ཨོཾ་ཡེ་དྷརྨཱ་ཧེ་ ུ་པྲ་བྷཱ་ཝཱ་ཧེ་ཏ ནྟེ་ཥཱནྟ་ཐཱ་ག་ཏོ ་ཧྱ་ཝ་དཏ། ཏེ་ཥཱཉྩ་ཡོ་ནི་རོ དྷ་ཨེ་ཝྃ་ཝཱ་དཱི་ ་ཧཱ་ཤྲ་མ་ཎཿསྭཱ་ཧ ཱ།
    oṃ ye dharmā hetu prabhāvā hetuṃ teṣāṃ tathāgato hyavadat teṣāṃ ca yo nirodha evaṃ vādī mahāśramaṇaḥ svāhā
    All dharmas originate from a cause. The Tathāgata has taught this cause. That which brings the cause to cessation—this too, has been taught by the Great Śramaṇaḥ.
    ལན་བདུན།
    7 times
    🎋Mantras for Multiplying the Power of Recitation
    ཨོཾ་སམྦྷ་ར་སམྦྷ་ ་བི་མ་ནཱ་སཱ་ར་མ་ ཱ་ཛམྦྷ་ཧཱུྂ།
    oṃ sambhara sambhara vimana sāra mahā-jambha hūṃ
    ཨོཾ་སྨ་ར་སྨ་ར་བི མཱ་ན་སྐ་ར་མ་ཧཱ་ཛ བ་ཧཱུྂ།
    oṃ smara smara vi-manaskāra mahā-java hūṃ
    ཞེས་སྦྲེལ་མར་ལན་ དུན་བཟླས་པས་དེ་ཉ ད་བཟླས་བརྗོད་བྱས ་ཚད་གྲངས་མེད་དུ་ གྱུར་རོ། །གཞན་ཡང་།
    Recite the mantras seven times; whatever you say will multiply beyond all measure.
    ཨོཾ་རུ་ཙི་ར་མ་ཎི པྲ་བརྡྷ་ནཱ་ཡེ་སྭ ་ཧཱ།
    om rutsi ramani pravardhanaye soha
    ཧྲཱིཿབཛྲ་ཛི་ཧཱ་མ ྟྲ་དྷ་ར་བརྡྷ་ནི་ ོཾ།
    hri benza dziha mantra dhara vardhani om
    ཞེས་པའང་བདུན་ལམ་ སུམ་བཟླས་པས་སྔགས ཀྱི་ནུས་པ་འབུམ་ད ུ་བསྐྱེད་པར་གསུང །
    Recite this seven or three times, and the power of your mantras will be increased one hundred thousand times.
    ཡི་དམ་གྱི་བཟླས་པ ི་ཐོག་མར་འདི་དང་ བྱངས་གསལ་རྟེན་སྙ ིང་བཅས་བཟླས་པས་ཕ ེང་བ་བྱིན་གྱིས་བ ླབས་པ་དང་།
    To bless your mālā before beginning the recitation of your yidam deity recite this mantra, along with the vowels and consonants and ‘The Essence of Interdependent Origination’.
    སྐབས་སུ་ཁ་ཟས་ལའང བཏབ་གྲུབ་ན་ནུས་པ ི་མཐུ་སྐྱེད་པར་ག སུངས་སོ། །
    Also recite it from time to time over your food, and it will bless it and increase the power and strength of its nutrition.
    Shared by Naldjor 🪷



    🎋GIA TRÌ KHẨU
    Trước hết là sự gia trì của lời nói. Các âm tiết OṂ, ĀḤ và HŪṂ là tinh túy của thân, khẩu và ý giác ngộ. Chúng thanh tịnh các chướng ngại của lời nói và ban phước cho thân, khẩu và ý thông thường của bạn bằng thân, khẩu và ý giác ngộ.

    Trên cơ quan lưỡi của bạn có một âm tiết sáng rực RAṂ, từ đó xuất hiện một ngọn lửa thiêu rụi tất cả các cấu uế và chướng ngại của lời nói. Ngọn lửa ấy chuyển hóa thành một kim cang ba mũi nhọn bằng ánh sáng đỏ. Ở trung tâm của kim cang là các chân ngôn nguyên âm và phụ âm, và bao quanh chúng là Chân Ngôn Duyên Khởi. Các âm tiết xếp thành chuỗi như những viên ngọc trai. Từ đó, những tia sáng năm màu tỏa ra, mang theo vô số phẩm vật cúng dường đến chư Phật và Bồ Tát khắp mười phương, khiến các Ngài hoan hỷ.

    Sau đó, những tia sáng hội tụ trở lại, các chữ cái của chân ngôn nguyên âm, phụ âm và Chân Ngôn Duyên Khởi rơi xuống như cơn mưa, hòa tan vào luân xa khẩu của bạn, thanh tịnh tất cả các chướng ngại của lời nói. Nhờ vậy, bạn sẽ đạt được mọi sự gia trì và thành tựu (siddhi) của kim cang khẩu của chư Phật và Bồ Tát.

    Nếu bạn trì tụng chân ngôn nguyên âm, phụ âm và Chân Ngôn Duyên Khởi bảy lần hoặc ba lần vào lúc rạng sáng trước khi làm bất cứ điều gì khác, người ta nói rằng năng lực của lời nói sẽ tăng lên một trăm triệu lần.



    🎋Sự Gia Trì của Lời Nói:

    Oṃ āḥ hūṃ!

    Từ âm tiết RAṂ (tại trung tâm khẩu của tôi) xuất hiện một ngọn lửa, thiêu rụi lưỡi tôi,
    Ngọn lửa ấy chuyển hóa thành một kim cang ba mũi nhọn bằng ánh sáng đỏ.

    Ở trung tâm là chân ngôn nguyên âm và phụ âm, và bao quanh chúng là Chân Ngôn Duyên Khởi.
    Những âm tiết ấy xếp thành chuỗi như những viên ngọc trai. Từ đó,
    Ánh sáng tỏa ra, cúng dường chư Phật và Bồ Tát, khiến các Ngài hoan hỷ.
    Khi ánh sáng hội tụ trở lại, tất cả chướng ngại của lời nói được thanh tịnh,
    Và tôi đạt được mọi sự gia trì và thành tựu của kim cang khẩu.



    🎋Chân Ngôn Nguyên Âm:
    A Ā, I Ī, U Ū, Ṛ Ṝ, Ḷ Ḹ, E AI, O AU, AṂ, AḤ
    (Trì tụng 7 lần)


    🎋Chân Ngôn Phụ Âm:
    KA KHA GA GHA ṄA, CA CHA JA JHA ÑA, ṬA ṬHA ḌA ḌHA ṆA, TA THA DA DHA NA, PA PHA BA BHA MA, YA RA LA VA ŚA ṢA SA HA KṢA
    (Trì tụng 7 lần)


    🎋Chân Ngôn Duyên Khởi:
    Oṃ Ye Dharmā Hetu Prabhāvā Hetuṃ Teṣāṃ Tathāgato Hyavadat Teṣāṃ Ca Yo Nirodha Evaṃ Vādī Mahāśramaṇaḥ Svāhā
    (Trì tụng 7 lần)

    "Mọi pháp đều sinh khởi từ nhân duyên. Như Lai đã giảng nhân duyên đó. Những gì khiến nhân duyên chấm dứt, điều đó cũng đã được Đại Sa-môn thuyết giảng."



    🎋Chân Ngôn Gia Tăng Năng Lực Trì Tụng:
    Oṃ Sambhara Sambhara Vimana Sāra Mahā-jambha Hūṃ
    Oṃ Smara Smara Vimana-skāra Mahā-java Hūṃ
    (Trì tụng 7 lần, khiến mọi lời nói trở nên vô cùng linh nghiệm.)
    Oṃ Rutsi Ramani Pravardhanaye Svāhā
    Hriḥ Benza Dziha Mantra Dhara Vardhani Oṃ
    (Trì tụng 7 hoặc 3 lần, khiến công năng của chân ngôn tăng lên một trăm ngàn lần.)


    🎋Ứng Dụng Thực Hành:
    Trước khi bắt đầu trì tụng bổn tôn của bạn, hãy tụng chân ngôn này cùng với chân ngôn nguyên âm, phụ âm và Chân Ngôn Duyên Khởi để gia trì chuỗi hạt mala.
    Bạn cũng có thể trì tụng trên thức ăn trước khi dùng để ban phước và gia tăng năng lượng của thực phẩm.
    Việt dịch Phú Gia 🪷




    https://www.facebook.com/DharaniEsot...3624334859831/







  6. #6326
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

  7. #6327
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

  8. #6328
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

    Mặc định


    "Dự Tu Thập Vương Sinh Thất Kinh": Từ Bản Kinh Đôn Hoàng Đến Nghi Lễ Tang Gia Việt Nam


    Trong kho tàng Phật giáo Đông Á, có một bộ kinh tuy không nằm trong Đại tạng chính thống nhưng lại để lại dấu ấn thâm sâu trong đời sống tín ngưỡng, đặc biệt là phong tục tang lễ của người Việt Nam. Đó là bản 《預修十王生七經》- "Phật Thuyết Dự Tu Thập Vương Sinh Thất Kinh", hay gọi tắt là 《Thập Vương Kinh》. Bản kinh văn được dịch ở trên, cùng với các tư liệu bổ sung, chính là một trong những bản sớm nhất được phát hiện tại Đôn Hoàng, hiện tàng trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp, mở ra cánh cửa hiểu biết về nguồn gốc của nhiều tập tục đã trở thành hồn cốt trong văn hóa Việt.
    I. Bản kinh và hành trình truyền bá
    《Dự Tu Thập Vương Sinh Thất Kinh》 là một bản kinh được soạn thuật (có thể bởi ngài Tạng Xuyên) vào thời nhà Đường. Tên đầy đủ là 《Diêm La Vương Thọ Ký Tứ Chúng Nghịch Tu Sinh Thất Vãng Sinh Tịnh Độ Kinh》. Nội dung kinh văn xoay quanh hai trụ cột chính:
    1. Thọ ký thành Phật cho Diêm La Vương: Khi Đức Phật sắp nhập Niết Bàn, Ngài đã thọ ký cho Thiên tử Diêm La – vị vua cai quản cõi âm – sẽ thành Phật trong tương lai, hiệu là Phổ Hiền Như Lai. Đồng thời, kinh giải thích lý do vì sao các vị Đại Bồ Tát lại thị hiện làm vua địa ngục: đó là do lòng từ bi, muốn cứu độ chúng sinh đang chịu cực hình nơi ác đạo.
    2. Công đức của việc "dự tu" và "trai giới": Kinh khuyến khích người sống tu tập tạo phước (dự tu) và người thân sau khi chết được cúng kiếng theo các "trai" (nghi lễ cúng trong sạch) vào những thời điểm then chốt, để giúp vong hồn được siêu thoát, khỏi đọa địa ngục. Hệ thống "Thập Điện Diêm Vương" (10 vị vua từ Tần Quảng Vương đến Ngũ Đạo Chuyển Luân Vương) được mô tả chi tiết với nhiệm vụ phán xét, định đoạt số phận vong hồn qua từng giai đoạn sau khi chết.
    Từ cuối đời Đường, kinh này đã lưu truyền rộng rãi khắp Trung Quốc, sau đó lan tỏa sang Hàn Quốc, Nhật Bản và đặc biệt là Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Dù bị một số học giả xếp vào loại "kinh giả" (không phải do Phật trực tiếp thuyết), giá trị của nó nằm ở chỗ phản ánh và định hình một hệ thống tín ngưỡng-tôn giáo bình dân hết sức sống động, kết hợp giữa giáo lý Phật giáo về nghiệp báo, luân hồi với quan niệm dân gian về âm phủ, quỷ thần.
    II. Bản kinh có gì trong nghi lễ tang gia Việt Nam
    Ảnh hưởng của tư tưởng 《Thập Vương Kinh》 ở Việt Nam không nằm ở việc tụng đọc nguyên bản, mà thấm sâu vào trong cấu trúc nghi lễ, trở thành một phần gần như bất biến trong phong tục tang ma của người Việt theo truyền thống Phật giáo và tín ngưỡng dân gian.
    • Quan niệm về "Thất" (7 ngày) và "Trung Ấm Thân": Kinh văn mô tả vong hồn sau khi chết sẽ trải qua từng giai đoạn bị phán xét bởi 10 vị vua, với các mốc 7 ngày (nhất thất), 49 ngày (thất thất tứ cửu), 100 ngày, 1 năm, 3 năm. Điều này tương ứng chính xác với chuỗi nghi lễ "cúng tuần" (cúng 7 ngày), "cúng 49 ngày" (mãn tang), "cúng 100 ngày", "cúng giỗ đầu" (tiểu tường) và "cúng giỗ hết" (đại tường) trong đám tang Việt Nam. Người ta tin rằng trong 49 ngày đầu, vong hồn còn ở trạng thái "trung ấm", chưa đầu thai, và cần được người thân tạo phúc lành qua các lễ cúng để được siêu độ, tránh bị đọa đày nơi địa ngục. Lời kinh: "Mười vị vua nếu thiếu một trai, bị trệ lại một vương, lưu luyến chịu khổ, không được siêu sinh, chậm trễ một năm" đã trở thành nền tảng tâm lý cho việc tổ chức các tuần cúng đầy đủ, như một nghĩa vụ thiêng liêng của con cháu.
    • Hình ảnh Diêm Vương và Nghiệp Kính: Hình tượng "Diêm Vương" hay "Diêm La" cùng với "Nghiệp Kính" (tấm gương chiếu rõ mọi tội phúc) đã đi vào tâm thức dân gian Việt như một biểu tượng của sự công bằng tuyệt đối nơi âm giới. Nó nhắc nhở đạo lý "ở hiền gặp lành, ác giả ác báo", khuyến thiện trừng ác, phù hợp với đạo lý truyền thống. Bài kệ trong kinh "Vén tóc ngẩng đầu xem Nghiệp Kính, Biết rõ việc trước phân minh" là lời cảnh tỉnh sâu sắc về sự báo ứng của nghiệp lực.
    • Sự hòa quyện với tín ngưỡng bản địa: Hệ thống "Thập Điện" trong kinh đã được Việt Nam hóa, tiếp thu và dung hợp với các vị thần bản địa như Thái Sơn Phủ Quân (vốn là thần núi trong đạo giáo) hay Thập Điện Minh Vương. Điều này cho thấy sự tiếp biến linh hoạt, biến một giáo lý ngoại lai thành một phần của tín ngưỡng dân tộc.
    III. Đánh giá phong tục Việt Nam qua lăng kính bản kinh
    Phong tục tang lễ với các tuần cúng, giỗ kỵ của người Việt, khi soi chiếu dưới ánh sáng của 《Thập Vương Kinh》, không đơn thuần chỉ là tập quán mê tín. Nó mang những giá trị nhân văn và xã hội sâu sắc:
    1. Giá trị đạo đức - hiếu đạo: Nghi lễ tang gia trở thành biểu hiện cao nhất của "đạo hiếu". Việc con cháu thành tâm cúng kiếng, làm phúc hồi hướng cho người đã khuất chính là cách hoàn trả ân nghĩa sinh thành, thể hiện "sự tử như sự sinh". Lời kinh khuyên "chính là cứu vớt người ấy, báo đáp ân sinh dưỡng" đã thấm sâu vào lòng người.
    2. Giá trị an ủi tâm linh: Trong nỗi đau mất mát, nghi lẽ này tạo ra một "lộ trình" rõ ràng cho người sống và người chết. Nó giúp người ở lại cảm thấy mình vẫn có thể làm điều gì đó để giúp đỡ người thân ở thế giới bên kia, từ đó giảm bớt sự tuyệt vọng, tìm thấy sự bình an và hy vọng về một nơi "cực lạc" hay "sinh về cõi lành".
    3. Tính cộng đồng và gắn kết: Tang lễ và các giỗ kỵ là dịp để gia tộc, dòng họ, làng xóm sum họp, cùng nhau thực hiện nghi thức, chia sẻ và nương tựa. Nó củng cố tình cảm và trách nhiệm cộng đồng.
    4. Bài học luân lý sống động: Toàn bộ quá trình phán xét nơi địa ngục với những hình phạt chi tiết cho các tội như bất hiếu, sát sinh, trộm cắp... là một bài giảng đạo đức trực quan, nhắc nhở người ta sống thiện lành, biết sợ hãi trước hậu quả của việc ác.
    VI. Tạm dịch toàn bộ nội dung văn bản của bản kinh :
    PHẬT THUYẾT DỰ TU THẬP VƯƠNG SINH THẤT KINH
    Kính cẩn mở đầu kinh Diêm La, về việc dự tu sinh thất vãng sinh Tịnh độ, thệ khuyến hóa người hữu duyên, lấy năm hội tụng kinh nhập tán niệm Phật A Di Đà.
    Sa môn Tạng Năng, chùa Đại Thánh Từ, Thành Đô phủ, soạn tán.
    KINH PHẬT THUYẾT DIÊM LA VƯƠNG THỌ KÝ CHO TỨ CHÚNG, TẠO PHƯỚC SINH THẤT VÃNG SINH TỊNH ĐỘ
    Tán rằng: Như Lai sắp nhập Niết Bàn, rộng triệu tập thiên linh cùng địa kỳ, vì thế vì Diêm Ma Vương thọ ký, mới truyền nghi thức dự tu sinh thất.
    Như vầy tôi nghe: Một thuở nọ, đức Phật ở tại thành Câu Thi Na, bên sông A Duy Bạt Đề, trong rừng Song Thọ Sa La, sắp nhập Niết Bàn, toàn thân phóng quang, chiếu khắp đại chúng, cùng các Bồ Tát Ma Ha Tát, Thiên Long Thần Vương, Thiên Vương, Đế Thích, Tứ Thiên Đại Vương, Đại Phạm Thiên Vương, A Tu La Vương, các vị Đại Quốc Vương, Diêm La nhân tử , Thái Sơn Phủ Quân, Tư Mệnh Tư Lục, Ngũ Đạo Đại Thần, quan lại địa ngục, từ xa tụ hội, cung kính đảnh lễ Thế Tôn, chắp tay đứng hầu.
    Tán rằng: Khi Phật tỏa ánh sáng khắp đại thiên, cùng khắp đến rồng quỷ hội nhân thiên .Thích Lâm chư thiên cùng chúng hội bí mật, đều đến cúi đầu trước Thế Tôn.
    Đức Phật bảo các đại chúng: Thiên tử Diêm La ở đời vị lai sẽ được thành Phật, hiệu là Phổ Hiền Như Lai, đầy đủ mười hiệu, cõi nước trang nghiêm thanh tịnh, trăm báu trang hoàng, tên nước là Hoa Nghiêm, đầy khắp Bồ Tát.
    Tán rằng: Thế Tôn hôm nay ký cho Diêm La, chẳng lâu sẽ chứng quả Phật Đà, cõi nước báu trang nghiêm thường thanh tịnh, Bồ Tát tu hành rất nhiều chúng.
    Khi ấy, ngài A Nan bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Thiên tử Diêm La do nhân duyên gì, mà xử đoán nơi cõi u minh, lại tham dự pháp hội này, liền được thọ ký quả vị tương lai?
    Phật dạy:
    Ở nơi đường tối ấy làm các vương, có hai nhân duyên:
    Một là vị Bồ Tát trụ nơi bất tư nghị giải thoát Bất Động địa, vì muốn nhiếp hóa chúng sinh cực khổ, thị hiện làm các vương như Diêm Ma;
    Hai là do nhiều đời tập tánh thiện mà phạm giới, nên thoái chuyển bảo rằng ở trong trời Diêm Ma làm Đại Ma Vương, quản nhiếp các quỷ, xét xử tất cả tội nhân phạm thập ác ngũ nghịch trong cõi Diêm Phù Đề, giam cầm trong lao ngục, ngày đêm chịu khổ, luân chuyển trong ấy, tùy theo nghiệp báo thân, quyết định sự sống chết. Nay Thiên tử Diêm Ma này, nhân duyên đã thuần thục, nên ta ký rằng đời vị lai ở cõi báu sẽ chứng đại Bồ đề, các người cùng chư thiên chớ nên nghi ngờ.
    Tán rằng: Bi trần phổ hóa tỏ uy sương, lục đạo luân hồi chẳng dừng nghỉ. Sắc hóa chán khổ tư an lạc, nên thấy hiện hình Diêm La Phủ Quân.
    Nếu lại có người tạo kinh này, thọ trì đọc tụng, sau khi bỏ mạng, chẳng sinh vào ba đường ác, chẳng vào tất cả các đại địa ngục.
    Tán rằng: Nếu người tin pháp bất tư nghị, biên chép kinh văn nghe thọ trì, bỏ mạng liền vượt ba ác đạo, thân ắt miễn vào ngục A Tỳ.
    Trong lúc còn sống, giết cha hại mẹ, phá trai phá giới, giết heo dê, trâu bò, gà chó rắn độc, tất cả tội nặng, đáng vào địa ngục mười kiếp năm kiếp. Nếu tạo kinh này, cùng các tôn tượng, ghi vào nghiệp kính, Diêm Vương hoan hỷ, phán tha cho người ấy sinh vào nhà giàu sang, miễn trừ tội lỗi.
    Tán rằng: Phá trai hủy giới giết gà heo, nghiệp kính chiếu rõ chẳng sai lầm. Nếu tạo kinh cùng vẽ tượng tốt, Diêm Vương phán tha tội tiêu trừ.
    Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, dự tu trai sinh thất, mỗi tháng hai lần, cúng dường Tam Bảo, cầu thỉnh thiết lập mười vị vua, ghi tên nạp sớ, tấu lên Lục Tào, thiện nghiệp đồng tử tấu lên Thiên Tào, các quan địa phủ, ghi vào sổ danh, đến ngày thân đến, liền được phối sinh nơi an lạc, chẳng đọa vào Trung ấm. Bốn mươi chín ngày, không cần con trai gái đuổi theo cứu mạng. Mười vị vua nếu thiếu một trai, bị trệ lại một vương, lưu luyến chịu khổ, không được siêu sinh, chậm trễ một năm. Vì thế khuyên các ngươi làm việc trọng yếu này, cầu báo vãng sinh.
    Tán rằng: Tứ chúng tu trai phải đúng thời, ba mươi ngày hai cúng là thường nghi. Chớ để thiếu duyên công đức ít, mới lo Trung ấm trệ minh ty.
    Khi ấy, Bồ Tát Địa Tạng, Bồ Tát Long Thọ, Bồ Tát Cứu Khổ Quán Thế Âm, Bồ Tát Thường Bi, Bồ Tát Đà La Ni, Bồ Tát Kim Cang Tạng, mỗi vị đều từ trong bản quang trở lại, đến chỗ Như Lai, dị khẩu đồng thanh tán thán: Thế Tôn thương xót phàm phu, nói diệu pháp này, cứu vớt kẻ chết, cứu giúp người sống, đảnh lễ dưới chân Phật.
    Tán rằng: Đầu gối ngang ngực miệng đến mày. Sáu vị quang Bồ Tát vận sâu bi, mỗi vị đồng thanh đều tán thán, siêng năng hóa vật chớ sinh mỏi mệt.
    Khi ấy, tất cả chủ ngục hai mươi tám tầng, Thiên tử Diêm La, minh quan Lục đạo, lễ bái phát nguyện: Nếu có Tứ chúng, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, nếu tạo kinh này, tán tụng một kệ, tôi sẽ miễn cho họ khổ não trói buộc, đưa ra khỏi địa ngục, vãng sinh thiên đạo, không để chậm trễ, chịu khổ qua đêm.
    Tán rằng: Minh quan ghi chép cùng Diêm Vương, chư Phật hoằng kinh lễ tán dương. Tứ chúng ai có thể trì một kệ, tôi đều đưa ra hết đến thiên đường.
    Khi ấy, Thiên tử Diêm La nói kệ bạch Phật: Nam mô A La Ha, chúng sinh nghiệp khổ nhiều, luân hồi không định như tù tội chạy.
    Tán rằng: Diêm Vương bạch Phật nói kệ đà, thương xót chúng sinh tội khổ nhiều, lục đạo luân hồi không tướng định, sinh diệt còn như sóng trên nước.
    Nguyện được trí tuệ gió, thổi rơi vào sông Pháp. Ánh sáng chiếu thế giới, trải qua khắp nơi. Cùng cứu khổ chúng sinh, hàng phục nhiếp các ma. Bốn vị hộ thế giới, truyền bá Kinh Tu Đa La.
    Tán rằng: Nguyện Phật dấy lên gió trí tuệ, thổi về biển Pháp rửa trần mê. Hộ thế Tứ Vương cùng phát nguyện, thường truyền kinh điển rộng lưu thông.
    Phàm phu tu thiện ít, điên đảo tín tà nhiều. Trì kinh khỏi địa ngục, biên chép khỏi tai ương. Siêu độ cõi giới khó, vĩnh viễn chẳng thấy Diêm Nghi. Sinh về nơi cao quý, giàu sang thọ dài lâu.
    Tán rằng: Phàm phu tạo ác nghiệp sức thiện vi tế, tin tà điên đảo kiến vào A Tỳ. Muốn cầu giàu vui nhà cửa thọ mạng dài, biên chép kinh văn nghe thọ trì.
    Chí tâm đọc tụng kinh, Thiên Tào ghi chép luôn. Muốn được không tội lỗi, đừng sát sinh tế thần linh. Vì muốn thoát địa ngục. Niệm Phật nắm chân kinh, nên tự răn mình mà. Tay cầm đao Kim Cang, đoạn trừ giống nòi trói buộc.
    Tán rằng: Tội khổ ba đường nghiệp dễ thành, đều do sát mạng tế thần minh. Nguyện cầm gươm trí tuệ Kim Cang chân thật, chém trừ hai thứ Vô sinh.
    Đạo gươm chính trên trần, hành bằng tâm bình đẳng, chúng sinh không tạm đủ, tu phước dường như văn, ba thiếu hai, chẳng muốn ba mạng hai dài. Nên tu tạo kinh này, có thể trừ địa ngục… Vương nói: Hai mươi hộ.
    Tán rằng: Lập lại phẩm thượng trung hạ trệ tây ba con cừu chương, chúc phước nhiều vi trần tích tử chữ viết phần. Tốt sinh lời hay tin.
    Kết kinh người đọc tụng, chợt nhiên vô thường đến, Thiên Vương thường dẫn tiếp, Bồ Tát nâng hoa theo. Tùy tâm trụ về Tịnh độ tám trăm ức ngàn đời, tu hành viên mãn Kim Cang Tam Muội thành.
    Tán rằng: Nếu người phụng Phật tạo trì kinh, Bồ Tát lâm chung tự đến đón. Cõi tịnh tu hành viên mãn rồi, tương lai chính giác tám kim thành.
    Khi ấy, Phật bảo ngài A Nan, tất cả Long thần, bát bộ cùng các đại thần, Thiên tử Diêm La, Thái Sơn Phủ Quân, Tư Mạng Tư Lục, Ngũ Đạo Đại Thần, quan lại địa ngục, Thiên Vương Hành Đạo, nên khởi tâm từ bi, pháp có buông lung, có thể dung thứ tất cả tội nhân, con cái hiếu thảo, tu trai tạo phước, chính là cứu vớt người ấy, báo đáp ân sinh dưỡng. Bảy bảy bốn mươi chín ngày tu trai tạo tượng, để báo đáp cha mẹ, khiến được sinh thiên.
    Tán rằng: Phật bảo Diêm La các đại thần, chúng sinh tội nghiệp đủ khó bày, nên vì nhắm mắt dung tạo phước, dạy mông thoát khổ ra bến mê.
    Pháp vương Diêm La bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Chúng tôi các vương, đều sẽ phái sứ giả, cưỡi ngựa đen, cầm phan đen, mặc áo đen, đến nhà người chết, xem xét tạo phước đức gì, tên gì, tờ cứu độ do đâu. Đưa tội nhân ra, không trái lời thề.
    Tán rằng: Các vương phái sứ kiểm người chết, nam nữ tu tạo phước đức nhân. Y theo tên tha khỏi ngục tam đồ, khỏi trải âm ty bị đoàn khổ sầu.
    Nguyện Thế Tôn nghe nói mười vị vua kiểm tra trai.
    Tán rằng: Diêm Vương hướng Phật trình bày tình, kính nguyện từ bi làm chứng minh. Phàm phu sau khi chết tu tạo đức, kiểm tra trai giới nghe nói mười vương danh.
    Thứ nhất : Tuần thứ nhất (bảy ngày đầu tiên) qua Tần Quảng Vương.
    Tán rằng: Một bảy vong nhân Trung ấm thân, xua đuổi từng đoàn số như trần. Hãy hướng vua đầu trai điểm kiểm, xưa nay chưa vượt bến Nại Hà.
    Thứ 2 : Tuần thứ 2 (ngày thứ mười bốn ngày) qua Sở Giang Vương.
    Tán rằng: Hai bảy vong nhân qua sông Nại, ngàn đàn muôn đội lội sóng sông. Đường dẫn Đầu trâu vai vác gậy, thúc hối quỷ tốt tay cầm chĩa.
    Thứ 3 : Tuần thứ 3 (Ngày thứ hai mươi mốt) qua Tống Đế Vương.
    Tán rằng: Ba bảy vong nhân chuyển sầu thương, mới biết đường hiểm cõi u minh. Mỗi người điểm danh biết chỗ ở, từng đoàn xua đưa Ngũ Quan Vương.
    Thứ 4 : Tuần thứ 4 (Ngày thứ hai mươi tám) qua Ngũ Quan Vương.
    Tán rằng: Ngũ Quan nghiệp cân hướng không treo, trái phải đôi đồng tử nghiệp bạ đầy. Nặng nhẹ đâu do tình muốn vậy? Cao thấp tự nhờ nhân duyên xưa.
    Thứ 5 : Tuần thứ 5 (Ngày thứ ba mươi lăm) qua Diêm Ma Vương.
    Tán rằng: Năm bảy Diêm La dứt tiếng tranh, tội nhân lòng hận chưa cam tình, vén tóc ngẩng đầu xem nghiệp kính, biết rõ việc trước rành rành.
    Thứ 6 : Tuần thứ 6 (Ngày thứ bốn mươi hai) qua Biến Thành Vương.
    Tán rằng: Vong nhân sáu bảy trệ minh đồ, rất sợ người ngồi cảnh ý ngu. Ngày ngày chỉ xem sức công đức, thiên đường địa ngục trong phút giây.
    Thứ 7 : Tuần thứ 7 (Ngày thứ bốn mươi chín – chung thất )qua Thái Sơn Vương.
    Tán rằng: Bảy bảy minh đồ Trung ấm thân, chuyên cầu cha mẹ hội tình thân. Phước nghiệp lúc này vẫn chưa định, lại xem con cái tạo nhân gì.
    Thứ 8 : Một trăm này (Ngày thứ một trăm) qua Bình Chính Vương.
    Tán rằng: Vong nhân trăm ngày lại thê lương, thân mang gông cùm bị roi thương. Con cái nỗ lực tạo công đức, từ đây diệu thiện thấy thiên đường.
    Thứ 9 : Giỗ đầu (Năm đầu tiên) qua Đô Thị Vương.
    Tán rằng: Một năm qua đây chuyển khổ tân, con trai gái tu trai phước nghiệp nhân. Lục đạo luân hồi vẫn chưa định, tạo kinh tạo tượng ra bến mê.
    Thứ 10 : Giỗ hết (Năm thứ ba) qua Ngũ Đạo Chuyển Luân Vương.
    Tán rằng: Ba năm sau trải qua ải cửa quan, tốt xấu chỉ nhờ nhân phước nghiệp. Chẳng thiện còn lo trong ngàn ngày, thai sinh sản chết yểu vong thân.
    Mười trai đầy đủ, miễn tội Thập ác, cho sinh lên trời.
    Tán rằng: Một thân sáu nẻo khổ mênh mang, thập ác tam đồ chẳng dễ đương. Nỗ lực tu trai công đức đủ, các tội nhiều như cát tự tiêu vong. Ta thường khiến bốn vị vua Diêm Nghi, thủ hộ kinh này, không để bị mai một.
    Tán rằng: Diêm Vương phụng pháp nguyện hoằng dương, khắp bảo nhân thiên chúng đạo trường. Ta khiến Diêm Nghi cùng thủ hộ, không để chìm đắm mãi lưu hành. Kính lạy Thế Tôn, tội nhân trong ngục, phần nhiều là dùng tài vật của Tam Bảo, ồn ào chịu tội. Người có lòng tin hiểu biết, nên tự răn thận, đừng xâm phạm Tam Bảo, nghiệp báo khó dung, người thấy kinh này, nên tu học.
    Tán rằng: Muốn cầu an lạc trụ nhân thiên, chớ xâm lăng tiền của Tam Bảo. Rơi vào cõi u minh các địa ngục, ồn ào chịu khổ chẳng biết năm. Khi ấy, Pháp vương Diêm Ma hoan hỷ hớn hở, đảnh lễ dưới chân Phật, lui ngồi một bên. Phật dạy: Kinh này tên là "DIÊM LA VƯƠNG THỌ KÝ TỨ CHÚNG DỰ TU TRAI THẤT VÃNG SINH TỊNH ĐỘ KINH", các ngươi nên phụng trì, lưu truyền trong cõi nước, y giáo phụng hành.
    Tán rằng: Diêm Vương lui ngồi, nhất tâm nghe Phật lại ân cần dặn kinh này, tên là giáo pháp Dự tu sinh thất, ngươi cùng Tứ chúng rộng lưu hành.
    Phật thuyết kinh Diêm La Vương thọ ký Tứ chúng dự tu sinh thất vãng sinh Tịnh độ, phổ khuyến người hữu duyên, dự tu phước đức, phát tâm quy Phật, nguyện thoát luân hồi. Tán hai bài:
    Tán thứ nhất:
    Một thân nguy nát tựa đèn trước gió,
    Hai con chuột xâm lăng gặm dây giếng.
    Biển khổ chẳng tu đóng bè cầu vượt,
    Muốn nương vật gì được siêu thăng?
    Tán thứ hai:
    Cầu bè chẳng đóng người trên si mê,
    Gặp hiểm luôn lo mới biết rõ.
    Nếu tin trăm năm búng ngón tay qua,
    Tu trai nghe pháp chớ để chậm trễ.
    Phật thuyết Thập Vương dự tu sinh thất kinh.
    ________________________________________
    《Dự Tu Thập Vương Sinh Thất Kinh》 là một hiện tượng văn hóa-tôn giáo độc đáo. Từ một bản văn được tìm thấy trong hang động Đôn Hoàng xa xôi, tư tưởng của nó đã vượt không gian và thời gian, thẩm thấu vào đời sống tâm linh người Việt, định hình nên một chuỗi nghi lễ tang gia trang trọng và đầy tính nhân văn. Nó cho thấy sức sống mãnh liệt của sự giao thoa giữa Phật giáo Đại thừa với tín ngưỡng dân gian bản địa. Nghi lễ "thất thất tứ cửu", "giỗ đầu", "giỗ hết" không còn là sự mô phỏng máy móc, mà đã trở thành một phần không thể thiếu trong biểu hiện văn hóa, đạo đức và tâm linh của dân tộc Việt Nam, minh chứng cho một quá trình tiếp biến và sáng tạo văn hóa lâu dài và thành công.



    https://www.facebook.com/share/p/1ASCVLsTvX/





  9. #6329
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

  10. #6330

    Mặc định

    Theo túi đọc trên mạng , người chết sẽ chuyển sang trạng thái thần thức mịt mờ , mãn 49 ngày mới đi đầu thai
    https://youtube.com/@ngodaohuy

  11. #6331

    Mặc định

    Sanh lão bệnh tử
    Sanh khổ , lão càng khổ , bệnh càng càng khổ, tử càng càng càng khổ
    Chết trải qua 49 ngày là rất khổ
    https://youtube.com/@ngodaohuy

  12. #6332

    Mặc định

    Sau 49 sẽ bị phán xét
    Nếu có tội sẽ sanh làm động vật
    Nếu tội nặng hơn nữa thì sanh làm ngạ quỷ vạn năm chịu khổ
    Nếu tội nặng hơn nữa thì sanh trong địa ngục kiếp kiếp chịu cực hình
    https://youtube.com/@ngodaohuy

  13. #6333
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

    Mặc định










  14. #6334
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

    Mặc định



    CHỦNG TỬ TỰ CỦA THỔ-ĐỊA | ĐỊA-THẦN; CHÍNH XÁC PHẢI LÀ: VĪḤ











    https://thegioivohinh.com/diendan/sh...B6%93-)/page46


    https://thegioivohinh.com/diendan/sh...B6%93-)/page46






    Last edited by phoquang; 08-02-2026 at 05:11 PM.

  15. #6335
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

    Mặc định



    CHÈ TÁO SOẠN / CHÈ TÁO XỌN
    = 𝐂𝐡𝐞̀ 𝐇𝐨𝐚 𝐂𝐚𝐮











    Chè táo xọn hay còn gọi chè bông cau, là một món chè thơm ngon, bổ dưỡng với cách làm cực kỳ đơn giản. Chỉ cần đường cát, đậu xanh và một chút nước cốt dừa, bạn đã có ngay bát chè táo xọn thơm ngon. Vậy chè táo xọn là đặc sản ở tỉnh thành nào nước ta? Cách chế biến chè táo xọn có phức tạp không?


    Chè táo xọn​ là đặc sản tại địa phương nào?

    Chè táo xọn, hay còn có tên gọi khác là chè hoa cau. Món chè này có nguồn gốc từ mảnh đất Cố đô Huế. Sở dĩ có tên gọi như vậy là bởi chè có phần bột sắn trong như màu hạt cườm, những hạt đỗ xanh vàng ươm như những bông hoa cau lững lờ trôi trên mặt hồ sớm mai. Tất cả gợi nên vẻ thanh tao, giản dị mà đầy hoài niệm.


    https://thegioivohinh.com/diendan/sh...B6%93-)/page85


    https://www.instagram.com/p/DOOSFUnAZTV/

    https://fptshop.com.vn/tin-tuc/dien-...tao-xon-165383





  16. #6336
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

    Mặc định


    Ngũ Nhạc là năm quả núi được coi là trấn giữ, phân định Trung Nguyên xưa, bao gồm:


    - Đông Nhạc, tức Thái Sơn (còn gọi là Đại Sơn), thuộc thành phố Thái An, tỉnh Sơn Đông.

    - Tây Nhạc, tức Hoa Sơn (còn gọi là Thái Hoa Sơn, Hoa Âm Sơn), thuộc tỉnh Thiểm Tây.

    - Bắc Nhạc, tức Hằng Sơn (còn gọi là Đại Mậu Sơn, Thường Sơn), thuộc tỉnh Hà Bắc.

    - Nam Nhạc, tức Hành Sơn (còn gọi Thiên Trụ Sơn, Hoắc Sơn, Hoàn Sơn, Tiềm Sơn), thuộc tỉnh An Huy.

    - Trung Nhạc, tức Tung Sơn, thuộc tỉnh Hà Nam.



    https://niemphat.net/Kinh/diatangkho...u_2.htm#_ftn23







  17. #6337
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

    Mặc định

    Thánh địa Quan Thế Âm tại tỉnh Lahaul-Spiti bang Himachal Pradesh


    GNO - Người Phật tử theo Đại thừa Mật giáo vùng Lhadak, Sikkhim, Bhutan, Ấn Độ, Tây Tạng cũng sùng kính không kém về thánh địa Garsha Phagpa nơi có tượng Đức Quan Thế Âm tự hiện!



    Trong khi những Phật tử Việt Nam chúng ta theo truyền thống Đại thừa bày tỏ lòng thành kính đến chùa Hương Tích, Can Lộc (Hà Tĩnh) và chùa Hương, Mỹ Đức (Hà Nội) nơi có hiện thân Đức Quan Âm Diệu Thiện tu thành chính quả; người Phật tử Đại thừa Trung Quốc sùng mộ về Phổ Đà Sơn nơi Quan Thế Âm Bồ-tát thị hiện nhiều lần độ rất nhiều thường dân và vua chúa… trong đó đáng kể nhất là độ vua Càn Long, thì người Phật tử theo Đại thừa Mật giáo vùng Lhadak, Sikkhim, Bhutan, Ấn Độ, Tây Tạng cũng sùng kính không kém về thánh địa Garsha Phagpa nơi có tượng Đức Quan Thế Âm tự hiện!

    Từ Delhi, bạn có thể đi chuyến xe bus lúc 5 - 6g chiều khởi hành tại chợ Majnu Katila - một khu chợ của người Tây Tạng và 5g sáng hôm sau bạn sẽ đến thành phố Manali, tỉnh Khullu, bang Himachal Pradesh, cách thủ đô khoảng 540km. Thành phố này có độ cao trên 3.000m so với mực nước biển và lạnh hơn nhiều so với Sa Pa hay Đà Lạt.

    Vào mùa hè, đặc biệt từ tháng 4 đến tháng 8 dương lịch, du khách từ các tỉnh thành trong toàn quốc Ấn Độ đổ xô về đây để tận hưởng không khí mát lạnh và trong lành cũng như phong cảnh nơi đây nên Manali thời điểm này vô cùng tấp nập và nhộn nhịp.

    Từ thành phố này, bạn có thể bắt xe taxi hoặc xe du lịch 16 chỗ để viếng thăm khu thánh địa linh thiêng của Đức Quan Thế Âm với tên tiếng Ấn là Triloknath, cách Manali 100km. Dọc cung đường này là vô số cảnh đẹp với những ngọn núi phủ tuyết trắng xóa hùng vĩ và chảy thành suối xuống dòng sông nước màu xanh rêu lượn lờ bên những vách núi sâu thăm thẳm đầy ấn tượng. Những ngôi làng trù phú nằm trên triền núi hoặc dọc theo bờ sông thật thơ mộng với rất nhiều cánh diều paragliding của du khách.

    Đoạn đường từ thành phố Manali đến Tandi dài 63km là cung đường hiện đại mới xây dựng, bạn cũng sẽ thưởng thức hầm chui qua núi nằm ở độ cao gần như nhất nhì trên thế giới với độ dài 9km, hầm chui này có lẽ dài hơn những hầm chui ở Tây Tạng qua cung đường đi Kailash mà tôi đã đi qua.

    Đến Tandi, bạn sẽ rẽ trái đi thị trấn Udaipur với cung đường nhỏ hẹp đầy nguy hiểm, và cách Udaipur 11km bạn sẽ rẽ trái đi Triloknath. Khoảng cách từ Tandi đến Triloknath khoảng 36km.

    Triloknath là trung tâm tâm linh của Lahaul, được các Phật tử quen gọi là Garsha Khandroling, nằm trong bộ ba thánh địa Drilbu Ri, Phakpa và Markul Devi. Những địa điểm này tạo thành thân khẩu ý Tam Kim Cương trong truyền thống Mật tông Kim cương thừa. Khái niệm Tam Kim Cương giống như các khái niệm tôn giáo phương Tây về hành động, lời nói và suy nghĩ chân chính.

    Ngọn núi Drilbu Ri nằm gần Keylong có liên hệ với Thượng Lạc Kim Cang, thân giác ngộ của Đức Phật. Đức Quan Thế Âm Phakpa ở Triloknath tượng trưng cho khẩu giác ngộ, và chùa Markul Devi ở Udaipur gắn liền với Đức Kim Cương Hợi Mẫu hay tâm giác ngộ. Drilbu Ri cách Triloknath khoảng 45km. Thông thường, các Phật tử hành hương sẽ đi nhiễu vòng quanh ngọn núi linh thiêng này trước khi đến viếng chùa của Đức Quan Thế Âm Phakpa. Tuy nhiên, vì nhân duyên với Đức Quan Thế Âm trong đời này nên tôi quyết định đi chùa của ngài trước.

    Nếu bạn tính hành hương vùng thánh địa này thì nên để dành ít nhất là ba ngày hai đêm để đi đảnh lễ trọn vẹn các chốn linh thiêng nơi đây. Ngày đầu bạn đi thánh địa Đức Quan Thế Âm, thánh địa Hợi Mẫu Kim Cương và ngủ đêm tại Keylong. Ngày thứ hai bạn sẽ đi nhiễu núi Drilbu Ri, tối ngủ lại tại Keylong (ở chùa hoặc guest house tùy ý bạn chọn). Tuy nhiên, để đi nhiễu Drilbu Ri bạn cần phải thuê một hướng dẫn viên địa phương thông thạo đường đi và mang giúp thực phẩm, dụng cụ cá nhân… tối thiểu. Hoặc bạn có thể chọn cách khác và thời gian hợp lý hơn.

    Trước cửa chùa Phakpa Quan Thế Âm là biểu tượng Lingga-Yogini của Hindu Ấn giáo. Nếu là tín đồ của Nyingma phái, bạn có thể cung kính như một biểu tượng của Hộ pháp Đại Tự Tại thiên Lhachen Wangchuk Chenpo vì ngài là một hóa thân của Quan Thế Âm Bồ-tát.

    Tại chùa Phakpa, bạn có thể đi nhiễu quanh chánh điện khi bước vào. Hành lang bên trong rộng rãi với nhũng kinh luân của Phật giáo Mật tông Kim cương thừa và bạn có thể quay để thọ nhận ân phước. Bên trong kinh luân là vô số câu thần chú sáu âm của Quán Thế Âm, Om Mani Padme Hum, được in trên các bản kinh và cuộn tròn cho vào trong kinh luân, việc trì tụng câu thần chú này sẽ kích hoạt các trạng thái tâm linh dẫn đến an định, tình yêu thương và giác ngộ. Bạn cũng sẽ trông thấy những bức tường đá bảo vệ thánh tượng được xây từ nhiều thế kỷ trước và nay đang được chính phủ bảo tồn.

    Bên trong chánh điện có một bức tượng Quan Thế Âm bằng đá cẩm thạch trắng, vị Bồ-tát của lòng đại bi, được cho là tự sinh kỳ diệu trên hồ Oma Tso và được tìm thấy bởi một người chăn cừu, sau đó người dân ở đây cung kính đặt ngài ở Triloknath và xây dựng chùa từ thế kỷ thứ VIII.

    Bức tượng vô cùng linh thiêng này là Quan Thế Âm Bồ-tát sáu tay. Trong Mật tông, ngài cũng được miêu tả phổ biến với nghìn tay, mười một đầu. Sự hiển lộ này xảy ra khi Đức Phật A Di Đà gia hộ khiến cho đầu và tay của Đức Quan Thế Âm nhân lên nhiều lần để ngài có thể nghe, thấy và giúp đỡ những chúng sinh đau khổ một cách dễ dàng. Đức Dalai Lama được coi là một hóa thân của Quan Thế Âm.

    Bức tượng này cũng được những người theo đạo Hindu tôn kính như thần Shiva. Trước tượng của Đức Quan Thế Âm có hai khe hẹp tạo bởi bức tường đá và trụ đá nâng đỡ mái chùa, những người hành hương thường cố gắng lách mình qua hai khe đá đó ba lần để bày tỏ sự hiếu thảo đối với hai đấng sinh thành.

    Điều này làm tôi thực sự cảm động, bởi Phật giáo vô cùng chú trọng hiếu đạo và nơi chốn linh thiêng này một lần nữa nhắc nhở những hành giả tu tập cầu nguyện đến Đức Quan Âm với pháp tu Lục tự Minh chú hãy thực tế quan tâm chăm sóc, cầu nguyện cho bố mẹ mình trước khi nghĩ đến cứu độ hữu tình chúng sinh trong sáu nẻo từng là cha mẹ mình nhiều đời kiếp!

    Sau khi viếng chùa Phakpa xong, bạn có thể đi lên thánh hồ Oma Tso, nơi bức tượng Quan Âm tự hiện, nước ở nơi đây có màu giống sữa nên gọi là Oma (tiếng Tạng Oma là sữa) . Các tín đồ Phật tử đa số đều uống nước ở đây vì họ cho rằng nước sữa này là cam lồ ban Phước rất lớn từ ngài Quan Thế Âm.

    Tuy nhiên, đoạn đường đi hiểm trở và nguy hiểm, khoảng 3-4 giờ đi bộ leo núi nên những ai sức khỏe kém hoặc có bệnh về tim mạch xương khớp thì không nên đi. Thay vào đó họ có thể nhờ người khác đem nước sữa về giúp. Hoặc họ có thể lấy nước sữa từ thác nước chảy xuống từ thánh hồ.

    Sau khi thăm thánh hồ Oma Tso xong, bạn sẽ quay về để đi viếng chùa của Hợi Mẫu Kim Cương - Markul Devi. Markul là tên địa phương nơi có thánh tích này và Devi là tên của Không Hành Mẫu Kali - một hóa thân của Hợi Mẫu Kim Cương.

    Trên đường đến chùa, bạn có thể thấy ngọn núi với rất nhiều rãnh đá đỏ đổ từ đỉnh núi phủ đầy tuyết chảy xuống giống như những dòng máu đỏ tuôn xuống. Cảnh tượng này chắc chắn sẽ gây ấn tượng sâu sắc đối với bạn vì nó khác biệt hoàn toàn với những ngọn núi khác. Và bạn sẽ lập tức nghĩ tưởng ngay đến người mẹ của bạn với tất cả những khó khăn gian khổ bà chịu đựng trong đời để cho bạn có một thân thể tráng kiện và cuộc đời tươi đẹp. Hợi Mẫu Kim Cương dường như lựa chọn vùng thánh địa này để ban phước cho những người Phật tử sùng kính nơi đây.

    Bên ngoài chùa Markul Devi là một ví dụ về kiến trúc Kashmiri thế kỷ thứ VIII ở Udaipur, Lahaul. Người Ấn Độ theo phong cách kiến trúc này từ thế kỷ thứ VIII ở Kashmir, mặc dù cấu trúc hiện tại là bản tái tạo từ thế kỷ thứ XI. Nó được bảo vệ bởi các nhà khảo cổ Ấn Độ, được coi là tòa nhà cuối cùng thuộc kiểu kiến trúc này tồn tại.

    Bên trong chùa Markul Devi trông không giống những gì bạn đã thấy ở những nơi khác. Hầu hết các kiến trúc từ thế kỷ XI - XII kiến trúc bằng đá và bùn được quét vôi trắng hoặc sơn với mái bằng cùng chất liệu, một số có lẽ được lợp bằng mái tranh nhưng Markul Devi được làm từ gỗ và đá với mái lợp ván gỗ có độ dốc cao.

    Nội thất cũng khác với những nội thất Ấn-Tạng. Chùa này là một ví dụ tuyệt vời về đồ gỗ mỹ nghệ Ấn Độ. Những mảnh gỗ đơn khối lớn được chạm khắc sâu tạo thành chín tấm trần công phu. Có một số cây cột được trang trí công phu, ô cửa sổ và mặt tiền được trang trí trong chánh điện. Các hình chạm khắc tinh xảo chủ yếu mô tả các hình tượng Ấn Độ giáo, nhưng cũng có những chi tiết liên quan đến Phật giáo, chẳng hạn như bức tranh về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và cảnh có thần Vishnu ba đầu. Ngôi đền nhỏ có bức tượng bạc của nữ thần Hindu Kali được người Tây Tạng tôn kính như là Đức Hợi Mẫu Kim Cương.

    Từ Tandi, bạn đi thêm 9km đến Keylong, để nhìn thấy Drilbu Ri. Đó là ba ngọn núi nằm trong một hệ thống dãy núi kéo dài hơn 15km trông thật hùng vĩ. Đây là Mandala thân của Đức Chakrasamvara - Thắng Lạc Kim Cương và sự gia trì là không thể nghĩ bàn.

    Những hành giả Mật giáo hoặc Phật tử truyền thống Kagyud đặc biệt là Drukpa Kagyud đều rất chú trọng đến thánh địa này bởi nơi đây có vô số đạo sư và Đại thành tựu giả tu tập như: Nagajuna-Long Thọ, Ghantapa, Gotsangpa, Orgyenpa... Tuy nhiên, thánh địa này chỉ cho phép đi nhiễu từ tháng 7, 8 dương lịch nên tôi chỉ ngắm nhìn đỉnh núi và đảnh lễ chư tôn cư ngụ nơi đây từ xa và nguyện cầu tương lai có dịp sẽ đến đây lần nữa để đi nhiễu Mandala linh thiêng này!

    Trên đường trở về lại Manali, bạn sẽ thăm đền Đức Tara biết nói tại làng Sisu, một ngôi làng hoàn toàn theo Phật giáo. Đền nằm giữa một ngọn núi cheo leo và được trông nom bởi một gia đình trưởng thôn trên vùng núi này. Bức tượng được cho là từ thời Atisha Tôn giả và được các thế hệ trong gia đình trưởng thôn thừa kế cho nhau. Tôi thắc mắc vì sao một bức tượng quý báu và linh thiêng như vậy lại không được đặt trang trọng trong một ngôi chùa hoặc xây dựng một nơi thờ khang trang mà chỉ được đặt trong một căn phòng bé nhỏ không tương xứng với sự linh thiêng và niên đại?

    Trên đường trở về, bạn sẽ thăm chùa Shelting Gonpa, nơi thờ bức tượng Palden Lhamo bằng đất sét rất linh thiêng được làm từ nhiều thế kỷ trước .

    Cách Manali 2km có một suối nước nóng linh thiêng từ hàng ngàn năm trước ở khu Vashisht. Con suối khoáng nóng và khu vực này mang tên vị hiền triết Ấn Độ giáo Vashisht tu luyện thành tựu nơi đây. Người dân ở đây và các nơi đến đây để tắm và cầu nguyện một cách thành kính để chữa bệnh. Bạn có thể trải nghiệm điều này nhưng riêng cá nhân tôi cảm thấy ứng nghiệm thật sự.

    Tại Ấn Độ, ngoài những thánh địa của Đấng Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật còn có rất nhiều các thánh địa khác liên quan đến chư Bồ-tát và chư A-la-hán. Bài viết này, tôi mạn phép giới thiệu sơ qua với các bạn con đường hành hương đến thánh địa Đức Quan Thế Âm và các thánh tích lân cận.

    Nếu các bạn muốn tích lũy công đức và tìm hiểu thêm về một trong những thánh địa linh thiêng tại Ấn Độ, bạn có thể đến đây vào mùa hè. Bạn sẽ có cơ duyên để tịnh hóa những ác nghiệp của thân khẩu ý và học cách chuyển hóa chúng thành Tam Kim Cương giống như chư Phật theo con đường của Mật chú Kim cương thừa hoặc tối thiểu bạn cũng có một chuyến du lịch đến xứ lạnh và trải nghiệm thú vị!

    Lama Trí Không/Báo Giác Ngộ



    https://giacngo.vn/thanh-dia-quan-th...post67491.html




  18. #6338
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

  19. #6339
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

  20. #6340
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,237

    Mặc định


    Trước ngày tết người Quảng Đông thay mới sành hùng (tú cầu)cấm fá (kim huê) trên các bàn thờ.






Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. TẠI SAO CÁC NƯỚC CÓ BÙA CHÚ PHÁP THUẬT CAO TRONG QUÁ KHỨ ĐẢ BỊ THUA KHI C
    By ÁNH SÁNG -T2- ÚC CHÂU in forum Thế Giới Bùa Ngải
    Trả lời: 41
    Bài mới gởi: 29-03-2017, 11:59 PM
  2. Đàm đạo các vấn đề pháp thuật & đạo thuật trong bíkiếp ThấtBộ TrầnKỹ
    By ÁNH SÁNG -T2- ÚC CHÂU in forum Đạo Giáo ( Lão giáo, Khổng giáo, Nho giáo )
    Trả lời: 242
    Bài mới gởi: 11-03-2011, 08:54 AM
  3. Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 30-08-2010, 10:32 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •