PHỤC LỤC

Đại cương cấu trúc của Điểm Kim Cương Thứ Ba

Giáo lý sơ bộ

Các pháp sơ bộ bên ngoài và riêng biệt
Các pháp sơ bộ cao cấp
Lợi ích của các pháp sơ bộ

Giáo lý chính

Một trình bày ngắn gọn
Trình bày chi tiết
Tập trung vào hỷ lạc
Tập trung vào tính sáng
Tập trung vào vô niệm

Kế thúc giáo lý: hướng dẫn hỗ trợ tiến hành các thực hành chính.

Những kinh nghiệm sai lệch về hỷ lạc, sáng tỏ, vô niệm
Tăng cường hỷ lạc, sáng tỏ, vô niệm
Sửa chữa các kinh nghiệm sai lệch

Bởi những hành giả thượng căn

Bởi những hành giả trung căn

Phương pháp chung
Phương pháp đặc biệt
Sửa chữa hỷ lạc sai lệch
Sửa chữa tính sáng sai lệch
Sửa chữa vô niệm sai lệch

Kết luận


Bởi hành giả hạ căn

Tư thế thân thể và cách nhìn chăm chú
Yếu tố vật chất
Kết nối tốt lành
Sự tăng cường của hỷ lạc, sáng tỏ và vô niệm
Hướng dẫn chung
Hướng dẫn cụ thể
Tăng cường hỷ lạc
Tăng cường sáng tỏ
Tăng cường vô niệm
Đạt được chứng ngộ

Kết luận

GHI CHÚ

Các chữ viết tắt

GP (General Presentaiton): Longchen Rabjam, Đại Dương Chú Giải Tao Nhã, một bản trình bày chung, trong Ngal gso skor gsum.
TPQ (Treasury of Preciuos Quality), quyển 1: Jigme Lingpa và Longchen Yeshe Dorje, Kangyur Rinpoche, Kho Tàng Những Phẩm Tính Quý Giá, do nhóm Padmakara dịch (Boston Shambhala Publication, 2010).
TPQ (Treasury of Preciuos Quality), quyển 2: Jigme Lingpa và Longchen Yeshe Dorje, Kangyur Rinpoche, Kho Tàng Những Phẩm Tính Quý Giá, do nhóm Padmakara dịch (Boston Shambhala Publication, 2013).
WB (Way of Boddhisattva): Shantideva, Con đường Bồ Tát, bản dịch của Boddhicharyavatara, dịch bởi nhóm Padmakara, bản chỉnh sửa (Boston Shambhala Publication, 2006).
----------------
1. bSam gtan ngal gso.
2. Sems nyid ngal gso.
3. Ngal gso skor gsum.
4. Respectively, shing rta, phreng ba, and don khrid.
5. sPyi don legs bshad rgya mtsho.
6. Shing rta chen po.
7. Shing rta rnam par dag pa.
8. sGyu ma ngal gso. Thừa Thanh Tịnh Siêu Việt, trong lời bình cho khổ thơ 23 ám chỉ rõ ràng đến Thừa Xuất Chúng (Shing rta bzang po).
9. ’Jig rten pa’i bsam gtan rtog med rang gsal gyi ting nge ’dzin khams gsum pa’i sems kyi spyod yul can. GP, p. 97.
10. ’Jig rten las ’das pa’i bsam gtan gyi ngal stegs shes rab dang ting nge ’dzin zung ’brel khyad par can gyi zhi lhag sgom pa. Ibid.
11. Dus bzhi rnal ’byor gyi sgrub pa zab mo.
12. Man ngag lta ba’i rdzong phreng. Chúng tôi không thể tìm thấy văn bản này, rõ ràng là hơi khác so với văn bản tôn vinh nổi tiếng hơn của đạo sư Liên Hoa Sinh có tựa đề Tràng Hoa của Cái Thấy (Man ngag lta ba’i phreng ba).
13. Để có cái nhìn đầy đủ về chủ đề phức tạp này, xem TPQ q1, trang 284-316.
14. rang bzhin rdzogs pa chen po: trong cách diễn đạt này, thuật ngữ “tự nhiên” (rang bzhin) ám chỉ thực tế là “khuôn mặt” hay “sự giống nhau” (bzhin) của thực tại tối hậu được thể hiện chính xác như nó vốn có mà không có bất cứ sự chỉnh sửa hay chế định nào.
15. Ở tầm mức tối thượng, Prajanaparamita và Đại Toàn Thiện là như nhau. Tuy nhiên, có một khác biệt đáng kể trong cách chúng xác lập nền tảng, cũng như trong các thực hành thiền định liên quan. Xem TPQ, q2, trang 436-454.
16. Đây là những gì người Tây Tạng thực sự nói. Thực tế nó có vẻ mâu thuẫn với mô tả trước đó cho thấy một lỗi của người ghi chép.
17. Xem ghi chú 12.
18. Diễn tả này không có nghĩa là vô hạn thực sự. Nó biểu thị một khoảng thời gian trôi qua, được Vasubhandu định nghĩa trong Abhidarmakosa của ông là 1058 kiếp. Một kiếp là một khoảng thời gian bao gồm sự hình thành, tồn tại và hoại diệt của một hệ thống vũ trụ cùng với một khoảng thời gian trống rỗng trước khi hình thành một vũ trụ tiếp theo.
19. dag mnyam dkyil ’khor gcig: ám chỉ hai chân lý tối hậu của mật tông. Theo chân lý rốt ráo tương đối, mọi hiện tượng đều thanh tịnh khi là sự biểu hiện của các thân và các trí. Theo chân lý rốt ráo tuyệt đối, bản tính tột cùng của các hiện tượng là “bảy sự tráng lệ của chư như lai”. Xem TPQ, q2, trang 341.
20. Về mô tả năm con đường Đại Thừa, xem TPQ, q1, trang 391-92.
21. Người Tây Tạng nói về sáu nguyên tắc này như sau: (1) rang ldog ma ’dres, (2) dgag dgos yongs rdzogs, (3) ngo bo gnas ’gyur, (4) yon tan yar ldan, (5) gnad kyis mi ’gal, và (6) dus skabs kyi gtso bor ’gyur bya ba.
22. Mỗi một trong ba giới nguyện đều giữ lại các đặc điểm riêng của mình ở chỗ thẩm quyền từ người mà hành giả thọ giới, thái độ mà hành giả thọ giới và các nghi lễ được sử dụng đều khác nhau.
23. Tất cả đều có cùng mục đích, đó là giải thoát tâm trí. Xem TPQ, q1, trang 297.
24. Văn bản đọc là thams cad log la mkhar rtsigs, có lẽ là lỗi của người chép. Khenchen Pema Sherab đã sửa lại thành thams cad long la mkhar rtsigs.
25. dngos po.
26. Có hai loại thực hành trong truyền thống mật tông. Thứ nhất, có thiền định theo con đường giải thoát (grol lam), thứ hai, có thiền định theo con đường phương tiện thiện xảo (thabs lam). Ngắn gọn, con đường giải thoát nhấn mạnh đến ba loại trí tuệ (xuất phát từ việc lắng nghe, suy ngẫm và thiền về giáo lý). Nhờ phương tiện này mà đạt được tính chắc chắn trong quan điểm mật tông, và áp dụng vào việc thực hành giai đoạn phát sinh. Mặt khác, con đường của phương tiện thiện xảo nhấn mạnh phương pháp và bao gồm các thực hành liên quan đến, trong số những thứ khác, các kinh mạch, năng lượng khí, và giọt tinh túy, nhờ đó trí tuệ nguyên thủy nộ tại nhanh chóng phát sinh.
27. Như được kể rằng sau thời kỳ đàn áp giáo lý Phật bởi vua Lãng đạt ma, một vị thầy được gọi là Hồng Sư và một vị khác có tên là Thanh Bào Học Giả đã từ Ấn Độ đến Tây Tạng tuyền bá các hoạt động liên quan đến những cuộc truy hoan công cộng và giết chóc. Nhiều người Tây Tạng đã bị dẫn đi lạc lối.
28. Ba trong bốn yếu tố đen còn lại là khiến cho mọi người hối hận về những điều không nên hối hận, nói năng với các bậc thánh bằng những lời gắt gỏng, khó nghe, và đối xử với chúng sinh bằng tính xảo quyệt, lừa dối.
29. Nghĩa là bản tự bình luận cho Tìm Nghỉ Ngơi trong Bản Tính của Tâm Trí.
30. Xem lời đức Liên Hoa Sinh được trích dẫn trong TPQ, q2, trang 208.

Đại Vương, trong giáo lý mật tông của tôi, cái thấy được điều hướng tới pháp thân, nhưng hành vi thì hòa hợp với con đường của Bồ Tát. Đừng để hành vi của ngài bị lạc trong cái thấy. Nếu vậy, ngài sẽ không hiểu được thiện hạnh hay tội lỗi, và ngài sẽ không thể sửa chữa những tiêu cực của mình sau này. Mặt khác, nếu cái thấy của ngài đi theo và đồng hành với hành vi của mình, ngài sẽ bị trói buộc bởi sự vật và các thuộc tính của chúng, và sự giải thoát sẽ tránh xa ngài. Giáo lý mật tông của tôi chủ yếu tập trung vào tâm trí; cái thấy là điều quan trọng nhất. Trong tương lai, nhiều người sẽ có sự xác thực về lời nói nhưng sẽ không có sự chắc chắn về cái thấy, và họ sẽ đi đến các cõi thấp hơn.


31. Xem WB, chương 5, câu 23.
32. như trên, chương 9, câu 151, 152, và 154.
33. như trên, chương 8, câu 22.
34. như trên, chương 4, câu 17.
35. như trên, chương 2, câu 57.
36. như trên, chương 7, câu 14.
37. như trên, chương 1, câu 4–6.
38. Xem TPQ, q 1, trang 391.
39. Giải thích về các mạch, khí và giọt, xem TPQ, q2, trang 155-164.
40. Giải thích về ý nghĩa từ nguyên của tâm giác ngộ hay bồ đề tâm, xem TPQ, q2, trang 236.
41. Hoan Hỷ Địa là cấp đầu tiên của Bồ Tát, hay địa.
42. Văn bản nên đọc ở đây: lha yi rnam pa’i gzugs kyis ni/ /bzhin lag kha dog gnas pa ni/ /skyes pa tsam gyis rnam par gnas/ /’on kyang bag chags phal pas so/ /
43. WB, chương 5, câu 16.
44. Thân cây này có đường kính bằng một đồng xu nhỏ.
45. Đây là đường thẳng đứng của chữ A trong tiếng Tây Tạng, nhọn ở phần dưới và mở rộng về phía trên. Trong bối cảnh hiện tại, nó được hình dung theo hướng ngược lại, tức là phần nhọn ở trên cùng.
46. khams dangs ma: Đây là từ đồng nghĩa của “giọt tinh hoa” (thig le)
47. Để biết thông tin chi tiết về những phẩm chất giác ngộ này, xem TPQ, q1, trang 387-89.
48. Không rõ thứ tự đọc âm tiết HA và quán tưởng về sự soi chiếu của quả cầu ánh sáng (hay chữ A) diễn ra như thế nào. Trong cả bản gốc và chú giải, chúng tôi đã dịch chính xác những gì Longchenpa nói.
49. gnyen po las gyur pa lnga: theo Khenchen Pema Sherab, “pháp đối trị” (gnyen po) ở đây nên được hiểu là một phẩm chất tốt (hỷ lạc) bị làm hỏng bởi năm thái độ này.
50. sgyu ma: thuật ngữ Tây Tạng này luôn được hiểu theo nghĩa là “ảo ảnh huyễn thuật”, tức là một hình dạng giả tạo do ảo thuật tạo ra trên cơ sở các chất liệu không liên quan đến hình dạng giả ảo (ví dụ trên cơ sở một hòn đá và một cành cây, nhà ảo thuật tạo ra hình dạng một con voi). Nó được phân biệt với loại hình dạng giả tạo phát sinh thông qua nhận thức sai lầm trên cơ sở các vật thể có một vài điểm giống với đối tượng ảo tưởng. Ví dụ, từ một góc độ nhất định và dưới một ánh sáng nhất định, một khối đá có thể trông giống như một người đàn ông.
51. rang bzhin gyu ma: như đã giải thích trong Thừa Xuất Chúng, bản tự bình luận cho Tìm Nghỉ Ngơi trong Tính Huyễn Ảo, cách diễn đạt này ám chỉ bản tính sáng ngời của tâm trí, phật tính, là nền tảng của tính thanh tịnh.
52. Xem chú thích 45.
53. Theo Dilgo Khyentse Rinpoche, khí trung tính tương ứng với khí đi kèm lửa, khí bao trùm toàn thể và khí hỗ trợ sự sống, tất cả đều được tập hợp lại và giữ trong hơi thở bình. Ngược lại, khi di cuhyeern lên trên có đặc tính nam, khí hướng xuống có đặc tính nữ. Xem TPQ, q2, trang 161, 431 và 288.
54. Tức là mỡ người.
55. Xem TPQ, q2, trang 162.
56. Chúng tôi không thể tìm thấy văn bản này trong phiên bản hiện tại của Sutralamkara.
57. Xem TPQ, q2, trang 162.
58. Điều này có nghĩa tính giác thoát khỏi tính nhị nguyên của sự phân biệt chủ thể và đối tượng. Cái nhìn và cái được nhìn thấy là cùng một trí tuệ nguyên thủy, hay tính giác.
59. Trích dẫn này theo truyền thống được hiểu là ám chỉ đến ba lần quay bánh xe Pháp. Trong lần quay đầu tiên (các giáo lý, ví dụ, bốn sự thật cao cả, chuỗi mười hai sự phát sinh tương thuộc, vân vân) các hiện tượng (ở đây là tâm trí) được khẳng định. Trong lần quay thứ hai (giáo lý về Bát nhã ba la mật, tức là tính không), sự tồn tại chân thực của các hiện tượng bị phủ nhận (tâm trí không tồn tại). Trong lần quay thứ ba (giáo lý về Phật tính), bản tính sáng ngời của tâm thức được khẳng định.
60. Pramanaviniscaya (Tshad ma rnam par nges pa): Lương Quyết Định Luận. Đây là một trong bảy tác phẩm vĩ đại của Pháp Xứng về kiến thức xác thực. (tshad ma sde bdun).
61. Hai hình thứ thiền mở ra cho hành giả: thiền khát vọng (mos sgom) và thiền “thực sự hoàn hảo” (lam nges rdzogs). Trong trường hợp đầu tiên, khi hành giả không quen với việc thực hành quán tưởng bản thân như một vị thần, và anh ta nghĩ rằng: “Mình là vị thần” hoặc “vị thần giống như thế này hoặc thế kia”, thì cùng một vị thần này xuất hiện trong tâm trí người đó theo cách khái niệm, giống như bất cứ ý tưởng trừu tượng nào khác. Điều này được gọi là sự biểu lộ của vị thần dưới dạng một đối tượng hoặc hình ảnh trong tâm trí.
62. rang nyid yin gyis gzhan du ma tshol cig: dòng này có trong văn bản của Vua Sáng Tạo Toàn Thể, bị bỏ sót trong trích dẫn của Longchenpa. Nó được khôi phục lại ở đây để làm sáng tỏ ý nghĩa.
63. Longchenpa chỉ trích dẫn dòng đầu tiên và dòng thứ tư của khổ thở này. Toàn bộ khổ thơ (Sutralamkara, x, 65) được cung cấp trong bản dịch để làm rõ nghĩa.
64. Một số tên của Longchenpa được đưa vào trong cách diễn đạt của khổ thơ này: tshul khrims blo gros (trí tuệ của kỷ luật), dri med’ od zer (các tia sáng vô nhiễm), klong chen rab ‘byams (không gian bao trùm toàn thể).

(Hết Sách)